Quay lại

Quyết định 846/QĐ-BNV năm 2021 về Tài liệu bồi dưỡng đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành

BỘ NỘI VỤ
Số: 846 /QĐ-BNV
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 08 tháng 08 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

NĂM 2021 VỀ TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2021-2026 DO BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ BAN HÀNH

Căn cứ Nghị định số 34/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 của Chính phủ quy

định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ;

Căn cứ Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về

đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức;

Căn cứ Quyết định số 375/QĐ-BNV ngày 12/3/2021 của Bộ trưởng Bộ

Nội vụ về việc thành lập Ban Chỉ đạo biên soạn chương trình, tài liệu bồi dưỡng đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026;

Căn cứ Quyết định số 432/QĐ-BNV ngày 26/3/2021 của Bộ trưởng Bộ

Nội vụ về việc giao nhiệm vụ biên soạn chương trình, tài liệu bồi dưỡng đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026;

Căn cứ Quyết định số 799/QĐ-BNV ngày 08/7/2021 của Bộ trưởng Bộ

Nội vụ về việc thành lập Hội đồng thẩm định cấp Bộ tài liệu bồi dưỡng đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026;

Căn cứ Công văn số 934/HCQG ngày 20/7/2021 của Học viện Hành

chính Quốc gia về việc đề nghị ban hành tài liệu bồi dưỡng đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026;

Xét đề nghị của Vụ trưởng Vụ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này 02 bộ Tài liệu bồi dưỡng đại

biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, gồm: - 01 bộ Tài liệu bồi dưỡng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ

2021-2026;
- 01 bộ Tài liệu hướng dẫn bồi dưỡng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp
huyện, cấp xã nhiệm kỳ 2021-2026.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

Điều 3. Vụ trưởng Vụ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; Chánh Văn phòng Bộ; Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia; Thủ trưởng các đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Nơi nhận:
KT. BỘ TRƯỞNG

- Bộ trưởng (để báo cáo); - Như điều 3; THỨ TRƯỞNG

- Thứ trưởng Trương Hải Long;

- Lưu: VT, ĐT.

Trương Hải Long

BỘ NỘI VỤ

TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG

ĐAI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH

NHIỆM KỲ 2021- 2026

(Ean
Quyết định số 846 /QĐ-BNV ngày 08 tháng 08 năm 2021
của Bộ trưởng Bộ Nội vụ)
HÀ NỘI, THÁNG 8 NĂM 2021

BAN CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN

1. Đồng chí Phạm Thị Thanh Trà, Bộ trưởng Bộ Nội vụ- Trưởng ban.

2. Đồng chí Triệu Văn Cường, Thứ trưởng Bộ Nội vụ- Phó Trưởng ban.

3. Đồng chí Lại Đức Vượng, Vụ trưởng Vụ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,

công chức, viên chức, Bộ Nội vụ- Ủy viên.

4. Đồng chí Đặng Xuân Hoan, Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia -

Ủy viên.

THƯỜNG TRỰC BIÊN SOẠN

1. PGS.TS. Triệu Văn Cường, Thứ trưởng Bộ Nội vụ- Trưởng ban;

2. TS. Đặng Xuân Hoan, Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia- Phó Trưởng ban.

3. TS. Lại Đức Vượng, Vụ trưởng Vụ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công

chức, viên chức, Bộ Nội vụ- Phó trưởng ban.

4. GS.TS. Phùng Hữu Phú, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương- Chuyên gia.

5. GS.TS. Vũ Văn Hiền, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương- Chuyên gia.

6. PGS.TS. Lương Thanh Cường, Phó Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia- Thư ký.

NHÓM BIÊN SOẠN

CHUYÊN ĐỀ 1

1. PGS.TS. Triệu Văn Cường, Thứ trưởng Bộ Nội vụ;

2. PGS.TS. Lương Thanh Cường, Học viện Hành chính Quốc gia;

3. TS. Đoàn Văn Dũng, Học viện Hành chính Quốc gia.

CHUYÊN ĐỀ 2

1. PGS.TS. Trần Thị Diệu Oanh, Học viện Hành chính Quốc gia;

2. PGS.TS. Lê Thị Hương, Học viện Hành chính Quốc gia.

CHUYÊN ĐỀ 3

1. TS. Nguyễn Đăng Quế, Học viện Hành chính Quốc gia;

2. PGS.TS. Đặng Khắc Ánh, Học viện Hành chính Quốc gia.

CHUYÊN ĐỀ 4

1. PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Hải, Học viện Hành chính Quốc gia;

2. TS. Nguyễn Hải Long, Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử, Văn phòng Quốc hội.

CHUYÊN ĐỀ 5

1. PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Vân, Học viện Hành chính Quốc gia;

2. PGS.TS. Lưu Kiếm Thanh, Học viện Hành chính Quốc gia.

CHUYÊN ĐỀ 6

1. PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Hải, Học viện Hành chính Quốc gia;

2. TS. Nguyễn Thị Thanh Thủy, Học viện Hành chính Quốc gia.

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CQĐP
Chính quyền địa phương
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
GDP
Tổng sản phẩm trong nước
HĐND
Hội đồng nhân dân
NSNN
Ngân sách nhà nước
TAND
Tòa án nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
UBND
Ủy ban nhân dân
VKSND
Viện Kiểm sát nhân dân

