|
UBND TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Số: 8421/2003/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ngày 18 tháng 09 năm 2003 |
QUYẾT ĐỊNH CỦA UBND TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
V/ v Ban hành Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệptỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2010
_________
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) ngày 21/6/1994;
Căn cứ Nghị quyết số 13/NQ-TW ngày 18/3/ 2002 của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể và Chương trình hành động số 19/CTr-TU ngày 07/6/2002 của Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu;
Căn cứ Quyết định số 94/2002/QĐ-TTg ngày 17/7/2002 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 13/NQ-TW của hội nghị lần thứ 5 BCH.TW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX về tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể;
Căn cứ Quyết định số 7764/2002/QĐ-UB ngày 18/9/2002 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu v Ban hành kế hoạch thực hiện Quyết định số 94/2002/QĐ-TTg ngày 17/7/2002 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 13/NQ-TW của hội nghị lần thứ 5 BCH.TW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX;
Theo đề nghị của BCĐ Đổi mới, nâng cao hiệu quả và phát triển kinh tế tập thể tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều I:Ban hành kèm theo quyết định này Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2010.
Điều II:Chánh Văn phòng HĐND & UBND tỉnh, Giám đốc các sở, ban ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký.
TM. UBND TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Hồ Văn Niên
KẾ HOẠCH
Phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2010
(Ban hành kèm theo Quyết định số 8421/2003/QĐ-UBND ngày 18/9/2003 củaUBND tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu)
PHẦN THỨ I
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HỢP TÁC XÃVÀ TỔ HỢP TÁC NÔNG NGHIỆP
I. Tình hình các hợp tác xã, tổ hợp tác trong nông nghiệp:
1. Tình hình cơ bản:
Trên địa bàn tỉnh hiện có 04 HTX nông nghiệp, trong đó: 03 HTX nông nghiệp được thành lập từ năm 1986 từ các tập đoàn sản xuất, gồm: HTX nông nghiệp Quyết Thắng áp dụng hình thức khoán việc, 02 HTX nông nghiệp Quyết Tiến và An Nhứt áp dụng hình thức khoán gọn; 01 HTX nông nghiệp Long Điền thành lập trong năm 2001 mới đi vào hoạt động.
Sau khi Luật Hợp tác xã ban hành, 03 HTX cũ đều thực hiện chuyển đổi và duy trì hoạt động có hiệu quả. Số liệu tình hình cơ bản hiện nay như sau:
CHỈ TIÊU
ĐVT
TỔNG
SỐ
CHIA RA
HTX
Quyết Thắng
HTX
An Nhứt
HTX
Quyết Tiến
HTX
Long Điền
Hộ xã viên
hộ
1.009 51
410
185
363
Xã viên
người
1.389 68
753
205
363
Nhân khẩu
khẩu
4.476 305
1.352 Đất nông nghệp
ha
649,68
82,5
204
51,18
312
Trong đó đất lúa
ha
619,68
52,5
204
51,18
312
Đất lâm nghiệp
ha
27,5
26
1,5
-
-
Đất NTTS
ha
177
177
-
-
-
Đất làm thủy sản
ha
56
56
-
-
-
Tài sản cố định HTX đang quản lý
triệu
đồng
3.737 320
198
-
2. Về cơ sở vật chất kỹ thuật và vốn:
03 HTX cũ đều có trụ sở làm việc, nhà kho, sân phơi, máy móc thiết bị... trong đó HTX Quyết Thắng có cơ sở vật chất đảm bảo nhất, nhưng từ khi chuyển đổi, HTX đã bán lại hoặc cho hộ xã viên thuê các tài sản như: máy cày, máy tuốt lúa, máy sấy... hộ xã viên phục vụ sản xuất trong nội bộ HTX khi có yêu cầu. Riêng HTX Long Điền mới thành lập năm 2001 nên trụ sở làm việc được giao sử dụng tạm thời.
Đến cuối năm 2000, giá trị tài sản cố định các HTX là: 4.225 triệu đồng; bình quân 1 HTX là: 1.408 triệu đồng. Tổng vốn góp của xã viên: 3.044 triệu đồng; bình quân 01 HTX là: 1.064,73 triệu đồng. Bình quân vốn góp của một xã viên là: 39.705.882 đồng.
3. Cơ cấu tổ chức bộ máy:
Tổng số nhân sự quản lý của các HTX là: 27 người, trung bình một HTX có 8 người, riêng HTX Long Điền có 03 người. Như vậy, nhân sự bộ máy các HTX gọn nhẹ, đáp ứng được yêu cầu quản lý của HTX. Mỗi HTX đều có chủ nhiệm, phó chủ nhiệm, trưởng ban kiểm soát, kế toán trưởng và các thành viên khác. Cán bộ quản lý đều có trình độ học vấn từ cấp II, III trở lên, có một chủ nhiệm có trình độ đại học, có 11 người được bồi dưỡng nghiệp vụ từ một tháng trở lên, trong đó có 3 chủ nhiệm, 2 kế toán và 1 trưởng ban kiểm soát.
Về tiền lương: lương chủ nhiệm HTX bình quân là: 540.000 đ/tháng, kế toán trưởng là: 462.000 đ/tháng. Riêng HTX Quyết Thắng, lương chủ nhiệm là: 1.200.000 đ/tháng, phó chủ nhiệm và trưởng ban kiểm soát là: 1.000.000đ/tháng.
