Quay lại

Quyết định 63/2004/QĐ-UB về việc phê duyệt Rà soát quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai đến năm 2010

UBND TỈNH GIA LAI
-------

Số: 63/2004/QĐ-UB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Gia Lai, ngày 08 tháng 06 năm 2004

QUYẾT ĐỊNH

CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

Về việc phê duyệt Rà soát quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai đến năm 2010

________________________

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003;

- Xét Bản Rà soát quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai đến năm 2010 do Viện chiến lược phát triển - Bộ Kế hoạch & Đầu tư phối hợp với Sở Kế hoạch & Đầu tư tỉnh lập;

- Xét đề nghị của Giám đốc Sở Kế hoạch & Đầu tư tại tờ trình số 193/TT-KH ngày 07 tháng 6 năm 2004,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Phê duyệt Rà soát quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai đến năm 2010, với những nội dung chủ yếu sau:

I/ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU

1. Mục tiêu dài hạn
- Giảm dần khoảng cách về GDP/người so với mức trung bình của cả nước là mục tiêu trung tâm, cơ bản để phấn đấu.
- Xây dựng nền kinh tế hàng hoá có quy mô lớn và chất lượng cao. Tạo được những tiền đề cho các giai đoạn sau có cơ sở phát triển nhanh và bền vững. Xây dựng những cơ sở công nghiệp then chốt; những vùng nông, lâm sản nguyên liệu cung cấp ổn định nguyên liệu cho công nghiệp chế biến; kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội.
- Thúc đẩy quá trình hình thành các đô thị có trình độ văn minh để hội nhập với sự phát triển chung của vùng và cả nước. Đồng thời, chú trọng đầu tư xây dựng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, hạn chế tình trạng chênh lệch quá bất hợp lý về phát triển sản xuất và đời sống giữa các vùng, các tầng lớp dân cư, tạo cơ sở kinh tế để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc và ổn định chính trị xã hội.
- Môi trường sinh thái được bảo vệ.
- Quốc phòng được củng cố, phát triển, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được củng cố, giữ vững.

2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2010

2. 1/. Về kinh tế-xã hội:
Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, từng bước thu hẹp khoảng cách về GDP bình quân đầu người so với mức trung bình của cả nước. Phấn đấu mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm từ 12% trở lên trong giai đoạn 2001-2010; GDP bình quân đầu người đến năm 2005 gấp 1,52 lần, đến năm 2010 gấp 2,4 lần so với năm 2000 và gần bằng 63,4% so với mức trung bình của cả nước. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng của công nghiệp-xây dựng, dịch vụ, đến năm 2010: NLN 42%, CN-XD: 31,7%, DV: 26,3%.
Tỉ lệ huy động ngân sách từ GDP bình quân cả thời kỳ 2001-2010 đạt khoảng 13% năm, trong đó giai đoạn 2001-2005 đạt 10-11%, giai đoạn 2006-2010 khoảng 2- 14%, tăng khả năng tự cân đối của ngân sách địa phương. Thực hiện tiết kiệm chi, tăng chi cho đầu tư phát triển.
Tăng nhanh nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, tập trung nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Tiếp tục mở rộng, nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng, đặc biệt chú ý tới kết cấu hạ tầng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Phấn đấu đạt tỉ lệ tích luỹ cho đầu tư từ GDP bình quân cả thời kỳ 2001-2010 đạt khoảng 12-14% năm, trong đó thời kỳ 2001 -2005 khoảng 10- 11%, thời kỳ 2006-2010 khoảng 13 - 15%.
Giá trị xuất khẩu đến năm 2005 đạt khoảng 70 triệu USD và năm 2010 đạt khoảng 160 triệu USD. Tạo môi trường thuận lợi và ổn định cho các thành phần kinh tế hợp tác cạnh tranh cùng phát triển trong khuôn khổ pháp luật.
Bằng mọi nguồn vốn và nhiều hình thức đầu tư để tạo thêm nhiều việc làm mới, phấn đấu hàng năm tạo việc làm mới cho khoảng 1,7 vạn lao động.
Cơ bản xoá hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn dưới 7% năm 2010; giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 30% năm 2010; cải thiện đáng kể điều kiện ở, học hành, chăm sóc sức khoẻ đi lại và tìm bước nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân, đặc biệt chú ý vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Đến năm 2005 có đường ô tô đến tất cả các trung tâm xã; hầu hết các xã có điện thoại; đến năm 2010 tất cả các xã có điện, 90% dân cư đô thị được dùng nước máy, 80% dân cư nông thôn được dùng nước sạch; Phủ sóng phát thanh truyền hình trên toàn tỉnh và có phương tiện nghe nhìn rộng khắp.
Giảm tỷ lệ tăng dân số (kể cả di dân) xuống 2,75% thời kỳ 2001-2005 và 2,35%, thời kỳ 2006-2010, quy mô dân số của tỉnh đến năm 2010 khoảng 1,29 triệu người.
Giải quyết cơ bản về vấn đề việc làm cho người lao động, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 28- 30% năm 2010, đảm bảo nhu cầu lao động kỹ thuật cho phát triển kinh tế-xã hội. đến năm 2010.Đến năm 2010 tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị khoảng 3-4%; tăng tỉ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn từ 80% hiện nay lên 90% năm 2010.
Hạn chế, tiến tới loại trừ các loại dịch bệnh, tai nạn và tệ nạn xã hội.

