Quay lại

Quyết định 760/QĐ-UBND về việc ban hành Đề án Hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

UBND TỈNH HƯNG YÊN
-------

Số: 760/QĐ-UBND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Hưng Yên, ngày 17 tháng 04 năm 2009

QUYẾT ĐỊNH
Về việc ban hành Đề án Hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

_____________

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;

Căn cứ Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở;

Xét đề nghị của Sở Xây dựng tại Tờ trình số 31/TTr-SXD ngày 17/4/2009,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Đề án Hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực từ ngày ký.

Điều 3. Chánh Văn phòng UBND tỉnh; Giám đốc các Sở, ngành: Kế hoạch và Đầu tư, Xây dựng, Tài chính, Lao động Thương binh & Xã hội; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Chủ tịch UBND các huyện, thành phố; Kho bạc Nhà nước tỉnh và thủ trưởng các ngành có liên quan căn cứ Quyết định thi hành./.

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

(Đã ký)

Nguyễn Thanh Quán

ĐỀ ÁN

Hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

(Ban hành kèm theo Quyết định số 760/QĐ-UBND ngày 17/4/2009

của UBND tỉnh Hưng Yên)

____________

I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI LẬP ĐỀ ÁN:

Hưng Yên là một tỉnh đồng bằng, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có tổng diện tích tự nhiên là 923,09 km2; dân số 1.168.054 người (năm 2008). Khi mới tái lập tỉnh (01/01/1997), kết cấu hạ tầng còn khó khăn, thiếu thốn, quy mô nền kinh tế còn nhỏ bé, cơ cấu kinh tế lạc hậu, sản xuất chậm phát triển. Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hưng Yên đã biết nắm vững và vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và yêu cầu của công cuộc đổi mới vào thực tiễn của địa phương. Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành nhiều Nghị quyết, chủ trương chính sách ưu đãi thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, phát triển Khu công nghiệp tập trung, Khu công nghiệp làng nghề, đa nghề, phát triển thương mại dịch vụ, Nông nghiệp, xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Đây chính là những công cụ, động lực đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành luôn nắm bắt thời cơ, phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, vượt qua khó khăn thách thức để phát triển toàn diện; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội với an sinh xã hội, giải quyết các vấn đề bức xúc, giữ vững an ninh chính trị, củng cố quốc phòng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh. Vì vậy, trong hơn 10 năm qua, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ sản xuất và đời sống được chú trọng đầu tư; cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển nông nghiệp, nông thôn, đồng thời cũng tạo môi trường thuận lợi để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần xóa đói nghèo, giải quyết vấn đề phân hóa giàu nghèo trên địa bàn tỉnh. Hiệu quả của những chủ trương đúng đắn trên đã làm cho kinh tế - xã hội trong tỉnh có bước phát triển khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực.

Tuy vậy, vấn đề nhà ở của các hộ nghèo trên địa bàn tỉnh vẫn là vấn đề nan giải, bức xúc. Nhiều hộ nghèo đang ở trong những căn nhà tạm bợ, cũ nát, không đảm bảo an toàn trước tác động của khí hậu, thời tiết. Một số hộ còn chưa có nhà ở. Cuộc sống của các gia đình nghèo đã khó khăn càng trở lên khó khăn hơn.

Chính vì vậy, việc hỗ trợ, cải thiện nhà ở cho người nghèo là hết sức cần thiết và cấp bách, giúp họ có thể tự vươn lên thoát nghèo, góp phần thực hiện mục tiêu của chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo của Chính phủ.

Cải thiện nhà ở ngày một tốt hơn cho các tầng lớp dân cư trong xã hội nói chung và cho người nghèo nói riêng, chính là góp phần nâng cao mức sống, tạo điều kiện phát triển nguồn lực con người, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện mục tiêu“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Các căn cứ để lập Đề án:

- Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở.

- Văn bản số 2561/BXD-QLN về việc triển khai thực hiện Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở.