MỤC LỤC

Chuyên đề 1 TẦM NHÌN, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC.
Chuyên đề 2 CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH...
.1
.37

Chuyên đề 3 KỸ NĂNG CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH TRONG THAM

GIA XÂY DỰNG, BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT, THẨM TRA BÁO CÁO, ĐỀ ÁN..... .77

Chuyên đề 4 KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH, THẢO LUẬN, TRANH LUẬN CỦA ĐẠI BIỂU

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH ... ....106

Chuyên đề 5 KỸ NĂNG TIẾP XÚC VÀ THAM VẤN Ý KIẾN CỬ TRI, TIẾP CÔNG DÂN, TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CƠ QUAN BÁO CHÍ CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP

TỈNH.... ....... 140

Chuyên đề 6 KỸ NĂNG GIÁM SÁT CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH.. 182

Chuyên đề 1

TẦM NHÌN, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

I. Bối cảnh thế giới, bối cảnh trong nước và yêu cầu đặt ra đối với tầm

nhìn phát triển đất nước

1. Bối cảnh thế giới

Hiện tại, các quốc gia đang đứng trước nhiều thách thức. Các thách thức đặt ra với mỗi quốc gia không còn trong tầm kiểm soát một cách đơn giản như trước mà là những thách thức nan giải, khó kiểm soát. Đặc trưng nan giải được thể hiện ở tính phức hợp, nhiều bên liên quan, biến động liên tục, khó đoán định và ảnh hưởng lâu dài. Đó là những thách thức phức tạp như thảm họa tự nhiên khó lường (biến đổi khí hậu; dịch bệnh, đặc biệt là đại dịch Covid- 19; lũ lụt; động đất; nước biển dâng, ngập mặn, hạn hán; cháy rừng...), khủng hoảng kinh tế (nợ công, gián đoạn chuỗi sản xuất toàn cầu...) hay các vấn đề xã hội (chủ nghĩa khủng bố, vấn đề an ninh thông tin, an ninh lương thực... ).

Những vấn đề này đang tạo ra các nguy cơ đối với giá trị truyền thống vốn

từng là nền tảng của ổn định và phát triển xã hội, đối với việc đạt được các mục tiêu phát triển và phát triển bền vững trong khu vực hoặc trong quốc gia. Để giải quyết và quản lý các vấn đề này một cách chủ động, hiệu quả thì các quốc gia cần huy động được trí tuệ, sự cam kết và nguồn lực của các bên liên quan. Điều này dẫn đến đòi hỏi các ngành, các địa phương phải có sự phối hợp đồng bộ, khắc phục sự thiếu hụt về nguồn lực, năng lực để giải quyết các vấn đề của ngành, địa phương mình, qua đó, góp phần giải quyết những vấn đề chung của cả nước.

Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế gắn liền với việc tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, khai thác lợi thế so sánh của mỗi quốc gia. Vì vậy, một lần nữa, cần thiết đặt ra câu hỏi về năng lực của mỗi quốc gia trong việc tạo ra được sức mạnh nội lực của mình thông qua việc sử dụng các phương thức điều hành thích hợp nhằm huy động được sức mạnh tổng thể trên nền các lợi thế đặc thù cả nước cũng như của từng ngành, địa phương.

1

Theo nghĩa đó, cách tiếp cận hệ thống động có một ý nghĩa quan trọng. Theo lý thuyết hệ thống, tính gắn kết của các tiểu hệ thống tạo nên đặc trưng và

sức mạnh của đại hệ thống. Tuy nhiên, mỗi tiểu hệ thống có tính năng động của nó và cần được tính tới trong các can thiệp vào hệ thống. Tính chất động trong tiếp cận hệ thống động đòi hỏi các quốc gia cần tính tới yếu tố "thời" hay "thời thế của bối cảnh để thay đổi phương thức điều hành quốc gia theo cách "dĩ bất biến, ứng vạn biến.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tác động đến mỗi quốc

gia và toàn cầu với cường độ, tốc độ, phạm vi ngày càng gia tăng. Sự tác động này không phải là sự tác động tuyến tính, tác động theo cấp số cộng mà là sự tác động theo cấp số nhân, cấp số mũ. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra nhiều câu hỏi lớn cho các quốc gia như: làm thế nào để phát triển thịnh vượng, bền vững, người dân được thụ hưởng những thành quả tốt nhất từ phát triển, không ai bị bỏ lại phía sau trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, ngoài công

nghệ thông tin, các lĩnh vực có sự đột phá mạnh mẽ hàng đầu còn bao gồm y

học, năng lượng, sinh học, môi trường,.... Chuyển đổi số trở thành xu hướng chung được đẩy mạnh trong hầu hết các lĩnh vực như một nguồn động lực quan

trọng của phát triển. Các quốc gia trên thế giới đứng trước cơ hội hiếm có để bứt

phá. Cơ hội "nhảy vọt về phát triển đang hiện hữu do mức độ tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được đánh giá là cao hơn hàng trăm lần so với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây.