4. Hoạt động của HTX:
Hoạt động sản xuất của các HTX chủ yếu là cây lúa. Từ khi chuyển đổi các HTX chỉ làm dịch vụ cho hộ xã viên. Việc sản xuất, mỗi hộ xã viên tự lo.
Các loại hình dịch vụ của các HTX gồm:
a. Thuỷ lợi: HTX Quyết Tiến thực hiện thủy lợi từ khâu nạo vét kênh mương từ kênh đầu mối đến dẫn nước vào ruộng, xã viên chỉ chăm sóc cây lúa, vào cuối vụ mới thanh toán thủy lợi phí cho HTX, loại dịch vụ này lấy thu bù chi, không lấy lãi. HTX Quyết Thắng, HTX An Nhứt và HTX Long Điền lập các tổ thủy lợi để lo nước cho bà con xã viên.
b. Dịch vụ giống: HTX Quyết Thắng khoanh vùng 9,5 ha chuyên canh sản xuất lúa giống để cung ứng 100% cho xã viên và bà con nông dân bên ngoài.
c. Cung ứng vật tư: HTX Quyết Tiến tổ chức cung ứng vật tư cho xã viên và bà con bên ngoài. Đối với xã viên, HTX xuất bán nợ đến cuối vụ mới thu tiền, giá tương đương với bên ngoài.
d. Dịch vụ làm đất: HTX An Nhứt đảm nhận khâu làm đất cho 100% xã viên bằng cách đi thuê máy cày làm đất cho HTX, giá cả thấp hơn thuê ngoài.
đ. Hoạt dộng dịch vụ khác: Định kỳ, các HTX mời cán bộ kỹ thuật của Chi cục Bảo vệ Thực vật, Trung tâm Khuyến Nông - Khuyến lâm đến thăm đồng và hướng dẫn phòng trừ sâu bệnh cho lúa, hướng dẫn phòng trừ dịch bệnh tổng hợp IPM, FPR, tổ chức tập huấn chuyển giao các tiến bộ KHKT về trồng trọt và chăn nuôi cho xã viên. HTX Quyết Thắng ngoài diện tích sản xuất lúa, còn có các hoạt động sản xuất khác như: nuôi trồng thủy sản (177 ha), trồng điều (30 ha), trồng bạch đàn (26 ha) và dự kiến phát triển du lịch (56 ha). HTX Quyết Tiến cho thuê trụ sở và làm tín dụng nội bộ. HTX An Nhứt cũng làm tín dụng nội bộ bằng cách cho các hộ nghèo thiếu vốn vay theo mức: 300.000 đồng/ha/vụ để chi phí phục vụ sản xuất, mức lãi suất bằng với lãi suất vay ngân hàng. Nguồn vốn cho vay ít nhưng cũng giúp cho các hộ nghèo có vốn sản xuất.
5. Kết quả hoạt động:
HTX Quyết Thắng đạt năng suất lúa bình quân 3,9 tấn/ha, mỗi lao động thu được 8,8 tấn lúa/năm; HTX An Nhứt năng suất lúa 3,3 tấn/ha, mỗi lao động thu được 3,9 tấn lúa/năm; HTX Quyết Tiến năng suất lúa 4,0 tấn/ha, mỗi lao động thu được 2,56 tấn lúa/năm. Hoạt động SXKD của các HTX hàng năm đều có lãi. Năm 2000, HTX Quyết Thắng lãi: 63 triệu đồng, HTX Quyết Tiến lãi: 26 triệu đồng, HTX An Nhứt lãi: 173 triệu đồng.
Do các hộ xã viên không chỉ đơn thuần làm nông nghiệp, còn làm nhiều ngành nghề khác sản xuất phụ mà HTX không quản lý nên đời sống của xã viên tương đối ổn định.
6. Thực hiện các chính sách xã hội:
Các HTX đều có đóng góp vào các quỹ tại địa phương như hỗ trợ các trường học xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, phát thưởng cho học sinh và thầy cô giáo nhân ngày hiến chương các nhà giáo 20/11, hỗ trợ học bổng cho các học sinh nghèo hiếu học, thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa như hỗ trợ gia đình thương binh liệt sĩ, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng và các quỹ như xây nhà tình nghĩa - tình thương, hỗ trợ ma chay - cưới hỏi,...
7. Sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền đối với HTX:
Các HTX chịu sụ lãnh đạo trực tiếp từ Đảng ủy và UBND xã, Đảng ủy và UBND xã nắm tình hình hoạt động của các HTX qua các cuộc họp giao ban hoặc qua tiếp xúc trực tiếp đã kịp thời giải quyết các vướng mắc trong phạm vi địa phương nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các HTX hoạt động. Riêng HTX Quyết Thắng đã thành lập được một chi bộ có 5 đảng viên, 1 chi đoàn thanh niên, 1 chi hội phụ nữ và 1 chi hội nông dân.
Trong lĩnh vực quản lý Nhà nước ngành nông nghiệp, Sở Nông nghiệp & PTNT đã chỉ đạo các phòng Nông nghiệp huyện, phòng kinh tế thị xã, Chi cục Thú y, Chi cục BVTV, Trung tâm Khuyến nông - Khuyến lâm, Chi cục Quản lý Thủy nông theo chức năng của mình hỗ trợ các HTX trong sản xuất.