- Văn bản số 340/BXD-QLN về việc xây dựng Đề án hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở để thực hiện Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở.

- Danh sách các hộ nghèo được hỗ trợ về nhà ở của Sở LĐTB&XH.

II. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NHÀ Ở VÀ KẾT QUẢ HỖ TRỢ VỀ NHÀ Ở TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH:

1. Thực trạng nhà ở:

a) Về số lượng nhà ở của các hộ nghèo:

Theo kết quả rà soát tổng hợp báo cáo từ các huyện, thành phố tính đến cuối năm 2008 toàn tỉnh có 2.169 hộ nghèo cần được hỗ trợ cải thiện nhà ở, chiếm 36,65% so với tổng số hộ nghèo trong toàn bộ địa bàn tỉnh.

b) Về chất lượng nhà ở:

Qua khảo sát thực trạng chất lượng nhà ở của các hộ nghèo cần được hỗ trợ về nhà ở trên địa bàn tỉnh, chủ yếu là nhà ở tạm dột nát, có nhà tường bằng đất mái lá hoặc lợp ngói cũ mục nát đã xuống cấp không đảm bảo an toàn trong mùa mưa bão.

c) Về điều kiện nơi ở của các hộ nghèo:

- Các hộ nghèo khó khăn về nhà ở tập trung chủ yếu ở các vùng bãi ven sông và vùng sống bằng nghề nông hoặc đi làm thuê, việc làm không ổn định, thu nhập thấp không có tích luỹ. Điều kiện kết cấu hạ tầng đường xá đi lại khó khăn. Khả năng cải thiện điều kiện nhà ở là rất khó nếu không có các biện pháp hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng.

2. Các chính sách hỗ trợ hộ nghèo cải thiện nhà ở do Nhà nước ban hành đang thực hiện tại địa bàn tỉnh và các quy định của tỉnh về việc hỗ trợ hộ nghèo cải thiện nhà ở trên địa bàn:

- Chương trình hành động số 87/CTr-TU ngày 31/3/2004 của Tỉnh uỷ Hưng Yên.

- Thông báo ý kiến chỉ đạo của Thường vụ Tỉnh uỷ số 578/TB-TU ngày 07/6/2005.

- Đề án xoá nhà tranh vách đất cho hộ nghèo tỉnh Hưng Yên đến năm 2005.

3. Nhận xét, đánh giá về các chính sách hỗ trợ hộ nghèo cải thiện nhà ở:

a)Về ưu điểm:

- Các hộ nghèo được hỗ trợ đã cải thiện được nhà ở vươn lên cùng với sự giúp đỡ của cộng động, dòng họ đã tự xoá bỏ được nhà tranh vách đất, ổn định cuộc sống lâu dài, tự thoát nghèo, vươn lên trong cuộc sống.

b) Về hạn chế:

- Nhận thức về cuộc vận động vì người nghèo ở một số cơ sở chưa đầy đủ, sự chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, sự hỗ trợ của chính quyền và sự phối hợp của các tổ chức xã hội chưa chặt chẽ. Việc vận động còn mang tính hình thức, kết quả chưa tương xứng với khả năng có thể huy động được trên địa bàn hiện nay.

4. Tình hình và kết quả triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ hộ nghèo cải thiện nhà ở trên địa bàn tỉnh:

Kết quả triển khai thực hiện cuộc vận động“Ngày vì người nghèo”và xây dựng“Nhà đại đoàn kết”, xoá nhà tranh vách đất trên địa bàn tỉnh:

- Tổng số vốn huy động được: 11.451.781.000 đồng

Trong đó:

+ Vốn trung ương hỗ trợ: 547.000.000 đồng

+ Vốn ngân sách địa phương: 2.950.000.000 đồng

+ Vốn huy động khác: 7.95781.000 đồng

- Số lượng nhà ở đã hỗ trợ: 380 căn

Trong đó:

+ Số lượng nhà xây mới: 1.882 căn

+ Số lượng nhà sửa chữa: 2.498 căn

- Về chất lượng nhà ở:

+ Quy mô xây dựng: 24m2

+ Tuổi thọ căn nhà xây dựng mới: 10 năm

+ Vật liệu xây dựng chủ yếu: gạch, ngói

III. ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH HUY ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ NGUỒN LỰC CỦA ĐỊA PHƯƠNG TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN HỖ TRỢ HỘ NGHÈO VỀ NHÀ Ở:

1. Về mô hình huy động nguồn lực:

- Các cấp uỷ Đảng, chính quyền đoàn thể thống nhất chương trình kế hoạch hành động, phân công cấp uỷ viên, cán bộ phụ trách từng địa bàn dân cư, từng nhóm hộ gia đình nghèo, vận động cán bộ Đảng viên gương mẫu thực hiện. Rà soát, lập kế hoạch phân chia chỉ tiêu vận động cho các cơ quan, đơn vị trường học, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang, các thôn xóm và những người có điều kiện nhận đỡ đầu giúp đỡ trực tiếp việc cải thiện nhà ở cho hộ gia đình nghèo.

- Uỷ ban Mặt trận các cấp, các ngành, ban, đoàn thể tích cực phối hợp tuyên truyền đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động“Quỹ vì người nghèo”và các hình thức đóng góp hỗ trợ người nghèo cải thiện nhà ở. Duy trì phong trào thường xuyên đồng thời mở các đợt tuyên truyền vận động tập trung cho việc đóng góp xây dựng quỹ vào các thời gian trọng điểm trong năm. Thông tin kịp thời và công khai trên báo, đài phát thanh truyền hình của tỉnh, thành phố, huyện về kết quả vận động xây dựng quỹ, kết quả hỗ trợ về nhà ở cho hộ gia đình nghèo.

- Thành lập Ban vận động“Ngày vì người nghèo”huyện, xã, phường, thị trấn tham mưu cho cấp uỷ, phối hợp với chính quyền đề ra nghị quyết chuyên đề về việc hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở.

- Vận động các cơ quan, doanh nghiệp các tổ chức chính trị xã hội và cá nhân trực tiếp giúp đỡ xây dựng“nhà đại đoàn kết”cho hộ nghèo ở cơ sở hoặc đăng ký nhận giúp đỡ số lượng nhà cụ thể qua ban vận động các cấp để xây dựng nhà cho người nghèo.

- Tiếp tục vận động xây dựng“Quỹ vì người nghèo”các cấp để có nguồn kinh phí hỗ trợ xây dựng nhà cho hộ nghèo:

+ Vận động cán bộ, viên chức, người lao động tiết kiệm chi tiêu ủng hộ quỹ từ 1 ngày lương trở lên.

+ Vận động cơ quan doanh nghiệp, các nhà sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh dành một phần lợi nhuận đóng góp cho quỹ hoặc đăng ký xây nhà trực tiếp cho hộ nghèo.

+ Vận động các tổ chức chính trị xã hội và những người con đang sinh sống công tác ở trong và ngoài nước tham gia đóng góp ủng hộ quỹ.

2. Về thực hiện quản lý sử dụng, cấp phát, thanh toán nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương và vốn vay tín dụng ưu đãi cũng như các nguồn vốn huy động khác:

- Căn cứ số vốn được phân bổ từ ngân sách trung ương, vốn ngân sách địa phương và các nguồn vốn huy động hợp pháp khác, Uỷ ban nhân dân tỉnh phân bổ cho cấp huyện, đồng thời gửi danh sách vay vốn cho Ngân hàng chính sách xã hội để thực hiện cho vay.

- Căn cứ số vốn được Uỷ ban nhân dân tỉnh phân bổ, Uỷ ban nhân cấp huyện phân bổ vốn hỗ trợ cho cấp xã.

- Việc quản lý, cấp phát, thanh toán, quyết toán nguồn hỗ trợ áp dụng theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

- Đối với vốn vay, hộ dân trực tiếp ký khế ước vay vốn theo quy định của Ngân hàng Chính sách xã hội.