Đại dịch COVID-19 đang tác động mạnh mẽ đến đời sống toàn cầu.

COVID-19 cũng tác động lên chuỗi giá trị toàn cầu thông qua các trung tâm của chuỗi. Trong đại dịch COVID-19, các quốc gia chịu tác động nặng nề cũng là các trung tâm của mạng sản xuất toàn cầu. Khi đại dịch bùng nổ, lan rộng, lây nhiễm với nhiều biến thể, các biện pháp giãn cách xã hội được thực hiện ở những cấp độ khác nhau, nhiều hoạt động sản xuất tạm dừng lại. Chuỗi cung ứng bị đứt đoạn ảnh hưởng đến các hoạt động đầu tư, sản xuất, thương mại toàn

2

cầu, từ đó làm suy giảm tăng trưởng nền kinh tế thế giới nói chung và nhiều quốc gia, khu vực nói riêng.

Xu thế toàn cầu hóa, hợp tác quốc tế là một tất yếu khách quan, sự phát

triển của kinh tế thế giới tất yếu phải gắn với toàn cầu hóa, phân công lao động quốc tế, lưu chuyển các nguồn lực phát triển. Tuy nhiên, quá trình này cũng đang gặp phải những thách thức về khả năng trao đổi, kết nối. Dịch bệnh COVID-19, chủ nghĩa dân tộc đã thúc đẩy các xu hướng bảo hộ thương mại, chuyển dịch sản xuất từ ngoài nước về trong nước. Những giải pháp về công nghệ chưa thể giải quyết được bài toán trao đổi, chia sẻ, hợp tác đúng nghĩa. Vì

vậy, các quốc gia sẽ không lựa chọn xu hướng phi toàn cầu hóa mà chuyển đổi phương thức mô hình, toàn diện hơn, cẩn trọng hơn.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nhận định:

"Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức

tạp, khó dự báo. Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế.

Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng đang bị thách

thức bởi sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn... Kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch Covid-19. Các quốc gia, nhất là các nước lớn, điều chỉnh lại chiến lược phát triển, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, làm thay đổi các chuỗi cung ứng. Cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao, thu hút đầu tư nước ngoài giữa các nước ngày càng quyết

liệt, tác động mạnh đến chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số phát triển

mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc.

3

Những vấn đề toàn cầu, như: bảo vệ hoà bình, an ninh con người, thiên

tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng,

biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường,... tiếp tục diễn biến phức tạp.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó Đông Nam Á có vị trí chiến

lược ngày càng quan trọng, là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc, tiềm ẩn nhiều bất ổn. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Hoà bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn

nguy cơ xung đột. ASEAN có vai trò quan trọng trong duy trì hoà bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác khu vực nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn".

Bối cảnh trên đòi hỏi quản trị quốc gia, quản trị địa phương cần có cách tiếp cận phù hợp, nhận diện được những tác động của bối cảnh quốc tế đến quốc

gia và đến các địa phương để từ đó xác định được tầm nhìn, mục tiêu, giải pháp phù hợp cho sự phát triển bền vững của đất nước, sự trường tồn của quốc gia, dân tộc.

2. Bối cảnh trong nước

Đất nước đã qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011-2020, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Quy mô, trình độ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước được nâng lên. Đây là động lực, nguồn lực quan trọng để đất nước ta vượt qua khó khăn, thách thức, phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII đánh giá "Ở trong nước, sau 35 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, niềm tin của nhân dân ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021, tập 1, trang 105- 107.

2 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021, tập 1, trang 107.

4

Theo đó, "kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng được duy trì ở mức khá cao; tiềm lực, quy mô và sức cạnh tranh của nền kinh tế

được nâng lên. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đặc biệt chú trọng, đạt nhiều kết quả tích cực. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí chuyển biến mạnh mẽ, có bước đột phá, được tiến hành quyết liệt, có hiệu quả, ngày càng đi vào chiều sâu, gắn kết chặt chẽ giữa "xây" và "chống". Sự thống nhất, phối hợp đồng bộ giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội được tăng cường. Chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, kiên quyết, kiên trì giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Đặc biệt, trong năm 2020, đại dịch Covid-19 tác động mạnh đến nước ta, gây ra nhiều thiệt hại về kinh tế - xã hội và sự phát triển của đất nước, nhưng nhờ phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sự ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, sự tham gia đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự đồng lòng ủng hộ của nhân dân, chúng ta đã từng bước kiểm soát thành công đại dịch Covid-19; từng bước phục hồi sản xuất kinh doanh và các hoạt động kinh tế - xã

hội; ổn định đời sống, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; khẳng định bản lĩnh, ý chí, truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, dân tộc ta".