2. Về phát triển khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường.
Đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến vào các ngành kinh tế cơ bản là thế mạnh của tỉnh, các lĩnh vực thiết yếu của đời sống. Phấn đấu sau 10 năm trình độ công nghệ chung đạt mức trung bình của cả nước, chú trọng ứng dụng giống mới, vật liệu mới, ứng dụng công nghệ sản xuất mới, công nghệ thông tin trong quản lý, quản trị kinh doanh.
Hình thành đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật, trước hết cho các lĩnh vực, các khâu then chốt, nhất là đội ngũ cán bộ tham mưu hoạch định chính sách và chuyển giao công nghệ.
Đầu tư trồng rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng, nâng độ che phủ của rừng và cây lâu năm lên khoảng 70% diện tích tự nhiên vào năm 2010; ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường ở các đô thị, xử lý nước thải, rác thải ở các đô thị, khu công nghiệp; xây dựng nếp sống vệ sinh ở nông thôn.

2. 3. Về an ninh quốc phòng
Không ngừng tăng cường sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân. Đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương đủ sức ứng phó trong các tình huống cần thiết. Bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, đoàn kết các tầng lớp nhân dân; giữ vững ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

2. 4.Đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính:cải tiến bộ máy, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý, đào tạo và nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ.
II. NHỮNG NHIỆM VỤ CHỦ YẾU CỦA CÁC NGÀNH VÀ LĨNH VỰC