3. Về cách thức hỗ trợ:

- Các hộ nghèo có điều kiện tổ chức và nhân lực tự xây dựng nhà ở được nhận tiền hỗ trợ trực tiếp từ Ban chỉ đạo hỗ trợ hộ nghèo cấp xã.

- Đối với hộ nghèo già cả, neo đơn, tàn tật không tự đứng ra tổ chức xây dựng nhà ở, thì ban chỉ đạo cấp xã thuê doanh nghiệp xây dựng thi công nhà ở và tổ chức bàn giao cho hộ gia đình được hỗ trợ về nhà ở.

IV. MỘT SỐ NỘI DUNG CỤ THÓ CỦA ĐỀ ÁN:

1. Quan điểm hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở:

- Quan tâm đến việc hỗ trợ các hộ gia đình nghèo về nhà ở nhằm cải thiện điều kiện sống và đảm bảo xoá đói giảm nghèo bền vững là thể hiện đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của quê hương và thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.

- Các cấp uỷ Đảng, chính quyền và tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị cũng như toàn xã hội phải có trách nhiệm tham gia vào việc thực hiện chương trình hỗ trợ về nhà ở cho các hộ nghèo.

- Thực hiện cơ chế kích cầu nhằm tập trung huy động tối đa các nguồn lực hỗ trợ cho việc thực hiện chương trình; tranh thủ các khả năng huy động nguồn lực từ bên ngoài để đẩy nhanh tiến độ giải quyết vấn đề nhà ở cho các hộ nghèo.

- Thực hiện đa dạng hoá các hình thức huy động nguồn lực và hỗ trợ(bằng tiền, bằng vật tư, nguyên liệu, công lao động…)để giải quyết theo hướng: Bản thân hộ nghèo tự lo, đóng góp giúp đỡ của cộng đồng dân cư, các cơ quan đơn vị doanh nghiệp và sự hỗ trợ một phần từ ngân sách Nhà nước các cấp, từ vốn vay của Ngân hàng chính sách xã hội. Với phương châm: Cân đối nguồn lực(kinh phí, vật tư, nguyên liệu, công lao động…)ngay tại từng địa phương.

- Gắn xã hội hoá với việc công khai hoá chính sách, nguồn lực, đối tượng được hỗ trợ, tổ chức tốt việc rà soát, bình xét dân chủ, công khai, sát thực từ cơ sở, đảm bảo đúng đối tượng và sự công bằng đoàn kết trong từng địa bàn dân cư, làng xã. Vận động nguồn lực và giám sát việc hỗ trợ qua Mặt trận, cấp phát và quản lý qua chính quyền Nhà nước các cấp.

2. Mục tiêu, nguyên tắc hỗ trợ:

- Tập trung phấn đấu giải quyết cơ bản tình trạng nhà ở cho hộ nghèo trên địa bàn toàn tỉnh trong thời gian từ nay cho đến năm 201

- Hỗ trợ trực tiếp đến hộ gia đình để xây dựng nhà ở theo đúng đối tượng quy định.

- Đảm bảo công khai, công bằng, minh bạch đến từng hộ gia đình trên cơ sở pháp luật và chính sách của Nhà nước; phù hợp với phong tục tập quán của từng vùng; phù hợp với điều kiện thực tiễn và gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương.

3. Yêu cầu về diện tích và chất lượng nhà ở xây dựng mới:

- Nhà nước hỗ trợ, cộng đồng giúp đỡ, hộ gia đình tham gia đóng góp để xây dựng được một căn nhà có diện tích tối thiểu là 24 m2; tuổi thọ căn nhà từ 10 năm trở lên.

4. Mức hỗ trợ, mức vay để làm nhà ở:

- Mức hỗ trợ: Ngân sách trung ương hỗ trợ 06 triệu đồng/hộ. Địa phương có trách nhiệm hỗ trợ thêm ngoài phần ngân sách trung ương hỗ trợ và huy động cộng đồng giúp đỡ các hộ làm nhà ở.