Về đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: trong thời gian qua, cùng với các chương trình lồng ghép, các HTX đã được tỉnh đầu tư xây dựng: hệ thống công trình thủy lợi, đường giao thông nội đồng, điện 3 pha,... phục vụ sản xuất.
8. Tình hình hoạt động của các tổ hợp tác:
Trong những năm gần đây, do yêu cầu của những hộ nông dân cư ngụ trên cùng địa bàn thấy cần thiết phải có sự liên kết để hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nên đã hình thành các tổ hợp tác một cách tự phát, trước mắt đã đáp ứng được yêu cầu của bà con nông dân, tuy nhiên do hình thành trong phạm vi nhỏ, số lượng thành viên ít nên hiệu quả hoạt động còn hạn chế.
Theo số liệu điều tra năm 1997 của Ban Kinh tế Tỉnh ủy, trên địa bàn tỉnh có: 618 tổ hợp tác với các hình thức khác nhau, cụ thể:
- Tập đoàn sản xuất nông nghiệp cũ còn tồn tại (cây lúa): 45.
- Tổ sản xuất nông nghiệp (nấm, rau, chăn nuôi, nuôi cá): 73.
- Tổ sản xuất lâm nghiệp (trồng rừng, BVR): 35.
- Tổ dịch vụ nông nghiệp (suốt, cấy, gặt, thủy lợi): 181
- Tổ gánh muối: 03
- Tổ thủy sản (đánh bắt, nuôi trồng): 281
Hiện nay, về số lượng có tăng lên, đặc biệt là các tổ sản xuất cây ăn quả.
9. Đánh giá kết quả đạt được và những hạn chế:
a. Kết quả:
- Bộ máy quản lý các HTX được tổ chức gọn nhẹ và hoạt động có hiệu quả. Tài sản của HTX được sắp xếp, bố trí sử dụng hợp lý, hoạt động dịch vụ đầu vào, tín dụng của các HTX được tổ chức thực hiện tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất của hộ xã viên, đặc biệt các hộ nghèo.
- Các HTX thực hiện các hình thức khoán, giao cho hộ xã viên tự chủ trong sản xuất nên các hộ đã sắp xếp công việc một cách hợp lý, đầu tư chăm sóc đúng mức nên năng suất đạt cao, sản xuất có lãi.
- Các HTX đã tham gia tích cực trong việc thực hiện các chính sách xã hội ở địa phưong.
- Việc hình thành các tổ hợp tác trong sản xuất nông nghiệp là phù hợp với yêu cầu sản xuất trong tình hình mới về qui mô, chất lượng, sản lượng sản phẩm hàng hóa để đáp ứng yêu cầu tiêu thụ; là cơ sở để phát triển lên các hình thức hợp tác kinh tế ở mức cao hơn.
b. Hạn chế:
- Hoạt động của các HTX chủ yếu là cung cấp dịch vụ đầu vào: làm đất thủy lợi, giống, vật tư phân bón, hướng dẫn kỹ thuật,... hầu như các HTX chưa giải quyết được đầu ra của sản phẩm cho xã viên. Chưa thực hiện chuyển đổi cơ cấu sản xuất, chủ yếu sản xuất lúa nước, nên hiệu quả kinh tế trên ha đất nông nghiệp còn thấp.
- Các HTX chưa đổi mới, phát triển mở rộng các ngành nghề hoạt động nên hiệu quả hoạt động chưa cao, nguyên nhân một phần do các chính sách khuyến khích phát triển HTX của Nhà nước về: vốn tín dụng, đào tạo cán bộ, xây dựng cơ sở hạ tầng... chưa được thực hiện.
Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý HTX còn thấp, đội ngũ cán bộ kỹ thuật còn thiếu do lãi hoạt động của các HTX ít nên khó khăn về kinh phí đào tạo.
Mặc dù được Nhà nước quan tâm đầu tư trong thời gian qua, nhưng nhìn chung hệ thống cơ sở hạ tầng của các HTX còn yếu chưa đảm bảo phục vụ sản xuất, như: hệ thống kênh nội đồng chưa được kiên cố, điện phục vụ sản xuất còn thiếu...
- Chức năng quản lý Nhà nước đối với HTX không rõ ràng nên hiệu quả quản lý không cao, chưa góp phần giải quyết khó khăn, tạo điều kiện cho các HTX nói riêng và các hình thức hợp tác kinh tế nói chung phát triển.
PHẦN THỨ HAI
MỤC TIÊU - NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HTX,TỔ HỢP TÁC NÔNG NGHIỆP ĐẾN NĂM 2010
Các nghị quyết của Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX như nghị quyết số 13 về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể và nghị quyết số 15 về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn thời kỳ 2001 - 2010. Chương trình số 19-CTr/TU của Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu thực hiện Nghị quyết 13- NQ/TW của BCH Trung ương khóa IX đã xác định nông nghiệp giữ vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Trong những năm tới nông nghiệp cũng vẫn là ngành sản xuất chủ đạo thúc đẩy sự phát triển kinh tế quốc dân. Để nông nghiệp kích thích được các hoạt động kinh tế nông thôn, nâng cao mức sống của những người là nông nghiệp, góp phần phát triển, công nghiệp hóa hiện đại hóa nền nông nghiệp thì vai trò của các HTX nông nghiệp là hết sức to lớn. Những năm qua, các HTX và tổ hợp tác nông nghiệp với quy mô, trình độ khác nhau trong những lĩnh vực chuyên sâu trong nông nghiệp đã đáp ứng một phần yêu cầu của người lao động, hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp. Do đó, khôi phục và phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn tỉnh nhà là yêu cầu tất yếu, khách quan nhằm phát triển nông nghiệp và nông thôn thích ứng với nền kinh tế thị trường.