1. Nông lâm nghiệp: Phát triển nhanh sản xuất nông nghiệp hàng hoá, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng CNH- HĐH, hình thành các vùng sản xuất tập trung, có cơ cấu hợp lý về cây trồng và vật nuôi trên cơ sở khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh của từng vùng, gắn nông lâm nghiệp với công nghiệp chế biến, gắn sản xuất với thị trường trong nước và ngoài nước, nâng cao dần mức thu nhập trên một đơn vị diện tích đất canh tác. Có chính sách khuyến khích và ưu đãi để các thành phần kinh tế đầu tư vào nông lâm nghiệp, đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm chuyển giao kỹ thuật sản xuất cho dân. Đến năm 2010: cao su đạt 70.000 ha; cây cà phê không phát triển thêm diện tích trồng mới, chủ yếu thâm canh, hạ giá thành sản xuất trên diện tích đã có; đầu tư đủ sân phơi, cơ sở chế biến nhằm nâng cao chất lượng, tiêu chuẩn và sức cạnh tranh của cà phê xuất khẩu; cây điều đạt 22.000 ha chủ yếu bằng các giống điều ghép, cải tạo các vườn điều cũ; hình thành vùng nguyên liệu ổn định để phục vụ cho xây dựng nhà máy chế biến; cây tiêu 3.000 ha, cây chè 800 ha chủ yếu thâm canh và trồng mới thay thế diện tích chè cũ thanh lý bằng giống chè mới, có năng suất cao.
Đẩy mạnh phát triển các cây ngắn ngày có thị trường tiêu thụ như cây bông, ngô lai... nâng tỷ lệ ngô lai lên trên 90%. Tiếp tục đầu tư thâm canh, rải vụ đối với cây mía để đáp ứng đủ mía nguyên liệu cho nhà máy chế biến; phát triển cây ăn quả. Tăng diện tích lúa nước đi đôi với khai thác có hiệu quả các công trình thuỷ lợi, áp dụng các biện pháp thâm canh, sử dụng giống mới; xây dựng vùng lúa chất lượng cao. Tổng sản lượng lương thực đạt 580-600 ngàn tấn vào năm 2010, đảm bảo an ninh lương thực kể cả trong vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc.
Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi tăng tổng đàn, thể trọng và chất lượng, nâng tỷ lệ bò lai, lợn lai hướng nạc; chăn nuôi bò thịt tạo tiền đề từng bước phát triển công nghiệp chế biến súc sản, thuộc da.
Lâm nghiệp: Tổ chức quản lý bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có. Đẩy mạnh khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng. Phấn đấu trong 10 năm trồng mới 50 ngàn ha rừng. Có chính sách giao đất, cho thuê đất cho các tổ chức, cá nhân bỏ vốn đầu tư trồng rừng để tạo thêm việc làm, nhất là cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.

2. Công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp:Tập trung phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh như thuỷ điện, chế biến nông lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng; xây dựng các khu, cụm công nghiệp đồng thời phát triển mạnh công nghiệp vừa và nhỏ, các ngành nghề truyền thống ở nông thôn. Đa dạng hoá loại hình sản xuất với nhiều quy mô và trình độ công nghệ khác nhau.
- Công nghiệp chế biến nông lâm sản: trọng tâm là chế biến cao su, cà phê, chè, điều, mía, sắn, bông, gỗ, ván MDF... đảm bảo chế biến thô hết nguồn nguyên liệu sản xuất ra và nhanh chóng tiến tới chế biến tinh để xuất khẩu.
- Công nghiệp điện năng: Ngoài những công trình lớn của Trung ương trên địa bàn như Sê San 3, Sê San 3A, Sê San 4, An Khê - Kannak, sông Ba hạ... bằng nhiều nguồn vốn và chính sách ưu đãi đầu tư để nhanh chóng khai thác phần lớn tiềm năng thuỷ điện vừa và nhỏ.
- Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng: bên cạnh việc đầu tư chiều sâu cho các cơ sở đã có, đồng thời xây dựng mới các cơ sở sản xuất gạch nung tuynen, gạch không nung, khai thác chế biến đá xuất khẩu...
Xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp: ưu tiên đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp Trà Đa (Pleiku), quy hoạch xây dựng khu công nghiệp Nam Hàm Rồng (Pleiku), phát triển các cụm công nghiệp Trà Bá - Hàm Rồng, Chưpảh, Chư Sê, An Khê, Ayunpa...