- Mức vay: Hộ dân có nhu cầu, được vay tín dụng từ Ngân hàng Chính sách xã hội để làm nhà ở. Mức vay tối đa là 08 triệu đồng/hộ, lãi suất vay 3%/năm. Thời hạn vay là 10 năm, trong đó thời gian ân hạn là 5 năm. Thời gian trả nợ là 5 năm, mức trả nợ tối thiểu là 20% tổng số vốn đã vay.

5. Đối tượng được hỗ trợ nhà ở:

- Là hộ nghèo theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010 (cụ thể như sau: Khu vực nông thôn: những hộ có thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng hoặc 2.400.000 đồng/người/năm trở xuống là hộ nghèo), đang cư trú tại địa phương, có tên trong danh sách hộ nghèo do UBND cấp xã quản lý tại thời điểm Quyết định 167/2008/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành.

- Ngoài các quy định trên, các hộ dân được hỗ trợ trong Đề án này không thuộc diện đối tượng được hỗ trợ trong các quy định trước đây như: Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996; Quyết định số 117/2007/QĐ-TTg ngày 25/7/2007; Quyết định số 120/2003/QĐ-TTg ngày 11/6/2003; và các chính sách hỗ trợ nhà ở, các chương trình hỗ trợ nhà ở khác đã được áp dụng trên địa bàn tỉnh như: chương trình xây dựng nhà đại đoàn kết, nhà tình thương…

- Riêng những hộ nghèo đã được xây dựng nhà ở theo quy định của các chính sách, các chương trình trên nhưng mà nhà ở đã bị sập đổ do thiên tai gây ra mà chưa được sửa chữa, xây dựng lại và đối với những hộ gia đình nghèo có công với cách mạng đã có danh sách được hỗ trợ nhà theo Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996; Quyết định số 117/2007/QĐ-TTg ngày 25/7/2007 nhưng đến nay vẫn chưa được hỗ trợ thì được đưa vào diện đối tượng được hỗ trợ theo Đề án này.

6. Phạm vi áp dụng:

Chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở chỉ áp dụng tại khu vực nông thôn, không thuộc khu vực đô thị như phường, thị trấn ở các đô thị loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV, loại IV được quy định tại Nghị định 72/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001 của Chính phủ.

7. Xác định số lượng hộ nghèo cần hỗ trợ về nhà ở trên địa bàn tỉnh:

(Có bảng phụ lục kèm theo)

a) Tổng số hộ nghèo của tỉnh theo chuẩn nghèo giai đoạn 2006 - 2010: 5.918 hộ.

b) Tổng số hộ thuộc diện đối tượng được hỗ trợ về nhà ở tại khu vực nông thôn(tính đến thời điểm Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành): 2.169 hộ.

8. Phân loại đối tượng ưu tiên:

a) Hộ gia đình có công với cách mạng: 27 hộ

b) Hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn (già cả, neo đơn, tàn tật…): 234 hộ

c) Các hộ gia đình còn lại: 1.908 hộ

9. Nguồn vốn thực hiện:

a) Ngân sách Trung ương: hỗ trợ 6 triệu đồng/1 hộ

b) Vốn đối ứng ngân sách địa phương: bằng 20% vốn hỗ trợ ngân sách Trung ương

c) Vốn vay tín dụng của Ngân hàng Chính sách: 8 triệu đồng/1 hộ

d) Vốn huy động từ“Quỹ vì người nghèo”do Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động và từ các doanh nghiệp do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam vận động.

e) Vốn huy động của cộng đồng, dòng họ và của chính hộ gia đình được hỗ trợ.