I. Quan điểm về đổi mới và Phát triển HTX, tổ hợp tác nông nghiệp:
1. Tổ chức và hoạt động:
- HTX nông nghiệp là một tổ chức kinh tế, dựa trên nguyên tắc tự nguyện của các xã viên hoàn toàn tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình trong cơ chế kinh tế thị trường. Hoạt động của HTX lấy lợi ích kinh tế làm chính, bao gồm lợi ích của các thành viên và lợi ích tập thể; đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của các thành viên.
- Tổ hợp tác nông nghiệp là một hình thức tổ chức kinh tế tập thể, có quy mô nhỏ hơn và trình độ hợp tác thấp hơn, lĩnh vực hoạt động hẹp hơn so với hình thức tổ chức HTX.
2. HTX và tổ hợp tác nông nghiệp do các thành viên tự nguyện gia nhập bao gồm người nông dân, người lao động nông nghiệp, hộ gia đình sản xuất kinh doanh nông nghiệp... góp sức hoặc góp vốn cổ phần xây dựng nên, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ. HTX, tổ hợp tác không thủ tiêu tính tự chủ sản xuất kinh doanh của các thành viên, làm những gì mà mỗi thành viên riêng lẻ không làm được hoặc làm không có hiệu quả để hỗ trợ cho các thành viên phát triển.
3. HTX, tổ hợp tác không tập thể hóa mọi tư liệu sản xuất của các thành viên, mà dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể. Sở hữu tập thể bao gồm các loại quỹ không chia, tài sản trước đây được giao lại cho tập thể sử dụng làm tài sản không chia, những tài sản do quá trình tích lũy của HTX, tổ hợp tác tạo nên.
4. HTX là hình thức hợp tác đa chức năng, từ hợp tác trong khâu sản xuất, đến khâu dịch vụ và tiêu thụ nông sản phẩm. Trước hết tập trung làm các dịch vụ đầu vào, đầu ra phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của các hộ thành viên.
Tổ hợp tác nông nghiệp là hình thức hợp tác trong khâu sản xuất hoặc khâu dịch vụ (hay khâu tiêu thụ sản phẩm). Mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết kinh tế giữa tổ hợp tác, HTX với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm. Khi HTX phát triển ở mức độ cao hơn thì sẽ hình thành liên hiệp HTX; tổ hợp tác sẽ hình thành HTX.
5. Hình thức phân phối trong HTX, tổ hợp tác vừa theo lao động, vừa theo vốn cổ phần và theo mức độ tham gia dịch vụ.
6. Phát triển HTX, tổ hợp tác theo phương châm tích cực nhưng vững chắc, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, vì sự phát triển của sản xuất, đi từ thấp đến cao, đạt hiệu quả thiết thực. Phát triển HTX, tổ hợp tác trên cơ sở bảo đảm quyền tự chủ của kinh tế hộ, trang trại; hỗ trợ đắc lực cho kinh tế hộ, trang trại phát triển sức sản xuất, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực quốc tế.
II. Mục tiêu:
1. Mục tiêu định hướng đến năm 2010:
- Trong những năm tới để kinh tế tập thể đủ sức cùng với kinh tế Nhà nước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân theo tinh thần nghị quyết Đại hội IX của Đảng; các cấp, các ngành theo chức năng nhiệm vụ được giao có trách nhiệm phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp với hình thức chủ yếu là HTX và tổ hợp tác thoát khỏi những yếu kém hiện nay.
- Tiếp tục củng cố tổ chức hoạt động của các hợp tác xã và tổ hợp tác hiện có; phấn đấu xây dựng hình thành ít nhất từ 30-32 hợp tác xã và 320 tổ hợp tác trong sản xuất nông - diêm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản.
Chuyển dịch tổ chức hoạt dộng hợp tác xã, tổ hợp tác trong các lĩnh vực cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả; sản xuất, dịch vụ cây con giống; chăn nuôi gia súc, gia cầm; kinh doanh dịch vụ tổng hợp...
2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2005:
- Tăng cường năng lực quản lý Nhà nước của UBND các cấp và các ngành liên quan đối với kinh tế tập thể trong nông nghiệp.
- Củng cố tổ chức hoạt động của 4 HTX và tổ nông nghiệp hiện có, nâng dần quy mô, trình độ, hiệu quả kinh tế cao hơn so trước đây; đồng thời phát triển thêm từ 10 -12 HTX trong các khâu sản xuất - dịch vụ, tiêu thụ nông sản ở các huyện. Mỗi huyện tối thiểu phải vận động xây dựng mới 02 HTX và 14 -15 tổ hợp tác.
- Xác lập vai trò chủ yếu của HTX và tổ hợp tác là làm dịch vụ đầu vào, tập trung giải quyết tốt đầu ra của nông sản phẩm, phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của mỗi hộ. Chuyển dịch mạnh hoạt động sản xuất lúa sang trồng các loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hoặc sản xuất, dịch vụ chăn nuôi.