3. Thương mại, dịch vụ và du lịch:Đẩy mạnh phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch, trọng tâm là triển khai chương trình đẩy mạnh xuất khẩu, đến năm 2010 kim ngạch xuất khẩu đạt 160 triệu USD, phát triển nhanh các ngành du lịch và các loại hình dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thông tin, tư vấn, chuyển giao công nghệ... Xây dựng và mở rộng các trung tâm thương mại ở thành phố Pleiku, thị xã An Khê, thị trấn Ayunpa, Chư Sê, hệ thống chợ ở các thị trấn và chợ nông thôn. Xây dựng khu kinh tế cửa khẩu đường 19, huyện Đức Cơ theo hướng hình thành cửa khẩu quốc tế và là đô thị biên giới.
- Xây dựng và phát triển các sản phẩm du lịch đa dạng, độc đáo bao gồm du lịch văn hoá, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, thăm quan nghiên cứu... Xây dựng một số kết cấu hạ tầng quan trọng đồng thời có chính sách ưu đãi và kêu gọi các nhà đầu tư xây dựng các điểm du lịch và kinh doanh du lịch. Phấn đấu đến năm 2010 thu hút khoảng 20.000 lượt khách quốc tế, 80.000 lượt khách trong nước.

4. Ưu tiên xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ nhằm tạo dựng mối liên kết phát triển bền vững có hiệu quả
-Giao thông: nâng cấp mở rộng các quốc lộ 19, 14, 14C, xây dựng đường Hồ Chí Minh, đoạn tránh qua thành phố Pleiku; mở rộng và xây dựng đường tránh của các quốc lộ qua thị xã, thị trấn.
Tiếp tục nhựa hoá các tuyến tỉnh lộ, nâng cấp nền rải mặt cấp phối các tuyến liên xã, sửa chữa nâng cấp và mở mới các tuyến đường nội thành nội thị, phát triển giao thông nông thôn.
- Thuỷ lợi:khai thác có hiệu quả tài nguyên nước, nâng cấp và xây dựng các công trình thuỷ lợi nhất là ở những vùng thường khô hạn và có đất mở rộng sản xuất, kiến nghị với Trung ương để xây dựng các công trình thuỷ lợi lớn như: Iamlah, Ia Tui, suối Lơ, Ia Mơ- Ia Lâu, tỉnh đầu tư các công trình vừa và nhỏ...
-Cấp điện.Mở rộng nâng cấp mạng lưới điện trung và hạ thế, đẩy mạnh chương trình điện khí hoá nông thôn để đến năm 2010 tất cả các xã, 70-80% số làng, cụm dân cư có điện. Những nơi không thể kéo điện lưới sẽ phát triển thuỷ điện nhỏ hoặc sử dụng pin mặt trời...
Cải tạo nâng cấp và xây dựng lưới điện các đô thị đảm bảo phụ tải cho từng thời kỳ phát triển mới của đô thị.
-Bưu chính viễn thông:Xây dựng và phát triển mạng theo hướng hiện đại, đồng bộ và rộng khắp, cung cấp đa dạng các dịch vụ chất lượng cao, tăng cường phát triển bưu cục, đại lý, điểm bưu điện để rút ngắn bán kính phục vụ, tiếp tục phát triển điểm bưu điện văn hoá xã.