Vê kinh tế, *tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016 - 2020 vẫn

đạt khoảng 6%/năm (riêng năm 2020 tăng trưởng GDP vẫn đạt 2,91% là mức tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới). Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng lên (năm 2020, GDP đạt 271,2 tỉ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt 2.779 USD/người). Chất lượng tăng trưởng được cải thiện,

3 Xem thêm: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021, tập 1, trang 107.

5

năng suất lao động tăng từ 4,3%/năm giai đoạn 2011 - 2015 lên 5,9%/năm giai đoạn 2016 - 2020'4.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, kinh tế - xã hội phát triển vẫn chưa

tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước và còn nhiều khó khăn, thách thức. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại, có mặt gay gắt hơn. Nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình còn lớn. Việc phát triển văn hóa, bảo đảm phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường; việc phát triển đồng bộ các vùng, miền, địa phương trên cơ sở phát huy tiềm năng, lợi thế của từng vùng vẫn còn nhiều hạn chế. Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa trong nội bộ, mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. Xu hướng già hóa dân số, đô thị hóa tăng nhanh; biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh ảnh hưởng ngày càng lớn đến sự phát triển đất nước. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới.

3. Yêu cầu đặt ra đối với tầm nhìn phát triển đất nước

Tầm nhìn, theo nguyên nghĩa là khoảng cách xa nhất mà mắt có thể nhìn

thấy; nhưng trong lĩnh vực chính trị - xã hội, tầm nhìn được hiểu không chỉ là

khả năng nhìn xa về khoảng cách không gian, mà cả khoảng cách thời gian, là năng lực tiên liệu được tương lai, xác định được tương lai muốn đạt đến một cách có căn cứ, không phải là những điều viển vông, mơ mộng. Đó là năng lực "nhìn xa, trông rộng, năng lực phân tích, tổng hợp, đánh giá tình hình, dự báo,

xác định được tổ chức mình hay đất nước mình sẽ như thế nào trong tương lai. Tương lai mà tầm nhìn xác định không phải là tương lai gần, ngắn trong một, hai năm mà là tương lai xa, có khoảng cách thời gian dài có thể là 10, 20 năm, một thời kỳ, một giai đoạn phát triển. Do đó, tầm nhìn thường gắn với chiến lược, là tầm nhìn chiến lược; gắn với mục tiêu, là cơ sở, định hướng cho việc xác định

4 Xem thêm: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021, tập 1, trang 61.

6

mục tiêu và các nhiệm vụ chiến lược cần phải thực hiện để đạt được tầm nhìn đó. Tầm nhìn còn gắn với sứ mệnh, thể hiện mong muốn, niềm tin vào vai trò, giá trị, ý nghĩa của sự tồn tại, phát triển tổ chức, đất nước mình trong tương lai.

Tầm nhìn là một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu về năng lực,

phẩm chất của người lãnh đạo, của một đảng chính trị, nhất là đảng cầm quyền.

Tầm nhìn thể hiện lý tưởng phấn đấu, thể hiện mục tiêu cần đạt được, là cơ sở để xác định nhiệm vụ, giải pháp thực hiện; để thống nhất tư tưởng, đoàn kết trong Đảng, tập hợp, đoàn kết, cổ vũ, động viên mạnh mẽ các tầng lớp nhân dân, các lực lượng xã hội phát huy sức mạnh to lớn của toàn dân tộc vượt qua mọi khó khăn, thử thách, gian khổ, hy sinh để thực hiện mục tiêu, lý tưởng đó. Yêu cầu đặt ra với tầm nhìn là sự đúng đắn, chính xác của định hướng, mục tiêu đề ra, phù hợp với lý tưởng của Đảng, tính chất, xu thế của thời đại, yêu cầu phát triển của đất nước trong từng giai đoạn, có cơ sở, căn cứ khoa học, phù hợp với thực tiễn, điều kiện của đất nước, khả thi, thể hiện khát vọng, ý chí quyết tâm phấn đấu cao nhưng không chủ quan, duy ý chí.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH được Đại

hội VII của Đảng thông qua năm 1991 (Cương lĩnh năm 1991) và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm

2011) của Đảng đã đề ra tầm nhìn, mục tiêu phát triển đất nước đến giữa thế kỷ

XXI và đến khi kết thúc (hoàn thành) thời kỳ quá độ lên CNXH. Tầm nhìn, mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập Nước là sự kế thừa, cụ thể hóa tầm nhìn, mục tiêu do Cương lĩnh đề ra. Đây là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự phát triển của đất nước, là

cơ sở bảo đảm sự nhất quán, kết nối, kế thừa trong chủ trương, đường lối phát triển đất nước của Đảng qua các kỳ Đại hội Đảng đến giữa thế kỷ XXI, bảo đảm sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trong đường lối phát triển đất nước. Đây cũng là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch vẫn tìm mọi cách chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, xâm phạm quyền độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, biển đảo của đất

7

nước ta; trong khi đó, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi; thách thức trên con đường phát triển của đất nước còn nhiều, không thể xem thường, chủ quan, dao động, mất cảnh giác.

Sau hơn 35 năm đổi mới, con đường phát triển của đất nước ngày càng

được xác định cụ thể hơn, đầy đủ hơn. Quá trình toàn cầu hóa, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các quy luật phát triển cho phép, đồng thời đòi hỏi Việt Nam phải xác định được tầm nhìn, phải định vị được quốc gia trên bản đồ thế giới. Việt Nam xác định là thành viên; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới thì cần phải xác định đất nước sẽ ở đâu trong tương lai. Đó là tầm nhìn mà Việt Nam cần hướng tới, không chỉ tạo ra động lực cho phát triển mà là một cam kết về quyết tâm phát triển của Việt Nam với cộng đồng quốc tế.

