Quay lại

Quyết định 63/2007/QĐ-UBND ban hành "Chương trình hành động của Uỷ ban nhân dân tỉnh về giảm nghèo, định canh định cư giai đoạn 2007-2010" và định hướng đến năm 2020

UBND TỈNH GIA LAI
-------

Số: 63/2007/QĐ-UBND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Gia Lai, ngày 14 tháng 05 năm 2007

QUYẾT ĐỊNH

Ban hành "Chương trình hành động của Uỷ ban nhân dân tỉnh về giảm nghèo, định canh định cư \

giai đoạn 2007-2010" và định hướng đến năm 2020

______________________________

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003;

Căn cứ Quyết định số 20/2007/QĐ-TTg, ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010;

Xét đề nghị của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và xã hội tại Tờ trình số: 17/TT - LĐTB&XH, ngày 23 tháng 3 năm 2007,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này. "Chương trình hành động của Uỷ ban nhân dân tỉnh về giảm nghèo, định canh định cư giai đoạn 2007 - 2010 và định hướng đến năm 2020" (có bản Chương trình hành động kèm theo Quyết định này).

Điều 2. Quyết định này thay thế Quyết định số 57/2006/QĐ-UBND ngày 08/8/2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc ban hành chương trình mục tiêu Giảm nghèo tỉnh Gia Lai giai đoạn 2006-2010 và có hiệu lực thi hành sau 10 ngày kể từ ngày ban hành.

Điều 3. Các ông (Bà) Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Thủ trưởng các Sở, Ban ngành tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố Pleiku và Thủ trưởng các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH

CHỦ TỊCH

(Đã ký)

Phạm Thế Dũng

CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH

Về giảm nghèo, định canh định cư giai đoạn 2007-2010

và định hướng đến năm 2020

(Ban hành kèm theo Quyết định số 63/2007/QĐ-UBND ngày 14 tháng 5 năm 2007 của Uỷ ban nhân dân tỉnh)

Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TU của Tỉnh uỷ (khoá XI) về cuộc vận động xoá đói giảm nghèo (XĐGN), đời sống vật chất tinh thần của đại bộ phận nhân dân trên địa bàn tỉnh được cải thiện rõ rệt; hộ đói kinh niên không còn; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh từ 35% năm 1995 xuống còn khoảng 10% (theo tiêu chí cũ); tỷ lệ hộ khá và giàu ngày càng tăng. Tuy vậy, Gia Lai vẫn là một tỉnh nghèo. Đời sống của đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) còn nhiều khó khăn; chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn giữa đồng bào kinh và đồng bào DTTS còn lớn và ngày càng dãn ra. Đến cuối năm 2006, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh chiếm 27,2% và còn 314 làng với gần 21.000 hộ định canh định cư (ĐCĐC) chưa vững chắc.

Căn cứ Quyết định số 20/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010; căn cứ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII; căn cứ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 của Ban chấp hành Đảng bộ Tỉnh (khoá XIII) về tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xoá đói giảm nghèo, định canh định cư giai đoạn 2007 - 2010 và định hướng đến năm 2020; xuất phát từ tình hình thực tế của tỉnh. Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh xây dựng: "Chương trình hành động của Uỷ ban nhân dân tỉnh về giảm nghèo, định canh định cư giai đoạn 2007 - 2010 và định hướng đến năm 2020", với các nội dung trọng tâm sau:

I- MỤC TIÊU.

1- Mục tiêu tổng quát:
Đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo và công tác ĐCĐC vững chắc; củng cố thành quả giảm nghèo, tạo cơ hội cho hộ đã thoát nghèo vươn lên hộ khá; cải thiện một bước điều kiện sống và sản xuất ở các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn (ĐBKK); nâng cao chất lượng cuộc sống của nhóm hộ nghèo, hạn chế gia tăng khoảng cách chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng đồng bào DTTS và vùng đồng bào kinh, giữa nhóm hộ giàu và nhóm hộ nghèo hạn chế tái nghèo.