10. Xác định tổng số vốn thực hiện và phân khai nguồn vốn thực hiện:

Tổng số vốn cần có để thực hiện:

2.169 căn nhà x 24m2(diện tích sử dụng tối thiểu)x 1.200.000 đồng

= 62.467.200.000 đồng

Trong đó:

- Vốn ngân sách Trung ương hỗ trợ:

2.169 căn x 6.000.000 = 13.014.000.000 đồng

- Vốn Trung ương hỗ trợ nguồn vốn đối ứng của tỉnh (10%): 1.301.400.000 đồng

- Vốn đối ứng ngân sách của tỉnh (10%): 1.301.400.000 đồng

- Vốn vay tính dụng ưu đãi: căn x 8.000.000 = 17.352.000.000 đồng

- Vốn huy động từ UBMTTQ: căn x 8.000.000 = 17.352.000.000 đồng

- Vốn huy động từ cộng đồng, dòng họ, và bản thân từng hộ:

2.169 căn x 5.600.000 = 12.146.400.000 đồng

11. Cách thức thực hiện:

a) Bình xét và phê duyệt danh sách hỗ trợ nhà ở:

- Việc bình xét các hộ dân thuộc diện được hỗ trợ về nhà ở phải được tiến hành tại cơ sở thôn, làng. Tại các cuộc họp bình xét phải có đại diện tham gia của chính quyền cấp xã, Ban giảm nghèo cấp xã, chi bộ Đảng, trưởng thôn, và đại diện các tổ chức đoàn thể như Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội cựu chiến binh… cấp xã.

- Trong quá trình bình xét tiến hành xác định số hộ thuộc diện ưu tiên hỗ trợ, đồng thời xác định số hộ có nhu cầu vay vốn làm nhà ở theo quy định tại Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg của Chính phủ.

- UBND cấp xã tổng hợp danh sách các hộ dân được hỗ trợ nhà ở và danh sách số hộ có nhu cầu vay vốn báo cáo UBND cấp huyện để trình UBND cấp tỉnh phê duyệt.(Lưu ý: đối với hộ gia đình thuộc nhiều diện có nhiều loại ưu tiên theo quy định thì khi lập danh sách phải ghi đầy đủ tất cả các loại ưu tiên mà gia đình đó có).

- Danh sách hộ dân được hỗ trợ nhà ở phải được công khai, minh bạch trên các phương tiện truyền thông của địa phương và công khai tại trụ sở thôn và trụ sở UBND cấp xã.

b) Cấp vốn làm nhà ở:

- Căn cứ số vốn được phân bổ từ ngân sách trung ương, vốn ngân sách địa phương, các nguồn vốn huy động hợp pháp khác, UBND cấp tỉnh phân bổ cho UBND cấp huyện, đồng thời gửi danh sách vay vốn cho Ngân hàng Chính sách Xã hội để thực hiện cho vay.

- Căn cứ số vốn được UBND cấp tỉnh phân bổ, UBND cấp huyện phân bổ vốn cho UBND cấp xã.

- Việc quản lý, cấp phát, thanh toán, quyết toán nguồn vốn hỗ trợ áp dụng theo quy định của Bộ Tài chính.

- Đối với vốn vay, hộ dân trực tiếp ký thế ước vay vốn theo quy định của Ngân hàng Chính sách xã hội.

c) Thực hiện xây dựng nhà ở:

- UBND cấp xã giao cho Ban Giảm nghèo cấp xã hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các hộ dân xây dựng nhà ở đảm bảo yêu cầu về diện tích và chất lượng nhà ở theo quy định của Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg và vận động các hộ dân tự xây dựng nhà ở.

- Đối với hộ dân có hoàn cảnh khó khăn (già cả, neo đơn, tàn tật…) không thể tự xây dựng nhà ở thì Ban Giảm nghèo cấp xã tổ chức xây dựng nhà ở cho các đối tượng này.

12. Tiến độ thực hiện:

- Năm 2009: Hoàn thành các công tác chuẩn bị và thực hiện hỗ trợ nhà ở cho 261 hộ thuộc đối tượng ưu tiên a và b.

- Năm 2010 - 2012: Thực hiện hỗ trợ nhà ở cho 1.908 hộ thuộc diện ưu tiên c.