Sự biến động của thế giới ngày nay càng đòi hỏi các quốc gia phải xác định

được hướng đi, đích đến. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang đưa đến những cơ hội và những thách thức phát triển. Sự biến động của thế giới sẽ tác động đến mỗi quốc gia và Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ. Tầm nhìn chiến lược là yêu cầu cần thiết để nước ta làm chủ vận mệnh, chủ động trong việc xác định các kịch bản phát triển, ứng phó với biến động.

Lịch sử cho thấy, sự phát triển của các quốc gia, dân tộc trên thế giới luôn

là một hành trình với nhiều khó khăn, nhiều thách thức. Lịch sử phát triển của

nhân loại cũng cho thấy không có một mẫu hình chung cho mọi quốc gia, không thể phát triển bằng những mô hình vay mượn, chắp vá mà phải đổi mới sáng tạo, cần xác định được mục tiêu tương lai, có tầm nhìn chỉnh thể, hệ thống.

Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy, thiết lập được tầm nhìn dài hạn, phù hợp là một trong những ngọn nguồn của thành công. Từ khi Đảng ra đời ngày 3-2-1930, đất nước đã đạt được những cột mốc quan trọng. 30 năm đầu từ 1930 - 1960, qua hai kỳ Đại hội của Đảng: Đại hội I (tháng 3-1935), Đại hội

8

II (tháng 2-1951), chúng ta giành chính quyền, tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, từng bước tiến hành cuộc cách mạng dân

chủ; với ba kỳ Đại hội của Đảng, khoảng gần 30 năm từ 1960 - 1986, bắt đầu từ Đại hội III (tháng 9-1960), Đại hội IV (tháng 12-1976), Đại hội V (tháng 3-

1982), nước ta hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN; tròn 30 năm từ 1986 - 2016, tiến hành toàn diện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tầm nhìn 30 năm từ 2016 - 2045, khi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tròn 100 năm chính là cơ sở để Việt Nam tạo nên sự bứt phá cho tương lai, hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

II. Quan điểm, tầm nhìn và mục tiêu phát triển đất nước

1. Quan điểm

Thứ nhất, kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt

chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên.

Thứ ba, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức

mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hoá, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ,

9

nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh và bền vững.

Thứ tư, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nêu cao ý chí độc

lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất.

Thứ năm, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai

cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; gắn với tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân là những nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

2. Tầm nhìn

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung,

phát triển năm 2011) đề ra mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI "phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Không chỉ có tầm nhìn về phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI, Cương lĩnh của Đảng còn có tầm nhìn về phát triển đất nước xa hơn, tới khi kết thúc thời kỳ quá độ lên CNXH. Cương lĩnh xác định "Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của

CNXH với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ

sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc". Đồng thời, Cương lĩnh còn nêu ra 8 phương hướng cơ bản và 8 mối quan

hệ lớn cần phải quán triệt, thực hiện tốt để thực hiện thành công các mục tiêu trên.

Tám phương hướng cơ bản là: 1. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường; 2. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; 3. Xây dựng nền

10

văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; 4. Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; 5. Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; 6. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện

đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; 7. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; 8. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Tám mối quan hệ lớn là: 1. Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; 2.

Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; 3. Quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; 4. Quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; 5. Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; 6. Quan hệ giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; 7. Quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; 8. Quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.

Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định 10 mối quan hệ: 1. Quan

hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; 2. Giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; 3. Giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng XHCN; 4. Giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất XHCN; 5. Giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; 6. Giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; 7. Giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; 8. Giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; 9. Giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; 10. Giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Các quan điểm, tầm nhìn của Cương lĩnh là cơ sở để xác định tầm nhìn của

Đảng về phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII đến năm 2045, năm kỷ niệm 100 năm thành lập Nước.

11

3. Mục tiêu

Đối với nước ta, quán triệt quan điểm việc xác định mục tiêu phát triển đất

nước đến năm 2025, 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 là vừa phải quán triệt tư tưởng của Cương lĩnh, kế thừa quan điểm của Đại hội các nhiệm kỳ trước, vừa cần phải có những bổ sung cần thiết, phù hợp với bối cảnh đất nước hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và khả năng của đất nước.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam xác

định mục tiêu tổng quát: Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trên thế giới, nhiều tổ chức đã đưa ra các tiêu chí và phân loại các nước

trên thế giới: Nước kém phát triển, nước đang phát triển, nước phát triển. Trong các nước đang phát triển lại phân thành hai loại nước: i) Nước đang phát triển, thu nhập trung bình thấp; ii) Nước đang phát triển, thu nhập trung bình cao. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới công bố ngày 1-7-2020, những nước có bình quân thu nhập dưới 4.035 USD/người là thu nhập trung bình thấp, từ 4.035 USD đến 12.535 USD/người là thu nhập trung bình cao, từ 12.535 USD trở lên là thu nhập cao.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam

thông qua mục tiêu: Đến năm 2025: Thu nhập bình quân đầu người của nước ta đạt khoảng 4.700 - 5.000 USD, đến năm 2030 khoảng 7.500 USD. Trên nguyên tắc bảo đảm tính khoa học và thực tiễn; kế thừa và bổ sung, phù hợp với những thay đổi trong từng giai đoạn phát triển của đất nước; đồng thời nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của các nước và những chuẩn mực chung của thế giới,

12

Đại hội XIII xác định mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2025, đến năm 2030 và năm 2045:

- Đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống

nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp.

- Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.

- Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng

hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

III. Định hướng và nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030

1. Định hướng các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025

Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân 5 năm đạt khoảng 6,5 - 7%/năm. Đến năm 2025, GDP bình quân đầu người khoảng 4.700 - 5.000

USD; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity -

TFP) vào tăng trưởng đạt khoảng 45%; tốc độ tăng năng suất lao động xã hội

bình quân trên 6,5%/năm; tỉ lệ đô thị hoá khoảng 45%; tỉ trọng công nghiệp chế
biến, chế tạo trong GDP đạt trên 25%; kinh tế số đạt khoảng 20% GDP.
Về xã hội: Đến năm 2025, tỉ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao
động xã hội khoảng 25%; tỉ lệ lao động qua đào tạo là 70%; tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị năm 2025 dưới 4%; tỉ lệ nghèo đa chiều duy trì mức giảm 1 -
1,5% hằng năm; có 10 bác sĩ và 30 giường bệnh/1 vạn dân; tỉ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 95% dân số; tuổi thọ trung bình đạt khoảng 74,5 tuổi; tỉ lệ xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới tối thiểu 80%, trong đó ít nhất 10% đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.
Về môi trường: Đến năm 2025, tỉ lệ sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh
của dân cư thành thị là 95 - 100%, nông thôn là 93 - 95%; tỉ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt 90%; tỉ lệ khu
13
4

công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường là 92%; tỉ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý đạt 100%; giữ tỉ lệ che phủ rừng ổn định 42%.

2. Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021- 2030

Một là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, môi trường..., tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc; khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Hai là, hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân

bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh. Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị; phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; ưu tiên nguồn lực phát triển hạ tầng nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số; đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, gắn kết hài hoà, hiệu quả

thị trường trong nước và quốc tế.

Ba là, tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,

phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài. Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chú trọng một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới.

Bốn là, phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hoá Việt Nam

tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hoá thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tăng đầu tư cho phát triển sự nghiệp văn hoá. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội

14

thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất

của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước.

Năm là, quản lý phát triển xã hội có hiệu quả, nghiêm minh, bảo đảm an

ninh xã hội, an ninh con người; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; xây dựng môi trường văn hoá, đạo đức xã hội lành mạnh, văn minh; chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, chất lượng dân số, gắn dân số với phát triển; quan tâm đến mọi người dân, bảo đảm chính sách lao động, việc làm, thu nhập, thực hiện tốt phúc lợi xã hội, an sinh xã hội. Không ngừng cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Sáu là, chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống

và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh, quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên; lấy bảo vệ môi trường sống và sức khoẻ nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường.

Bảy là, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống

nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thể lực thù địch.

Tám là, tiếp tục thực hiện đường lôi đôi ngoại độc lập, tự chủ, đa phương

hoá, đa dạng hoá; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam.

15

Chín là, thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền

làm chủ và vai trò tự quản của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn

dân tộc; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội; tiếp tục đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

Mười là, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục

vụ và vì sự phát triển của đất nước. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội.

Mười một là, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện; tăng cường bản

chất giai cấp công nhân của Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu có đủ

phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; làm tốt công tác tư tưởng, lý luận; chú trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng và công tác dân vận của Đảng.
Mười hai là, tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các quan hệ lớn: Quan hệ giữa
ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ
16
÷

cương xã hội. Trong nhận thức và giải quyết các quan hệ lớn, cần chú trọng hơn đến bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội,

bảo vệ môi trường; bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữ vững độc lập, tự chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

3. Nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ 2021 - 2026

a. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị toàn diện, trong sạch, vững mạnh. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, "lợi ích nhóm", những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Củng cố lòng tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

b. Tập trung kiểm soát đại dịch COVID-19, tiêm chủng đại trà vắc-xin

COVID-19 cho cộng đồng; phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập; phát triển đồng bộ và tạo ra sự liên kết giữa các khu vực, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh; có chính sách hỗ trợ hiệu quả doanh nghiệp trong nông nghiệp; đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực

để phát triển kinh tế nhanh và bền vững; hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là

○Mục này được biên soạn theo tinh thần Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam về các nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIII.

17

pháp luật về bảo hộ sở hữu trí tuệ và giải quyết các tranh chấp dân sự, khắc phục những điểm nghẽn cản trở sự phát triển của đất nước.

c. Giữ vững độc lập, tự chủ, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt

động đối ngoại, hội nhập quốc tế; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước.

d. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy

giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế; có chính sách cụ thể phát triển văn hoá đồng bào

dân tộc thiểu số; thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam.

