|
UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Số: 63/2002/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- thành phố Đà Nẵng, ngày 13 tháng 05 năm 2002 |
QUYẾT ĐỊNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
"V/v Phê duyệt Chương trình cải cách hành chính Nhà nước của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2002-2005"
________________________
UỶ BAN NHÂN DÂN
- Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (sửa đổi) ngày 21 tháng 6 năm 1994;
- Căn cứ Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình tổng thể Cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001-2010;
- Theo đề nghị của Trưởng ban Ban tổ chức chính quyền thành phố,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Phê duyệt Chương trình Cải cách hành chính Nhà nước thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2002-2005.
Điều 2: Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3: Chánh Văn phòng HĐND và UBND thành phố, Trưởng ban Ban Tổ chức chính quyền thành phố, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan căn cứ Quyết định thi hành./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
NGUYỄN BÁ THANH
CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC THÀNH PHỐĐÀ NẴNGGIAI ĐOẠN 2002-2005
(Ban hành kèm theo Quyết định số 63/2002/QĐ-UB ngày 13tháng 5 năm 2002 của UBND thành phố Đà Nẵng)
________________________
I. THỰC TRẠNG VIỆC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG THỜI GIAN QUA:
Thực hiện Nghị quyết Đại Hội VII, Nghị quyết Trung ương 8 (Khoá VII), Nghị quyết Đại Hội VIII và Quyết định số 207/1999/QĐ-TTg ngày 25 tháng 10 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ, thành phố Đà Nẵng đã xây dựng kế hoạch triển khai công tác Cải cách hành chính. Bước đầu đã đạt được một số kết quả nhất định, cụ thể là:
- Bộ máy cơ quan chuyên môn của thành phố Đà Nẵng và các quận, huyện được sáp xép theo hướng tinh gọn, quản lý đa ngành, hiệu lực quản lý Nhà nước được nâng cao;
- Từng bước tiến hành rà soát, xác định chức năng nhiệm vụ các cơ quan chuyên môn, các đơn vị sự nghiệp. Giải thể một số Ban Chỉ đạo, Hội đồng tư vấn và chuyển chức năng, nhiệm vụ đó về cho sở chuyên ngành đảm nhận;
- Tiến hành rà soát lại các văn bản pháp quy, hủy bỏ những văn bản không còn phù hợp, trái với quy định pháp luật;
- Việc tuyển dụng, quản lý, sử dụng công chức được đổi mới theo quy định của Pháp lệnh cán bộ, công chức từ các khâu thi tuyển đên việc tuyển dụng, bổ nhiệm, thi nâng ngạch... Bên cạnh đó, thành phố cũng đã chú trọng đến việc thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực tài giỏi để bổ sung cho đội ngũ cán bộ, công chức thành phố;
- Việc tinh giản biên chế đã và đang triển khai thông qua chế độ đãi ngộ của UBND thành phố về khuyến khích nghỉ hưu trước tuổi;
Đặc biệt, công tác cải cách thủ tục hành chính theo mô hình "Một cửa" đã được tiến hành đều khắp ở các cơ quan Nhà nước trên toàn địa bàn thành phố và bước đầu đã có những kết quả đáng khích lệ, được nhân dân đồng tình ủng hộ. Những lĩnh vực hành chính về nhà đất, xây dựng, cấp phép kinh doanh, đầu tư, công chứng, hộ tịch, điện, nước... đã có những tiên bộ và thay đổi rõ nét.
* Nguyên nhân đạtđược:
- Có sự lãnh đạo của Thành uỷ thể hiện cụ thể trong các chương trình công tác, đồng thời có sự quyết tâm cao của lãnh đạo các cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp.
- UBND thành phố đã chọn đúng mục tiêu và có những bước đi thích hợp đồng thời chỉ đạo kiên quyết để có sự thống nhất giữa từng cơ quan, đơn vị, giữa các ngành, có đầu tư kinh phí phương tiện làm việc lẫn nhân lực trong lĩnh vực này.
- Ban Chỉ đạo Cải cách hành chính thành phố và các cấp đã được kiện toàn, củng cố, có kế hoạch tham mưu và có những biện pháp, bước đi cụ thể để tiến hành chỉ đạo công tác cái cách hành chính.
- Nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức nhất là những cán bộ lãnh đạo đã có những chuyên biến nhất định. Do đó, trong lãnh đạo, chỉ đạo có sự quyết tâm và tinh thần trách nhiệm cao.