III. Nhiệm vụ:
1. Xác lập môi trường tâm lý xã hội thuận lợi cho HTX và tổ hợp tác nông nghiệp phát triển:
Quán triệt, thống nhất nhận thức, làm cho thông suốt trong cán bộ Đảng viên, đối với quần chúng nhân dân, người nông dân về quan điểm chỉ đạo mục tiêu, chủ trương, chính sách phát triển HTX, tổ hợp tác nông nghiệp của tỉnh; về sự cần thiết phải tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo yêu cầu phải liên kết, hợp tác giữa các hộ cá thể với nhau để tồn tại và phát triển trong kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt hiện nay; về mô hình và đặc trưng của HTX kiểu mới và tổ hợp tác nông nghiệp.
2. Xác lập vai trò - củng cố và phát triển HTX, tổ hợp tác kiểu mới:
- Tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, chuyển dịch nhanh cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế nông nghiệp; trong đó thông qua các HTX, tổ hợp tác là trọng tâm nhằm tăng cường liên kết, hợp tác với nhau giữa những người lao dộng riêng lẻ, những hộ nông dân cá thể, kinh tế trang trại và giữa kinh tế tập thể trong nông nghiệp với các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế khác.
- Củng cố và phát triển HTX, tổ hợp tác thông qua cải tiến hệ thống tổ chức quản lý hiện nay từ các HTX, tổ hợp tác đơn chức năng hình thành các HTX, tổ hợp tác đa chức năng; tiến hành các hoạt động từ sản xuất đến dịch vụ và tiêu thụ kinh doanh nông sản phẩm. Trên cơ sở đó phát huy và nâng cao dần hoạt động, hiệu quả kinh tế của HTX, tổ hợp tác.
3. Cụ thể hóa thể chế, chính sách phát triển HTX, tổ hợp tác trên địa bàn tỉnh:
- Tăng cường tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chính sách của tỉnh về phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp.
- Cụ thể hóa luật HTX và một số quy định của các luật đã ban hành có liên quan đến kinh tế tập thể phù hợp với đặc thù kinh tế tập thể trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh để các HTX, tổ hợp tác dễ vận dụng trong tổ chức và hoạt động như: chính sách về đất đai, chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, chính sách tài chính tín dụng, chính sách hỗ trợ về khoa học công nghệ, chính sách hỗ trợ tiếp cận thị trường.
4. Phát triển nguồn nhân lực:
Củng cố và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ có đủ phẩm chất và năng lực cho kinh tế tập thể trong nông nghiệp của tỉnh, đáp ứng yêu cầu phát triển HTX, tổ hợp tác nông nghiệp trong giai đoạn tới.
5. Tăng cường năng lực quản lý Nhà nước: của UBND cấp huyện, xã của sở Nông nghiệp và PTNT, liên minh các HTX và các sở ban ngành liên quan đối với HTX và tổ hợp tác nông nghiệp trên địa bàn tỉnh để phát triển hiệu quả kinh tế tập thể trong nông nghiệp ở mức độ cao hơn.
IV. Giải pháp:
Nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển HTX và tổ hợp tác nông nghiệp đến năm 2005 và 2010, các ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố cần tập trung sức hoàn thành các nhiệm vụ chủ yếu nêu trên để phát triển và nâng cao một bước cả về chất và lượng đối với HTX và tổ hợp tác nông nghiệp của tỉnh qua thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
1- Tăng cường công tác tuyên truyền vận động:
- Sở Nông nghiệp và PTNT cùng với Hội nông dân, liên minh các HTX và UBND các huyện, thị xã, thành phố đẩy mạnh công tác giáo dục tuyên truyền vận động thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, chính sách của tỉnh về phát triển HTX và tổ hợp tác nông nghiệp để người lao động nông nghiệp, hộ nông dân, hộ kinh tế trang trại... hiểu và tự giác, tự nguyện tham gia vào các tổ hợp tác, HTX nông nghiệp trên địa bàn.
- Xây dựng chương trình, kế hoạch kinh phí đầu tư cho công tác tuyên truyền quảng bá về HTX và tổ hợp tác kiểu mới, các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp của Đảng và Nhà nước, phát triển những lợi ích kinh tế và xã hội của các thành viên HTX và tổ hợp tác trong nền sản xuất hàng hóa.
- Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn kịp thời và nhân rộng các mô hình HTX, tổ hợp tác làm ăn có hiệu quả. Biểu dương, khen thưởng những cá nhân và tập thể có thành tích, có sự đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế tập thể.
2- Củng cố các HTX, tổ hợp tác nông nghiệp hiện có:
- Củng cố, cải tiến hệ thống tổ chức quản lý các HTX và tổ hợp tác hiện nay từ sản xuất một số sản phẩm nhất định hoặc từng khâu, lĩnh vực hẹp trong sản xuất thành các HTX đa chức năng hoạt động từ khâu sản xuất đến dịch vụ và tiêu thụ sản phẩm.
- Tổ chức lại sản xuất của HTX và tổ hợp tác theo hướng sản xuất hàng hóa lớn tập trung và khép kín để phát huy tối đa hiệu quả.
- Rà soát lại năng lực của cán bộ, của các HTX và tổ hợp tác, nhất là đội ngũ cán bộ quản lý; Trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch củng cố, sắp xếp và đào tạo lại đội ngũ cán bộ.
- Thực hiện cơ chế gắn doanh nghiệp với HTX theo quyết định 80 của Chính phủ về sản xuất và tiêu thụ nông lâm sản thông qua hợp đồng.