2- Mục tiêu cụ thể:

2. 1- Mục tiêu trước mắt (giai đoạn 2007-2010):
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 24% vào cuối năm 2007 và khoảng 12% vào cuối năm 2010, bình quân giảm từ 3,5 - 4%năm;
- 95% số hộ đồng bào dân tộc thiểu số định canh định cư vững chắc; đến năm 2010 không còn xã ĐBKK.

2. 2- Mục tiêu đến 2015 và định hướng đến năm 2020:
Từ năm 2006-2015 phấn đấu tăng trưởng đạt mức bình quân 12,5%/ năm, đến cuối năm 2015, GDP bình quân đầu người gấp 2,2 lần năm 2010, tạo bước chuyển mạnh mẽ trong việc cải thiện đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho đồng bào nghèo. Đẩy mạnh phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội nhằm sớm rút ngắn khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các tầng lớp dân cư, đặc biệt là chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa vùng đồng bào DTTS và vùng đồng bào kinh, giữa nông thôn và thành thị. Khai thác có hiệu quả tiềm năng và lợi thế của các địa phương, phấn đấu đến năm 2015 tỉnh ta cơ bản không còn hộ nghèo (theo tiêu chí hiện nay); đến năm 2020 cơ bản thoát nghèo bền vững, 100% hộ dân định canh định cư vững chắc, 100% các xã có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu, 100% trạm y tế xã có bác sỹ, 100% hộ dân cư được sử dụng điện và sử dụng nước sạch sinh hoạt.

3- Các chỉ tiêu chủ yếu cần đạt được đến năm 2010
- Trong giai đoạn 2007-2010 mỗi năm toàn tỉnh phấn đấu giảm khoảng 4% hộ nghèo (riêng năm 2007 giảm khoảng 9.000 hộ nghèo). Đến năm 2008 tất cả hộ chính sách, người có công với cách mạng có mức sống tối thiểu bằng mức trung bình của khu dân cư;
- 100% hộ nghèo có nhu cầu được vay vốn của Ngân hàng chính sách xã hội;
- Mỗi năm tạo việc làm cho 2 vạn lao động;
- Thực hiện khuyến nông-lâm-ngư, chuyển giao kỹ thuật, hướng dẫn cách làm ăn cho 100% hộ nghèo;
- 25.000 lượt người nghèo được đào tạo nghề miễn phí;
- 100% người nghèo, người DTTS được khám, chữa bệnh miễn phí;
- 100% con hộ nghèo đi học được giảm học phí theo quy định;
- 100% hộ người nghèo được tư vấn pháp lý miễn phí;
- Trên 95% số làng và hơn 90% số hộ được sử dụng điện;
- 80% dân cư nông thôn và 90% dân cư đô thị được dùng nước sạch;
- Giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân mỗi năm từ 0,6 - 0,8% đến năm 2010 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh giảm còn 1,5%, phấn đấu đạt mức sinh thay thế chậm nhất vào năm 2015.

4- Đối tượng của chương trình:
Đối tượng là xã ĐBKK, xã nghèo, người nghèo, hộ nghèo; ưu tiên đối tượng hộ nghèo mà chủ hộ là phụ nữ, hộ nghèo DTTS, hộ nghèo có đối tượng bảo trợ xã hội (người già, người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt).
II- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU:
Để công tác xoá đói giảm nghèo (XĐGN) trong thời gian tới được bền vững, cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau đây:

1- Giao kế hoạch giảm nghèo cho các địa phương
Hằng năm, căn cứ vào tình hình thực tế, tỉnh sẽ giao kế hoạch giảm nghèo cho các huyện, thị xã, thành phố; trên cơ sở đó UBND các huyện, thị xã, thành phố giao kế hoạch giảm nghèo cho các xã, phường, thị trấn. UBND xã, phường, thị trấn tổ chức rà soát thực trạng đói nghèo của địa phương theo Thông tư số 04/2007/TT- BLĐTBXH ngày 28/02/2007 của Bộ Lao động - TBXH hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo hàng năm lập danh sách cụ thể từng hộ đăng ký thoát nghèo để có những giải pháp trợ giúp phù hợp với từng hộ nghèo, nhằm giúp họ thoát nghèo bền vững.

2- Tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất và ổn định cuộc sống:

2. 1/ Hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo phát triển sản xuất và ổn định cuộc sống:
- Tiếp tục tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất như: giải quyết đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt thủy lợi hỗ trợ giống cho trồng trọt và chăn nuôi. Trước hết ưu tiên giải quyết dứt điểm cho những hộ đăng ký thoát nghèo trong năm.
+ Đối với đồng bào DTTS, tiếp tục thực hiện chương trình 134 của Chính phủ. Năm 2007-2008 sẽ thực hiện dứt điểm chương trình này. Dự kiến bố trí kinh phí đầu tư cho chương trình 208.992 triệu đồng.
+ Đối với hộ kinh nghèo khó khăn về nhà ở không có khả năng tự khắc phục được: Hằng năm sẽ bố trí một khoản ngân sách nhất định để hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo giải quyết vấn đề nhà ở.
+ Đẩy mạnh "quỹ ngày vì người nghèo" do UBMTTQVN tỉnh phát động để góp phần hỗ trợ hộ nghèo cải thiện nhà ở và phát triển sản xuất, cải thiện đời sống.
- Ưu tiên cho những hộ đăng ký thoát nghèo được vay với mức vay thoả đáng, đối với các hộ có phương án sản xuất kinh doanh khả thi thì được vay tối đa theo quy định của Ngân hàng Chính sách Xã hội hiện hành. Đối với những hộ đã được vay vốn và sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả nếu có nhu cầu vay vốn bổ sung thì Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay bổ sung theo quy định.
- Hằng năm, tỉnh bố trí một khoản ngân sách trong chi thường xuyên của địa phương để hỗ trợ nhà ở, sản xuất, chăn nuôi, giải quyết việc làm, đào tạo nghề xuất khẩu lao động cho người nghèo, người DTTS.
- Thực hiện tốt chính sách trợ giá và cấp không thu tiền các mặt hàng chính sách như: muối Iốt, giống cây trồng, phân bón, vở học sinh, hỗ trợ mắc điện sinh hoạt... cho hộ đồng bào DTTS, hộ nghèo ở các xã ĐBKK theo quy định.

2. 2/ Chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi cho phù hợp với từng vùng, từng loại đất canh tác. Ứng dụng các tiến bộ KH-KT vào trong sản xuất.
- Thông qua các cuộc tập huấn, trình diễn kỹ thuật, hội thảo đầu bờ để hướng dẫn người nghèo về tổ chức sản xuất, kế hoạch tiêu dùng, đồng thời hỗ trợ giống vật nuôi cây trồng có năng suất cao nhằm nâng cao thu nhập cải thiện đời sống cho người nghèo, người DTTS.
- Tăng diện tích cao su, đến năm 2010 toàn tỉnh trồng mới khoảng 50.000 ha cao su để giải quyết việc làm cho khoảng 1000 lao động, nhằm tăng thu nhập cho hộ nghèo, ưu tiên nhận lao động là người DTTS tại chỗ.
- Xây dựng mô hình liên kết các nhà (nhà khoa học nhà doanh nghiệp, nhà nước và nhà nông) nhằm hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.

2. 3/ Tăng cường công tác đào tạo nghề, tạo cho người nghèo có cơ hội tìm việc làm; xuất khẩu lao động nâng cao đời sống cho người lao động.
- Bố trí ngân sách từ 3 đến 4 tỷ đồng/năm để thực hiện dự án đào tạo nghề cho từ 5.500 đến 6.000 nông dân, thanh niên dân tộc thiểu số để tìm việc làm ổn định cuộc sống.
- Hàng năm tổ chức đưa trên 500 người đi xuất khẩu lao động.
- Khuyến khích các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh nhận lao động tại chỗ vào làm việc; giao đất, giao rừng cho hộ nghèo nhận chăm sóc, bảo vệ, khai thác; Hằng năm có kế hoạch giao khoán rừng và giao rừng ổn định cho hộ nghèo ở gần rừng.

3- Tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận nhiều hơn với các chính sách xã hội:
- Về y tế: Người nghèo được cấp thẻ BHYT kịp thời và được tạo điều kiện thuận lợi tiếp cận dịch vụ y tế khi ốm đau; củng cố, nâng cao chất lượng phục vụ các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh nhất là đội ngũ cán bộ y tế ở cơ sở. Thực hiện tốt chủ trương tăng cường bác sỹ về các trạm xá xã.
- Về giáo dục: Nâng cao chất lượng hệ thống trường, lớp học, xoá 100% các lớp học tạm bợ, tranh tre, nứa lá; chuẩn hóa trình độ đội ngũ giáo viên nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục của giai đoạn mới; miễn giảm học phí, các khoản đóng góp xây dựng trường cho con em hộ nghèo theo quy định.
- Về văn hóa: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phục vụ cho nhân dân ở cơ sở về hưởng thụ văn hoá. Mỗi năm Đoàn nghệ thuật Đam San phục vụ 120 buổi; Đội thông tin lưu động phục vụ 120 buổi kết hợp chuyển tải các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong các buổi phục vụ, đặc biệt phổ biến khoa học kỹ thuật trong sản xuất thông qua loại hình nghệ thuật và tài liệu tuyên truyền để người dân biết ứng dụng triển khai mang lại hiệu quả XĐGN.
- Về Dân số - Gia đình và Trẻ em: Thực hiện tốt công tác vận động nhân dân tham gia phong trào sinh đẻ có kế hoạch nhằm xây dựng mô hình gia đình ít con, khỏe mạnh có điều kiện về kinh tế và thời gian để đầu tư cho sản xuất nâng cao thu nhập, thoát nghèo bền vững.
- Về công tác trợ giúp pháp lý: Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống trợ giúp pháp lý từ tỉnh đến cơ sở nhằm nâng cao kiến thức pháp luật của nhân dân trong việc thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Đảm bảo cho mọi người nghèo, người DTTS được trợ giúp pháp lý miễn phí.