đ. Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát

huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân; đồng thời

xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh; cải cách tư pháp, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, trước hết là sự gương mẫu tuân theo pháp luật, thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa của cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội các cấp, của cán bộ, đảng viên; tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc.

e. Quản lý chặt chẽ, sử dụng hợp lý, hiệu quả đất đai, tài nguyên; bảo vệ,

cải thiện môi trường; chủ động, tích cực triển khai các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, thiên tai khắc nghiệt.

IV. Những yêu cầu đặt ra và một số vấn đề cần quan tâm đối với phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương nhiệm kỳ 2021 - 2026

18

1. Những yêu cầu đặt ra đối với phát triển kinh tế - xã hội nhiệm kỳ 2021 -2026

a. Đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo

Vấn đề đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế là nội dung lớn,

chính thức được đề ra từ Đại hội XI. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020 xác định nội dung đổi mới mô hình tăng trưởng cơ cấu lại nền kinh tế như

sau: "Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững. Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, trọng tâm là cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ phù hợp với các vùng; thúc đẩy cơ cấu lại doanh nghiệp và điều chỉnh chiến lược thị trường; tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế; phát triển kinh tế trí thức. Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh'°. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII

xác định: "Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, chuyển mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng dựa trên tăng năng suất, tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực để nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, phát triển các ngành, lĩnh vực, các doanh nghiệp trên nền tảng ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu của khoa học và công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, tham gia có hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu...Cơ cấu lại kinh tế vùng, đổi mới thể chế liên kết giữa các địa phương trong vùng và giữa các vùng, phát huy vai trò các vùng kinh tế động lực và các đô thị lớn, quan tâm phát triển các vùng còn khó khăn, thu hẹp chênh lệch phát triển giữa các vùng7.

Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI. NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, trang 107.

7 Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIII. NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, tập 1, trang 120-122.

19

Trong những năm qua, tuy có độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng GDP tính

bình quân/ người của Việt Nam vẫn còn thấp. Trên thực tế, một phần lợi thế của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua là từ giá lao động rẻ, nguồn xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên. Song những lợi thế này đang giảm dần, cả nước và các địa phương phải tìm ra động lực phát triển mới đó là năng suất lao động, công nghệ mới và lợi thế về địa lý. Chính vì vậy, tư duy đổi mới sáng tạo, phát triển dựa trên năng suất nhân tố tổng hợp cần được chú trọng.

Trên phạm vi cả nước, tập trung ưu tiên phát triển lợi thế sản xuất nông nghiệp và lợi thế về tài nguyên con người, trước hết hướng vào các ngành kinh

tế dịch vụ; tạo ra được sự gắn kết giữa các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ trong quá trình phát triển. Tập trung phát triển công nghiệp ở các địa bàn thuận lợi cho công nghiệp. Đối với các vùng có lợi thế sản xuất nông nghiệp cần đầu tư về cơ sở hạ tầng và phát triển dịch vụ, tạo nền tảng căn bản phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp, trước hết là giao thông, thủy lợi, năng lượng, hình thành hệ thống các viện nghiên cứu, các trường đại học có chất lượng cao. Đầu tư hình thành các cụm công nghiệp và dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp để bố trí các cơ sở công nghiệp phục vụ nông nghiệp tại các vùng chuyên canh nông nghiệp.

Việc lựa chọn các dự án đầu tư phát triển công nghiệp được đặt trong tầm

nhìn dài hạn, chiến lược, dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, tiên tiến để tránh trở thành bãi thải công nghệ lạc hậu trong tương lai.

Phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương hướng đến phát triển bền

vững, tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, trong đó sinh kế của người dân là một vấn đề cần được chú trọng quan tâm giải quyết. Với mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, việc tận dụng mọi nguồn lực cho tăng trưởng và phát triển là một yêu cầu cấp thiết. Việc sử dụng công nghệ cao trong sản xuất, giảm lượng phát khí thải trong sản xuất là điều kiện cần cho tăng trưởng xanh nhưng là vấn đề khó do đòi hỏi cao về nguồn lực đầu tư. cần được quan tâm một cách hợp lý trong quá trình hoạch định, thực thi chính sách không chỉ ở phạm vi quốc gia mà còn cả ở phạm

20

vi địa phương. Tuy nhiên, người dân trong không ít trường hợp thường quan tâm đến việc nguồn thu nhập có được hơn là tạo được nguồn thu đó như thế nào, ảnh hưởng như thế nào đến môi trường. Chính vì vậy, giải quyết sinh kế và thu nhập

của người dân cần phải được đặt ra trong quá trình thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh ở các địa phương.

Trong dài hạn, đầu tư vào tăng trưởng xanh sẽ cải thiện hiệu quả kinh tế và

tăng tổng lượng của cải trên toàn cầu. Mặt khác sự đầu tư đó sẽ đem lại hiệu quả trong việc phục hồi các nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo, giảm thiểu những rủi ro môi trường và tái thiết sự thịnh vượng cho tương lai. Tuy nhiên, do nguồn vốn đầu tư từ NSNN có mức độ, nên để có đủ nguồn vốn đầu tư vào tăng trưởng

xanh, cần huy động rộng rãi các nguồn lực đầu tư từ xã hội thông qua các cơ chế khuyến khích về đầu tư công nghệ.