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo các cơ quan: khuyến nông, thú y, bảo vệ thực vật phối hợp với HTX và tổ hợp tác tổ chức ứng dụng nhanh công nghệ sản xuất tiên tiến, các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao vào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm.
- Phân loại các HTX và tổ hợp tác theo các diện mạnh, trung bình và yếu kém để có giải pháp củng cố phù hợp như xử lý dứt điểm nợ tồn đọng, đầu tư hỗ trợ cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cơ sở làm việc và điều kiện sản xuất đối với HTX và tổ hợp tác phù hợp theo các diện đã được phân loại.
3- Phát triển các HTX và tổ hợp tác gắn với việc rà soát quy hoạch lại phát triển nông nghiệp của tỉnh:
- Tổ chức, rà soát quy hoạch phát triển nông nghiệp trên địa bàn đến 2005 và 2010 gắn với việc củng cố, phát triển các HTX, tổ hợp tác nông nghiệp hiện có; Đồng thời hình thành và phát triển HTX và tổ hợp tác mới, phù hợp theo lĩnh vực và nhịp độ tăng trưởng nông nghiệp, vừa theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn kết sản xuất với tiêu thụ sản phẩm.
- Hỗ trợ đầu tư giúp các HTX và tổ hợp tác ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ trong sản xuất, bảo quản và chế biến, nhất là khâu giống và quy trình công nghệ sản xuất. Qua dó giúp các HTX và tổ hợp tác tổ chức lại sản xuất theo hướng chuyển dịch nhanh cơ cấu sản xuất phù hợp với lợi thế đất đai của từng vùng sinh thái và nhu cầu tiêu thụ của thị trường.
- Tăng cường vốn hoạt động của HTX và tổ hợp tác thông qua vốn tín dụng từ quỹ hỗ trợ sản xuất với lãi suất ưu đãi, vốn liên kết với các thành phần kinh tế khác thông qua hợp đồng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm và huy động cổ phần từ các thành viên.
- Hỗ trợ đầu tư giúp các HTX và tổ hợp tác đa dạng các loại hình sản xuất kinh doanh, chất lượng và chủng loại các loại hàng hóa đáp ứng yêu cầu của thị trường. Thông qua các chương trình khuyến công, khuyến nông, khuyến diêm, chính sách khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất.
4- Thực hiện chính sách phát triển HTX và tổ hợp tác:
- Chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: Nhà nước đầu tư, hoặc đầu tư hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật như thủy lợi, điện, giao thông nông thôn, trụ sở nhà làm việc cho HTX, tổ hợp tác nông nghiệp tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển kinh tể tập thể trong nông nghiệp, phát triển sản xuất hàng hóa lớn, phát triển nông nghiệp nông thôn tỉnh.
- Chính sách tài chính tín dụng: Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trong hạn điền và miễn thuế sử dụng đất ngoài hạn điền cho các hộ thành viên HTX, tổ hợp tác. Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các HTX và giảm thuế cho các tổ hợp tác mới thành lập, hoặc mới xây dựng từ tổ hợp tác thành HTX theo quy định của pháp luật.
- Khuyến khích sự đóng góp của các thành viên bằng hình thức như: tiền, tài sản, giá trị quyền sử dụng đất... nhằm tăng cường vốn sản xuất, kinh doanh cho HTX, tổ hợp tác.
- Chính sách về thị trường tiêu thụ sản phẩm: Hỗ trợ tiếp cận thị trường và tiêu thụ sản phẩm: Hỗ trợ xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin thị trường và tổ chức các hình thức giới thiệu sản phẩm như hội chợ, hội thảo... qua đó giúp HTX và tổ hợp tác tiếp cận được thị trường.
- Thực hiện rộng rãi việc ký kết hợp đồng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp và các hộ xã viên, hộ nông dân thông qua các HTX và tổ hợp tác; Đồng thời thực hiện tốt chế độ ưu đãi về tài chính, tín dụng đối với các doanh nghiệp tiêu thụ nông sản có hợp đồng.
5- Tác động của Nhà nước đối vđi kinh tế tập thể:
Trên cơ sở chương trình tổng thể về phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp đến 2005 và 2010 của UBND tỉnh, các sở ngành: nông nghiệp phát triển nông thôn, thương mại, ngân hàng, công nghiệp... và UBND các huyện, thị xã, thành phố xây dựng cụ thể chương trình, dự án đầu tư phát triển HTX và tổ hợp tác nông nghiệp phù hợp với chức năng nhiệm vụ của mỗi ngành mỗi cấp.
+ Đất đai:Giao đất không thu tiền và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho HTX nông nghiệp xây dựng trụ sở, làm cơ sở sản xuất, kinh doanh; cho thuê đất dài hạn và xem xét giảm mức nộp tiền thuê đất trong một thời gian nhất định đối với các tổ hợp tác nông nghiệp. Khuyến khích và tạo điều kiện cho các hộ nông dân dồn điền đổi thửa.
+ Vốn đầu tư
Để phát triển các tổ hợp tác và HTX một cách tích cực nhưng vững chắc, nâng cao hiệu quả kinh tế thông qua các hoạt động từ sản xuất đến dịch vụ tiêu thụ và kinh doanh nông sản phẩm. Cần thiết phải đầu tư vốn để cải thiện nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng; đầu tư trang bị máy móc, thiết bị, nhà xưởng và điều kiện để tổ chức sản xuất kinh doanh cho các tổ hợp tác và HTX. Nhu cầu vốn đầu tư bao gồm: vốn đầu tư hỗ trợ từ ngân sách tỉnh, vốn tín dụng ngân hàng và vốn huy động cổ phần từ các thành viên. Trong đó:
- Vốn ngân sách tỉnh: Đầu tư xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng bao gồm: đường giao thông, điện phục vụ sản xuất, hệ thống thủy lợi. Nguồn vốn này chiếm khoảng 30% tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển HTX và tổ hợp tác.