4- Tăng cường đầu tư các nguồn lực cho XĐGN, ĐCĐC
- Tập trung đầu tư các nguồn lực thông qua việc lồng ghép thực hiện các chương trình 134, 135, 168, các chương trình mục tiêu quốc gia với các chương trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, huyện theo từng vùng, từng địa bàn cụ thể.
- Tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình 135 theo phương châm: "ở đâu có công trình thì ở đó dân có việc làm góp phần nâng cao thu nhập cho nhân dân trên địa bàn. Dự kiến ngân sách đầu tư cho chương trình này gồm: dự án hỗ trợ phát triển sản xuất: 6.300 triệu đồng/năm; dự án xây dựng hạ tầng: 37.100 triệu đồng/năm; Dự án đào tạo cán bộ 2.120 triệu đồng/năm.
- Công tác ĐCĐC, bố trí dân cư phải có quy hoạch cụ thể, phù hợp với điều kiện tự nhiên từng vùng, tập quán của từng dân tộc nhằm ổn định cuộc sống cho nhân dân góp phần ổn định trật tự xã hội trên địa bàn. Đưa công tác quy hoạch, bố trí dân cư thành nhiệm vụ thường xuyên của các cấp, huyện, xã. Hàng năm bố trí ngân sách khoảng từ 4,5-5 tỷ đồng cho công tác này. (Năm 2007 là 4,5 tỷ đồng).
- Tổng nguồn vốn đầu tư cho chương trình XĐGN cả giai đoạn 2006- 2010 trên 6.116 tỷ đồng, trong đó chương trình XĐGN và việc làm trên 568 tỷ đồng và chương trình, dự án lồng ghép 5.548 tỷ đồng (có phụ lục kèm theo).
5- Nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị và kiện toàn bộ máy làm công tác XĐGN, ĐCĐC
- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, sự điều hành của Chính quyền vai trò trách nhiệm của Mặt trận và các đoàn thể, các tổ chức xã hội trong hoạt động giám sát, đánh giá, bảo đảm cho chương trình thực hiện có kết quả, đúng mục tiêu, đúng đối tượng, các cấp tuyên truyền, vận động dòng họ, làng xóm trên tinh thần "thương người như thể thương thân" tự nguyện chia sẻ trợ giúp hộ nghèo và khuyến khích tinh thần tự lực của hộ nghèo vươn lên, khắc phục tư tưởng ỷ lại trông chờ vào sự giúp đỡ của cộng đồng và Nhà nước. Bên cạnh đó, cần mạnh dạn (đổi mới) tuyên truyền cho người nghèo do lười lao động, thiếu kiến thức làm ăn, đông con, mắc các tệ nạn xã hội... thấy được nghèo đói là thấp kém, là tụt hậu và phải biết "xấu hổ" vì nghèo.
- Kiện toàn Ban chỉ đạo XĐGN từ tỉnh đến cơ sở bố trí cán bộ chuyên trách làm công tác XĐGN ở từng cấp, đặc biệt chú trọng cán bộ chuyên trách làm công tác XĐGN ở cấp xã để đảm bảo việc chỉ đạo điều hành thực hiện chương trình mục tiêu giảm nghèo trên địa bàn tỉnh được hiệu quả. Nâng cao năng lực truyền thông, giám sát của các cơ quan, đại biểu dân cử, các đoàn thể, các tổ chức xã hội đối với công tác XĐGN.
- Tăng cường và nâng cao chất lượng công tác tập huấn, bồi dưỡng cán bộ làm công tác XĐGN ở cơ sở gồm: cán bộ lãnh đạo Đảng ủy, UBND cấp xã; cán bộ thuộc hệ thống chính trị như Mặt trận, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội Cựu chiến binh ...; cán bộ chuyên trách làm công tác XĐGN, già làng, trưởng thôn... Hằng năm tỉnh bố trí ngân sách thoả đáng để thực hiện công tác này.
Công tác tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ về chương trình giảm nghèo cần chú trọng nâng cao nhận thức về phương pháp tiếp cận tổng thể giải quyết vấn đề nghèo đói; kỹ năng thực hành tổ chức thực hiện các chính sách; kỹ năng phát hiện nhu cầu cộng đồng; xây dựng kế hoạch, xây dựng dự án quy mô nhỏ ở cấp xã, thôn làng, các kỹ năng và biện pháp huy động sự tham gia của người dân, kỹ năng lồng ghép các chương trình, dự án trong các hoạt động XĐGN... Mở rộng đối tượng đào tạo đến cán bộ thôn, làng với chương trình đào tạo cụ thể, phù hợp với trình độ của từng đối tượng.
III- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1- Phân công trách nhiệm:
1.1/ Sở Lao động-TB&XH:Là cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo XĐGN của tỉnh, chịu trách nhiệm triển khai các hoạt động về an sinh xã hội, dự án đào tạo cán bộ làm công tác XĐGN, phối hợp với các ngành liên quan thực hiện các chính sách ưu đãi đối với người nghèo.