(Chú trọng ưu tiên cho các đối tượng chưa có nhà ở)

13. Tiến độ huy động vốn hàng năm:

a) Năm 2009 sẽ xây dựng 261 căn nhà

Tiến độ huy động vốn năm 2009:

Tổng số vốn cần có để thực hiện: 7.516.800.000 đồng

Trong đó:

- Vốn ngân sách trung ương: 1.722.600.000 đồng

- Vốn ngân sách tỉnh: 156.600.000 đồng

- Vốn vay tín dụng ưu đãi: 2.088.000.000 đồng

- Vốn huy động từ UBMTTQ: 2.088.000.000 đồng

- Vốn huy động của cộng đồng, dòng họ và bản thân từng hộ:

1.461.600.000 đồng.

b) Năm 2010 - 2012 sẽ xây dựng 1.908 căn nhà

Tiến độ huy động vốn năm 2010 - 2012:

Tổng số vốn cần có để thực hiện: 54.950.400.000 đồng.

Trong đó:

- Vốn ngân sách trung ương: 12.592.800.000 đồng

- Vốn ngân sách tỉnh: 1.144.800.000 đồng

- Vốn vay tín dụng ưu đãi: 15.264.000.000 đồng

- Vốn huy động từ UBMTTQ: 15.264.000.000 đồng

- Vốn huy động của cộng đồng, dòng họ và bản thân từng hộ:

10.684.800.000 đồng

14. Tổ chức thực hiện:

a) Thành lập Ban chỉ đạo hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở 3 cấp: Tỉnh, huyện, xã.

- Đối với cấp tỉnh, thành phần gồm: Phó chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban; Giám đốc Sở Xây dựng làm Phó ban thường trực; Giám đốc Sở Lao động Thương binh và Xã hội làm Phó ban; mời Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh tham gia Phó trưởng ban; các uỷ viên gồm lãnh đạo các ngành, đoàn thể: Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch, Ngân hàng Chính sách xã hội, Hội Phụ nữ, Đoàn TNCS HCM, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Liên đoàn lao động, Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh, Báo Hưng Yên.

- Đối với cấp huyện, thành phần gồm: Phó chủ tịch UBND huyện làm Trưởng ban, Trưởng phòng Công thương làm Phó trưởng ban thường trực, Trưởng phòng Lao động Thương binh và Xã hội làm Phó ban, mời Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện tham gia Phó trưởng ban, các thành viên khác như thành phần của cấp tỉnh.

- Đối với cấp xã: Thêm thành phần Bí thư hoặc phó Bí thư Đảng uỷ, Phó chủ tịch UBND xã và bí thư chi bộ, trưởng thôn, có hộ nghèo cần hỗ trợ về nhà ở.

b) Đối với các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh:

- Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch & Đầu tư: cân đối, bố trí vốn ngân sách đối ứng của tỉnh; chỉ đạo công tác lập dự toán, quản lý, cấp phát, thanh toán, quyết toán nguồn vốn hỗ trợ theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

- Sở Xây dựng: thiết kế mẫu nhà và tổ chức công bố rộng rãi cho các hộ xem xét, lựa chọn.

- Sở Lao động Thương binh & Xã hội chủ trì, phối hợp với Sở Xây dựng, UBMTTQ các cấp và các cơ quan thông tin đại chúng: tổ chức công bố công khai các tiêu chuẩn, đối tượng theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tổ chức kiểm tra việc thực hiện, đảm bảo chính sách đến được đúng đối tượng, không để xảy ra tiêu cực, thất thoát.

- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh tiếp tục phát huy cuộc vận động“Ngày vì người nghèo”, phối hợp với chính quyền các cấp vận động tạo thêm nguồn lực hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu760/QĐ-UBND
Ngày ban hành17/04/2009
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực17/04/2009
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Hưng Yên / Nguyễn Thanh Quán
Phạm viHưng Yên
Trích yếuVề việc ban hành Đề án Hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.