- Vốn tín dụng và vốn huy động cổ phần: Đầu tư xây dựng trụ sở làm việc nhà kho, nhà xưởng, sân phơi, máy móc thiết bị... để phục vụ cho hoạt động sản xuất, dịch vụ chế biến kinh doanh của tổ hợp tác và HTX, nguồn vốn này chiếm 70% tổng nhu cầu vốn đầu tư, trong đó vốn huy động chiếm tỷ lệ khoảng 40% và vốn tín dụng khoảng 60%.
+ Hoàn thiện tổ chức quản lý và đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp:
- Trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương VI về củng cố sắp xếp hệ thống tổ chức bộ máy, Sở nông nghiệp và PTNT, liên minh HTX, các huyện, thị xã, thành phố, các ngành có liên quan phải có bộ phận quản lý chuyên trách phù hợp để theo dõi tổng hợp, hướng dẫn thực hiện các chính sách, nghiệp vụ đối với lĩnh vực kinh tế này; đồng thời tuyên truyền nhân rộng các mô hình có hiệu quả; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo cán bộ cho HTX và tổ hợp tác.
- Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp với UBND các huyện, thị xã, thành phố, liên minh các HTX chủ động xây dựng quy hoạch, kế hoạch và đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ, công nhân kỹ thuật cho kinh tế tập thể trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Phối hợp với trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh, trường Quản lý Nông nghiệp II xây dựng chương trình đào tạo nâng cao kiến thức và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ phù hợp cho các đối tượng là cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn kỹ thuật và xã viên ở các HTX nông nghiệp. UBND tỉnh hỗ trợ toàn bộ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho HTX và tổ hợp tác nông nghiệp.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần củng cố Phòng chính sách, tăng cường thêm từ 01- 02 cán bộ chuyên quản theo dõi tổ chức, hoạt động của kinh tế hợp tác và HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. UBND các huyện, thị xã, thành phố cần bố trí thêm 01 cán bộ cho Phòng Địa chính - Nông nghiệp chuyên trách theo dõi tình hình tổ chức thực hiện các chính sách và tổ chức hoạt động của kinh tế hợp tác và HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện, thị, thành phố.
- Xây dựng và thực hiện chính sách thu hút lao động là cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật giỏi để điều động luân chuyển, tăng cường về hỗ trợ công tác tại HTX trong giai đoạn củng cố và mới thành lập. Ngân sách tỉnh hỗ trợ thêm tiền lương, phụ cấp, chế độ BHXH và y tế cho cán bộ nói trên ngoài phần thu nhập do HTX trả theo hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Tăng cường vai trò, trách nhiệm của liên minh HTX tỉnh trong việc phát triển kinh tế tập thể trên địa bàn, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp.
+ Hỗ trợ ứng dụng khoa học- công nghệ vào sản xuất:
Ủy ban nhân dân tỉnh đầu tư hỗ trợ 30% vốn cho kinh tế tập thể, HTX, tổ hợp tác nông nghiệp trên địa bàn tỉnh khi có dự án ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ nhất là chương trình dự án giống, quy trình công nghệ sản xuất tiên tiến, các mô hình ứng dụng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, đầu tư xây dựng các cơ sở chế biến nông lâm sản thuộc HTX và tổ hợp tác.
6. Tiến độ phát triển:
+ Dự kiến đến năm 2005 củng cố và phát triển 12 HTX, và 118 tổ hợp tác trong đó:
- Huyện Long Đất: củng cố 02 HTX Nông nghiệp và xây dựng mới 01 HTX chăn nuôi trên tinh thần lồng ghép các chương trình Quốc gia về giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế...
- Huyện Tân Thành: Phát triển mới 02 HTX: 1 HTX chăn nuôi bò và 01 HTX chăn nuôi bò sữa.
- Huyện Châu Đức: Phát triển mới 01 HTX nuôi trồng thuỷ sản (nước ngọt).
- Huyện Xuyên Mộc: phát triển mới 02 HTX: 01 HTX sản xuất-dịch vụ nông nghiệp và 01 HTX nuôi trồng thuỷ sản.
- Thị xã Bà Rịa: củng cố 02 HTX nông nghiệp, phát triển mới 02 HTX: chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản.
+ Đến năm 2010: củng cố và phát triển 32 HTX và 320 tổ hợp tác nông nghiệp, diêm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản.
VI. Tổ chức thực hiện:
1. Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp là một trong những nội dung của kế hoạch UBND tỉnh V/v thực hiện quyết định số 94/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 13-NQ/TW của hội nghị lần thứ 5 BCH/TW Đảng khóa IX về tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả của kinh tế tập thể. Do dó, việc chỉ đạo điều hành kế hoạch này do BCĐ đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể thực hiện.