Hàng năm xây dựng chỉ tiêu, nhiệm vụ giải pháp về thoát nghèo và tổng hợp nhu cầu kinh phí gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính để tổng hợp trình UBND tỉnh và báo cáo về Trung ương; đồng thời giao chỉ tiêu thoát nghèo hàng năm cho các địa phương trong tỉnh; theo dõi, tham mưu cho Ban chỉ đạo XĐGN của tỉnh điều hành thực hiện chương trình và báo cáo kết quả triển khai thực hiện với UBND tỉnh và Bộ Lao động - TB&XH.
1.2/ Sở Kế hoạch và Đầu tư:Chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan xác định, tổng hợp nhu cầu vốn đầu tư hàng năm dành cho mục tiêu giảm nghèo kể cả nguồn vốn lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế xã hội và các chương trình mục tiêu quốc gia dành cho giảm nghèo, cân đối và tham mưu UBND tỉnh phân bổ nguồn lực cho Chương trình.
Phối hợp với các ngành có liên quan, đề xuất cơ chế, chính sách quản lý Chương trình; theo dõi và kiểm tra việc lồng ghép các chương trình, dự án có mục tiêu giảm nghèo ở các cấp và các ngành.
1.3/ Sở Tài chính:Chủ trì, phối hợp cùng với Sở Kế hoạch và Đầu tư xác định nguồn vốn sự nghiệp hàng năm dành cho mục tiêu XĐGN hàng năm. Theo dõi việc quản lý tài chính đối với các nguồn vốn huy động cho mục tiêu XĐGN, đồng thời chỉ đạo và tổ chức cấp phát kinh phí đầy đủ, kịp thời theo mục tiêu đã được duyệt.
1.4/ Ban Dân tộc:Hàng năm phối hợp với các ngành liên quan tổng hợp kế hoạch, các dự án: xây dựng cơ sở hạ tầng theo chương trình 135,134, ĐCĐC, chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn trình UBND tỉnh (thông qua Sở KH-ĐT) để báo cáo Chính phủ. Phối hợp cùng với các ngành liên quan thực hiện dự án hướng dẫn người nghèo cách làm ăn, đào tạo cán bộ các xã thuộc chương trình 135 và lồng ghép các chương trình dự án phát triển kinh tế xã hội vùng ĐBKK. Hàng năm rà soát, xác định xã, làng ĐBKK; đồng thời xây dựng chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về ĐCĐC, tổng hợp nhu cầu kinh phí gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính để tổng hợp trình UBND tỉnh và báo cáo Trung ương.
1.5/ Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn:Triển khai các dự án: Quy hoạch bố trí lại dân cư nông thôn, Dự án ổn định dân di cư tự do; Dự án di dời dân cư sống trong vùng biên giới...; Dự án khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; Dự án di dân xây dựng vùng kinh tế mới trong tỉnh; Dự án phát triển ngành nghề nông thôn, Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất thuộc chương trình 135 giai đoạn II; Dự án khoán bảo vệ rừng. Phối hợp với các ngành liên quan lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN, nhanh chóng quy hoạch lại các vùng sản xuất nguyên liệu, định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với từng địa bàn sản xuất.
1.6/ Sở Y tế:Chủ trì phối hợp với các ngành liên quan thực hiện tốt chính sách khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo đồng bào dân tộc thiểu số, nhân dân vùng ĐBKK theo quy định. Triển khai hiệu quả các chương trình, dự án về chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
1.7/ Sở Giáo dục Đào tạo:Chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan triển khai tốt các chính sách, chương trình, dự án hỗ trợ giáo dục cho học sinh nghèo, dân tộc thiểu số, vùng ĐBKK.
1.8/ Ủy ban dân số - Gia đình và Trẻ em:Giải quyết các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bổ dân cư và chất lượng dân số; tập trung ưu tiên cho những vùng khó khăn, vùng nghèo, vùng biên giới có mức sinh cao để giải quyết vấn đề dân số và góp phần nâng cao mức sống cho nhân dân, thúc đẩy nhanh chương trình XĐGN và ĐCĐC trên địa bàn.
1.9/ Sở Khoa học - Công nghệ:Lồng ghép triển khai các chương trình dự án chuyển giao công nghệ giúp hộ nghèo phát triển sản xuất.
1.10/ Sở Công nghiệp:Lồng ghép triển khai các chương trình, dự án khuyến công, phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, làng nghề ở các xã nghèo, vùng nghèo.
1.11/ Sở Văn hóa Thông tin:Triển khai dự án hỗ trợ người nghèo về văn hóa thông tin, thực hiện tốt công tác thông tin về cơ sở gắn với tuyên truyền giảm nghèo.
1.12/ Sở Nội vụ:Tổ chức kiện toàn, bố trí và đào tạo cán bộ XĐGN các cấp.
1.13/ Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh:Có kế hoạch hỗ trợ phương tiện nghe nhìn, tăng cường công tác truyền thông các hoạt động về XĐGN, mô hình về XĐGN có hiệu quả cho người nghèo, người dân tộc thiểu số.