5. Phát triển và đẩy mạnh xã hội hoá các lĩnh vực xã hội, tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao mức sống nhân dân, đào tạo nguồn nhân lực, thu hút nhân tài.
-Giáo dục - Đào tạo:là một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực. Tăng cường cơ sở vật chất gắn với nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp học, đảm bảo đủ trường lớp, giáo viên, tách trường tiểu học ra khỏi trường PTCS và trường PTCS ra khỏi PTTH, kiên cố hoá trường học, nâng cao chất lượng phổ cập tiểu học, thực hiện chuẩn quốc gia về phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, tiến tới phổ cập THCS vào năm 2010. Tiếp tục mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục của hệ thống các trường nội trú, lớp nội trú cho con em các dân tộc nhằm tạo nguồn cho việc đào tạo đội ngũ cán bộ người dân tộc. Tăng cường công tác đào tạo và đào tạo lại cán bộ. Phấn đấu đưa trường CĐSP thành trường đại học cộng đồng.
-Y tế chăm sóc sức khoẻ:Đảm bảo sức khỏe, nâng cao thể lực và tuổi thọ cho mọi người dân. Tăng cường công tác y tế dự phòng, nâng cao chất lượng khám và chữa bệnh, ngăn ngừa các loại dịch bệnh nhất là các loại dịch bệnh theo mùa, thanh toán một số dịch bệnh nguy hiểm, cải thiện môi trường sống. Nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khoẻ ban đầu, hiệu quả khám và điều trị, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật về y học trong chẩn đoán và điều trị. Triển khai có hiệu quả các mục tiêu của chương trình quốc gia về y tế. Thực hiện tốt chương trình dân số KHH gia đình để giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống dưới 1,8% năm, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tất cả các xã đều có trạm y tế, 60% số xã có bác sĩ vào năm 2010.
-Văn hoá, thông tin, thể thao, phát thanh truyền hình:Giữ gìn và phát huy truyền thống bản sắc văn hoá dân tộc Tây Nguyên gắn với xây dựng nếp sống văn hoá lành mạnh. Thực hiện tốt việc bảo tồn, bảo tàng, tu bổ các di tích lịch sử, các công trình văn hoá gắn với phát triển du lịch, giáo dục truyền thống cho thanh thiếu niên và nhi đồng. Đẩy mạnh phát triển thể thao chuyên nghiệp kết hợp với thể thao quần chúng và nghiệp dư, phấn đấu có 2-3 môn thể thao đạt ngang tầm đội mạnh. Phát triển hệ thống truyền hình, truyền thanh với chất lượng ngày càng cao và rộng khắp.
-Xóađói giảm nghèo:Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình xoá đói giảm nghèo, lồng ghép nhiều chương trình như: chương trình 135, khuyến nông, khuyến lâm, định canh định cư, chương trình kiên cố hoá kênh mương và giao thông nông thôn, giải quyết đất cho đồng bào dân tộc, các chương trình về y tế, giáo dục... kể cả các dự án do các tổ chức quốc tế tài trợ, các dự án ODA để tăng cường đầu tư cho các xã đặc biệt khó khăn, xã nghèo tạo điều kiện giúp đỡ hộ đói nghèo phát triển sản xuất, kinh doanh để sau một số năm vươn lên thoát khỏi đói nghèo.

6. Đào tạo sử dụng và thu hút nhân tài:Có chính sách về tiền lương và chế độ đãi ngộ cán bộ, chuyên gia đầu đàn trong các lĩnh vực; thu hút cán bộ giỏi từ các nơi đến làm việc tại tỉnh. Phối hợp và hợp tác chặt chẽ với các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học, tranh thủ sự đóng góp của các nhà khoa học, các chuyên gia, lực lượng khoa học của các ngành trung ương, học tập kinh nghiệm của các tỉnh bạn để triển khai thực hiện và giải quyết các vấn đề thực tiễn ở tỉnh. Nâng cao tay nghề cho lực lượng công nhân trong mọi lĩnh vực, đủ khả năng đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số.

Điều 2: Giao cho Sở Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm quản lý, phổ biến hướng dẫn để khai thác sử dụng có hiệu quả tài liệu quy hoạch phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch 5 năm, kế hoạch hàng năm, xây dựng qui hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành trên địa bàn tỉnh. Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung điều chỉnh kịp thời những nội dung mới cho phù hợp với tình hình nhằm phát triển kinh tế - xã hội đúng định hướng, đạt hiệu quả cao.

Điều 3: Các ông (Bà) Chánh văn phòng HĐND và UBND tỉnh, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Giám đốc các Sở Ban Ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã, thủ trưởng các cơ quan đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu63/2004/QĐ-UB
Ngày ban hành08/06/2004
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực08/06/2004
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Gia Lai / Phạm Thế Dũng
Phạm viGia Lai
Trích yếuVề việc phê duyệt Rà soát quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai đến năm 2010
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.