Tuy nhiên, việc triển khai các nhiệm vụ về cải cách hành chính vẫn còn chậm, thiếu đồng bộ, hiệu quả chưa đạt như mong muốn:
- Một số cơ quan, đơn vị chưa xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của mình đặc biệt trong công tác quản lý Nhà nước, chưa phát huy vai trò tham mưu;
- Công tác cán bộ chưa được đổi mới một cách căn bản, còn thiếu mạnh dạn trong việc luân chuyển, thay thế, trẻ hoá cán bộ. Công tác quy hoạch cán bộ mới chỉ dừng lại ở các chức danh cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý chủ chốt. Trình độ chuyên môn, kỹ năng hành chính của nhiều cán bộ, công chức còn hạn chế, vẫn còn tệ cửa quyền, nhũng nhiễu của một số ít cán bộ, công chức, những thủ tục gây phiền hà cho nhân dân, gây trở ngại cho việc sản xuất kinh doanh.
* Nguyên nhân của những tồn tại:
- Nguyên nhân của những tồn tại trong Cải cách hành chính có nhiều, song chủ yếu là do nhận thức của các cấp, các ngành chưa thực sự đầy đủ về ý nghĩa và tác động của công cuộc cải cách hành chính đối với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đát nước. Vì vậy, trong chỉ đạo và thực hiện có nơi, có lúc còn thiếu quyết tâm cao.
- Nguyên nhân cơ bản nhất trong các nguyên nhân của những tồn tại trong lĩnh vực Cải cách hành chính là ở con người và chính sách đối với con người, đội ngũ cán bộ, công chức có ảnh hưởng rất lớn đen tư tưởng, thói quen, nếp nghĩ, lề lối làm việc... Năng lực chuyên môn, kỹ năng hành chính của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được với nhu cầu và đòi hỏi thực tiễn. Bên cạnh đó, các chế độ, chính sách về tiền lương cho cán bộ, công chức vẫn còn nhiều điều chưa phù hợp với thực tế xã hội. Do đó, chưa tạo được một động lực mạnh mẽ để thúc đẩy sự phát triển của nền hành chính được cải cách.
II. MỤC TIÊU YÊU CẦU CỦA CHƯƠNG TRÌNH:
Mục tiêu chung của Chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2002-2005 của thành phố Đà Nẵng là:
- Xây dựng nền hành chính địa phương thực sự là nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có pham chất và năng lực đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính hiện nay.
- Yêu cầu chung cần phải đạt được là phải kiện toàn, sắp xếp các cơ quan Nhà nước thật tinh gọn, thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ đã được quy định, điều hành thống nhất và có hiệu quả.
- Củng cố các cơ quan chuyên môn để làm tốt chức năng tham mưu và đủ sức quản lý, giải quyết kịp thời, đúng thẩm quyền về công tác Quản lý Nhà nước trên địa bàn thành phố. Tiến hành tinh giản biên chế, tạo chuyển biến mới và năng động hơn nữa về cải cách thủ tục hành chính, tăng cường trật tự kỷ cương trong quản lý Nhà nước. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức vững mạnh, ngăn chặn và đẩy lùi tệ quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu của cán bộ, công chức Nhà nước trong khi thi hành công vụ.
III. NỘI DUNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2002-2005 VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
Để thực hiện tốt những yêu cầu nêu trên, chương trình công tác cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2002-2005 của UBND thành phố tập trung vào những điểm sau:
1. Triển khai thực hiện Đề án sắp xếp tổ chức, bộ máy và tinh giản biên chế theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành trung ương Đảng (Khoá VIII). Tiếp tục rà soát chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị không để chồng chéo.
Thực hiện chuyển một số đơn vị sự nghiệp có thu sang cơ chế tự trang trải, đẩy mạnh công tác xã hội hoá trên một số lĩnh vực: Y tế, văn hoá, giáo dục, thể dục- Thể thao.
+ Thời gian thực hiện:2002-2005
+ Cơquan chủ trì:Ban Tổ chức chính quyền thành phố.
Thực hiện tinh giản biên chế theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng ( khoá VIII) và các chính sách tinh giản biên chế theo Nghị quyết số 16/2000/NQ-CP của Chính phủ, đảm bảo số lượng đã được Ban Chỉ đạo cải cách hành chính Chính phủ phê duyệt.
Tiến hành thực hiện thí điểm khoán biên chế và chi phí hành chính ở 3 đơn vị: Sở Xây dựng, Sở Du lịch và UBND quận Hải Châu trong 3 năm (2002-2004). Rút kinh nghiệm để nhân rộng ra ở các đơn vị khác.
+ Thời gian thực hiện:2002-2005, chia làm hai giai đoạn: 2002-2003; 2003-2005
+ Cơquan chủ trì:Ban Tổ chức chính quyền thành phố và Sở Tài chính-Vật giá.
2. Đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính theo mô hình "một cửa" ở tất cả các cơ quan Nhà nước trong đó chú ý một số lĩnh vực như: thu hút đầu tư, cấp giấy phép xuất nhập khẩu, cấp phép kinh doanh, xây dựng, địa chính- nhà đất, công chứng, hộ tịch, cấp nước, điện lực, bảo hiểm xã hội... Việc cải cách thủ tục hành chính nhằm giải quyết công việc cho công dân, tổ chức được thuận tiện, nhanh chóng và đảm bảo đúng pháp luật đồng thời đảm bảo hiệu lực quản lý Nhà nước, giữ vững kỷ cương phép nước. Một số cơ quan, đơn vị đều phải thống nhất xử lý công việc theo một quy trình chung và không được tự tiện đặt ra các thủ tục hành chính trái với quy định gây thêm khó khăn, phiền hà cho công dân, tổ chức.
+ Thời gian thực hiện:2001-2005
+ Cơ quan chủ trì:Ban tổ chức chính quyền, Sở Tư pháp và Văn phòng HĐND và UBND thành phố.
3. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở xã, phường; trong hoạt động cơ quan và Doanh nghiệp Nhà nước, xem đây là một trong những nội dung và những giải pháp thực hiện cải cách hành chính. Kiện toàn, củng cố Phòng tiếp dân ở từng cơ quan, đơn vị. Thủ trưởng cơ quan trực tiếp và định kỳ tổ chức việc tiếp dân, giải quyết kịp thời các thác mắc khiếu kiện của công dân theo đúng pháp luật.
+ Thời gian thực hiện:2001-2005
+ Cơ quan chủ trì:Ban Tổ chức chính quyền thành phố.
4. Tiếp tục cải tiến sự chỉ đạo điều hành của UBND thành phố với các Sở, ban, ngành và UBND các quận, huyện. Kiên quyết giảm hội họp, giảm giấy tờ hành chính. Từng bước hình thành phong cách làm việc khoa học trong cơ quan hành chính. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện các sai sót, khiếm khuyết đễ có biện pháp khắc phục, sửa chữa kịp thời, giữ nguyên kỷ cương, kỷ luật hành chính.
+ Thời gian thực hiện:2002-2005.
+ Cơ quan chủ trì:Văn phòng HĐND và UBND thành phố.
5. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức. Xây dựng hệ thống dữ liệu về cán bộ, công chức để tiến tới việc quản lý cán bộ, công chức bằng hệ thống tin học ở cơ quan hành chính Nhà nước. Bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức phù hợp với ngành, nghề được đào tạo, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, cải tiến nội dung và phương pháp thi tuyển công chức nhằm thực sự đưa vào đội ngũ này đảm bảo là những người có đức, có tay nghề vững vàng. Chú ý đến việc bồi dưỡng, đào tạo cán bộ dự nguồn.
+ Thời gian thực hiện:2001-2005
+ Cơquan chủ trì:Ban Tổ chức chính quyền thành phố.
6. Đẩy mạnh tiến độ thực hiện Tin học hoá Quản lý nhà nước ở thành phố Đà Nẵng. Trong đó, đặc biệt chú trọng đen công tác đào tạo với các đối tượng bao gồm các cấp lãnh đạo, cán bộ phụ trách về công nghệ thông tin tại các cơ quan, đơn vị, cán bộ kỹ thuật chuyên ngành công nghệ thông tin và cán bộ nghiệp vụ trong bộ máy quản lý. Từ đó tiến tới thực hiện Chương trình Tin học hoá các quy trình phục vụ nhân dân trong các lĩnh vực dịch vụ công, nâng cao năng lực của cơ quan hành chính Nhà nước trong việc cung cấp các dịch vụ công cho nhân dân và doanh nghiệp được thuận tiện và chất lượng.
+ Thời gian thực hiện:2001-2005.
+ Cơ quan chủ trì:Văn phòng HĐND và UBND thành phố.
IV. TRÁCH NHIỆM TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 2002-2005.
1. Chủ tịch UBND thành phố chỉ đạo chung việc triển khai thực hiện Chương trình cải cách hành chính Nhà nước của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2002-2005.
2. Ban Chỉ đạo Cải cách hành chính thành phố giúp UBND thành phố chỉ đạo, hướng dẫn các ngành, các cấp trên địa bàn thành phố triển khai chương trình này.
3. Các cơ quan được giao chủ trì xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể Chương trình Cải cách hành chính Nhà nước của thành phố trình UBND thành phố để phê duyệt thực hiện.
4. Ban tổ chức chính quyền thành phố phối hợp với Văn phòng HĐND và UBND có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc tiến độ thực hiện và định kỳ báo cáo kết quả thực hiện với UBND thành phố.