1.14/ Sở Bưu chính - Viễn thông:Triển khai thực hiện Chương trình Viễn thông công ích theo Quyết định số 74/2006/QĐ-TTg ngày 07/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2010, trong đó tập trung phát triển phổ cập dịch vụ cho các vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn nhằm rút ngắn khoảng cách về sử dụng dịch vụ viễn thông và Internet giữa các vùng, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng.
1.15/ Sở Tư Pháp:Chủ trì, phối hợp với các ngành chức năng liên quan tăng cường công tác tuyên truyền kiến thức pháp luật về tận cơ sở trong việc thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.
1.16/ Trường Chính trị tỉnh:Lồng ghép, tuyên truyền phổ biến giải pháp XĐGN cho đội ngũ cán bộ cơ sở (xã, phường, thị trấn...) trong giảng dạy.
1.17/ Ngân hàng Chính sách xã hội:Thực hiện chính sách hỗ trợ tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo có hiệu quả. Hàng năm, phối hợp với các tổ chức chính trị xã hội (gồm: Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu Chiến binh, Đoàn Thanh niên) đánh giá kết quả uỷ thác và hiệu quả vốn cho vay hộ nghèo gắn với thoát nghèo của từng hộ.
1.18/ Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh:Chủ trì phát động các phong trào toàn dân tham gia đóng góp xây dựng quỹ "ngày vì người nghèo" và tích cực thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu XĐGN. Đồng thời, giám sát việc triển khai công tác XĐGN ở các cấp.
1.19/ Đề nghị Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh:lồng ghép các hoạt động của Hội với thực hiện có hiệu quả chương trình XĐGN.
1.20/ Đề nghị các Sở, ngành, đoàn thể của tỉnh các đơn vị Trung ương đứng trên địa bàn tỉnh:mỗi đơn vị chịu trách nhiệm giúp đỡ thực hiện công tác XĐGN một xã ĐBKK.
1.21/ Đối với cấp huyện:
Căn cứ vào Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XIII), Chương trình hành động của UBND tỉnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XIII) và Nghị quyết của cấp ủy xây dựng chương trình hành động giảm nghèo cho địa phương đề ra mục tiêu và giải pháp cụ thể nhằm triển khai có hiệu quả công tác XĐGN trên địa bàn.
2. Chế độ kiểm tra giám sát:
- Các Sở, ban ngành, đoàn thể và Uỷ ban nhân dân các huyện thị xã, thành phố theo chức năng, nhiệm vụ chuyên môn của mình và nhiệm vụ đã được phân công tại Chương trình này, thường xuyên theo dõi, đôn đốc các địa phương thực hiện Chương trình, kiểm tra, giám sát việc triển khai các chương trình, dự án và các chế độ chính sách thực hiện mục tiêu giảm nghèo và định canh, định cư.
- Hàng năm tổ chức các đoàn công tác của tỉnh để kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo, định canh định cư ở các địa phương.
3. Chế độ báo cáo:
- Hàng quý, 6 tháng, 1 năm, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố báo cáo tiến độ thực hiện chương trình giảm nghèo, thống kế số lượng, lập danh sách các hộ thoát nghèo ở từng xã, phường, thị trấn báo cáo về Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và Uỷ ban nhân dân tỉnh.
- 6 tháng, 1 năm, các Sở, ban, ngành, đoàn thể báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao trong Chương trình này về Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và Uỷ ban nhân dân tỉnh.
- Quy định thời gian báo cáo: Báo cáo Quý gửi trước ngày 22 của tháng cuối quý; Báo cáo 6 tháng gửi trước ngày 15 tháng 6 hàng năm; Báo cáo kết quả một năm gửi trước ngày 15 tháng 11 hàng năm.
- Sở Lao động - Thương binh và Xã hội làm đầu mối tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện Chương trình của tỉnh báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu63/2007/QĐ-UBND
Ngày ban hành14/05/2007
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực24/05/2007
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Gia Lai / Phạm Thế Dũng
Phạm viGia Lai
Trích yếuBan hành "Chương trình hành động của Uỷ ban nhân dân tỉnh về giảm nghèo, định canh định cư giai đoạn 2007-2010" và định hướng đến năm 2020
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.