2. Phân công trách nhiệm, tăng cường sự phối hợp giữa các ngành các cấp.
2.1/ Liên minh các hợp tác xã của tỉnh là cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đổi mới, phát triển kinh tế tập thể có trách nhiệm hướng dẫn, giúp đỡ phối hợp các sở, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án, kế hoạch phát triển kinh tế tập thể theo sự chỉ đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh.
2.2/ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện các nhiệm vụ sau:
+ Xây dựng dự án và vốn đầu tư của kế hoạch phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp tỉnh hàng năm thông qua Ban Chỉ đạo, trình UBND tỉnh phê duyệt để triển khai thực hiện.
+ Lãnh đạo các đơn vị chuyên môn trực thuộc thực hiện tốt các hoạt động phục vụ phát triển các tổ hợp tác và HTX nông nghiệp.
+ Tham gia cùng với các ngành trong quá trình thực hiện kế hoạch, các dự án dầu tư phát triển các tổ hợp tác và HTX nông nghiệp.
+ Tổ chức sơ tổng kết đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch hàng năm trên địa bàn tỉnh.
2.3/ Các sở ngành:
+ Xây dựng kế hoạch đầu tư phát triển các tổ hợp tác và HTX hàng năm theo lĩnh vực, trách nhiệm ngành mình được giao.
+ Sở Tài chính - Vật giá, Kế hoạch - Đầu tư, Ngân hàng Nông nghiệp tham mưu đề xuất UBND tỉnh bố trí vốn ngân sách đầu tư, lập Qũy hỗ trợ kinh tế tập thể và kế hoạch cho vay tín dụng hàng năm của Ngân hàng nông nghiệp để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp.
+ Tham gia cùng liên minh HTX và Sở Nông nghiệp & PTNT trong việc sơ tổng kết đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch hàng năm.
2.4/ UBND các huyện, thị, thành phố có trách nhiệm chủ trì phối hợp với các sở, ngành để củng cố, xây dựng, phát triển thêm nhiều tổ hợp tác và hợp tác xã trên địa bàn.
3. Tổ chức xây dựng điểm:
UBND tỉnh chọn huyện Long Đất làm điểm về phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp.
4. Kiến nghị với Quốc hội và Chính phủ về thể chế chính sách:
- Sửa đổi bổ sung luật HTX và luật quy định của Trung ương về kinh tế tập thể phù hợp với thời kỳ phát triển mới của xã hội, tạo điều kiện và hành lang pháp lý để HTX và tổ hợp tác nông nghiệp phát triển nhanh.
- Sửa đổi bổ sung điều lệ mẫu về HTX, phù hợp với đặc thù của HTX nông nghiệp.
- Ban hành các văn bản dưới luật để hướng dẫn tạo điều kiện pháp lý cho kinh tế tập thể dưới hình thức là tổ hợp tác phát triển.
Căn cứ kế hoạch phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2010, UBND tỉnh yêu cầu các ngành, các địa phương nghiên cứu triển khai tổ chức thực hiện.
TM. UBND TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Hồ Văn Niên
Bảng phân công thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp
STT
Nội dung công việc
Cơ quan chủ trì
Cơ quan phối hợp
Thời gian thực hiện hoàn thành
1
Kế hoạch củng cố các HTX.NN hiện có, vận động xây dựng thành lập HTX & tổ hợp tác NN mới ở các địa phương đến năm 2005-2010
UBND các huyện, thị,
TP.
Liên minh các HTX, Sở NN&PTNT.
Trong quý III/2003
2
Xây dựng kế hoạch đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng HTX.NN 2004-2005
Sở NN&PTNT
Các sở: LM các HTX, TC-VG, KH&ĐT
Trong quý IV/2003
3
Kế hoạch đào tạo nhân lực HTX NN; Cán bộ quản lý kinh tế TT trong NN ở tỉnh và huyện đến năm 2005-2010
Sở TN&MT
Các sỏ: Ban TCCQ, Liên Minh các HTX, TC-VG, KH&ĐT
Trong quý III/2003
4
Kế hoạch giải quyết việc cấp giấy CNQSDĐ cho các HTX.NN đang hoạt động & đề xuất chính sách cấp, cho thuê đất đối với HTX.NN để làm trụ sở, làm cơ sở SXKD.
Sở Địa chính
Các sở: Tài chính VG, NN&PTNT, UBND các huyện, TP TX.
Trong quý IV/2003
5
Đề xuất cơ chế, chính sách sử dụng đất NN trong và ngoài hạn điền; giảm, miễn thuế thu nhập cho HTX và Tổ hợp tác NN.
Cục Thuế tỉnh
Các Sở: TC-VG, TN&MT, NN&PTNT, UBND các huyện, TP, TX
Trong quý IV/2003
6
Kế hoạch chuyển giao ứng dụng các tiến bộ KH-CN vào sx ở các HTX.NN đến năm 2005-2010
Sở NN&PTNT
Các Sở: KHCN&MT, UBND các huyện, thị, TP.
Trong quý IV-2003
7
Xây dựng Kế hoạch phương án củng cố và phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở huyện điểm
UBND huyện Long Đất
Các Sở: NN&PTNT, Liên Minh các HTX. KH&ĐT, TC-VG, và các Sở ngành có liên quan
Trong quý IV/2003
8
Thành lập Quỹ hỗ trợ K. tế TT
Sở TC-VG
CN Quỹ hỗ trợ PT, KH-ĐT, LM HTX, Ngân hàng NN tỉnh, các ngành có Hèn quan
Quý
IV/ 2003
l