Kinh tế tuần hoàn là mô hình kinh tế trong đó các hoạt động thiết kế, sản

xuất, dịch vụ đặt ra mục tiêu kéo dài tuổi thọ của vật chất và loại bỏ tác động tiêu cực đến môi trường. Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp quốc (UNIDO), nền kinh tế tuần hoàn là một chu trình sản xuất khép kín, các chất thải được quay trở lại, trở thành nguyên liệu cho sản xuất, từ đó giảm mọi tác động tiêu cực đến môi trường, hệ sinh thái và sức khỏe con người. Theo Ellen MacArthur Foundation (2012), định nghĩa về kinh tế tuần hoàn được nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế thừa nhận rộng rãi hiện nay là "một hệ thống có tính khôi phục và tái tạo thông qua các kế hoạch và thiết kế chủ động. Nó thay thế khái niệm "kết thúc vòng đời của vật liệu bằng khái niệm khôi phục, chuyển dịch theo hướng sử dụng năng lượng tái tạo, không dùng các hóa chất độc hại gây tổn hại tới việc tái sử dụng và hướng tới giảm thiểu chất thải thông qua việc

thiết kế vật liệu, sản phẩm, hệ thống kỹ thuật và cả các mô hình kinh doanh trong phạm vi của hệ thống đó.

Để phát triển kinh tế tuần hoàn, mô hình tăng trưởng kinh tế chiều sâu cần

được triển khai, trong đó, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu vào, áp dụng khoa học công nghệ vào các ngành, đặc biệt là xử lý rác thải để tái tạo nguyên liệu

mới. Quy định lộ trình thay thế các nhiên liệu, sản phẩm sử dụng nguyên liệu

21

nguy hại, sản phẩm sử dụng một lần bằng các nhiên liệu, nguyên liệu thân thiện

với môi trường, sản phẩm sử dụng nhiều lần, kéo dài thời gian sử dụng hữu ích của sản phẩm.

b. Phát huy có hiệu quả các động lực nội tại phục vụ tăng trưởng và phát triển bền vững

Các động lực nội tại phục vụ tăng trưởng và phát triển bền vững, trong đó

văn hóa là "nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc..." , con người "giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới;..."°, đại đoàn kết toàn dân tộc "là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam"10

Cần khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức

mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Yêu nước là truyền thống quý báu, là hệ giá trị nổi bật của dân tộc Việt Nam. Lòng yêu nước là nguồn lực nội sinh của cộng đồng dân tộc. Trong chiến tranh, yêu nước được thể hiện qua tinh thần đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, tinh thần quật khởi, ý chí quật cường bất khuất, chống lại sự xâm lược, đô hộ, đồng hóa của ngoại bang để bảo vệ độc lập dân tộc và biên cương của Tổ quốc. Ngày nay, yêu nước gắn liền với yêu CNXH, phát huy cao độ ý chí tự lực, tự cường, vượt qua khó khăn, thử thách, hợp tác trong lao động, sản xuất; sáng tạo, nỗ lực trong khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, xây dựng thành công CNXH, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Để phát huy cao độ lòng yêu nước cần phải

xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chỉ có đoàn kết sâu, rộng mới tập hợp được sức mạnh của quần chúng nhân dân trong xây dựng và kiến thiết đất nước.

* Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", Tạp chí Cộng sản điện tử ngày 16/5/2021.

°Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", Tạp chí Cộng sản điện tử ngày 16/5/2021.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Chủ nghĩa xã hội và con đường điilên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", Tạp chí Cộng sản điện tử ngày 16/5/2021.

22

Khơi dậy khát vọng phát triển ở mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi làng xóm, mỗi địa phương và ở quy mô quốc gia. Khát vọng phát triển chỉ có ý nghĩa khi

khát vọng ấy biến thành những hành động, những việc làm cụ thể ở mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng. Vì vậy, nguồn lực con người, tài nguyên con người là tài nguyên quan trọng nhất, quyết định nhất, bền vững nhất trong thời đại ngày nay. Điều này đòi hỏi, giáo dục và đào tạo thực chất, gắn với thực học, thực tài để con người Việt Nam thực sự có đủ tri thức, sức khỏe, bản lĩnh, kỹ năng để làm việc trong môi trường quốc tế.

Một động lực phát triển quan trọng của Việt Nam trong thời đại ngày nay là

sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Từ một quốc gia kém phát triển, Việt Nam đã từng bước vươn lên, khẳng định uy tín, vai trò, vị thế của mình trên trường quốc tế. Từ một nước nghèo nàn và lạc hậu, Việt Nam đã tích cực hội nhập quốc tế, được thế giới ghi nhận như hình mẫu phát triển kinh tế - xã hội. Với việc ngày càng khẳng định được vị thế trên trường quốc tế thì cần khai thác và thực hiện hiệu quả hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo ra động lực cho tăng trưởng, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh của thời đại là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự tăng trưởng nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo.

c. Phát triển kết cấu hạ tầng, kinh tế vùng, kinh tế biển, lấy các đô thị làm

động lực phát triển vùng và đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới

Đẩy nhanh tốc độ, nâng cao chất lượng đô thị hóa và kinh tế đô thị. Xây

dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển hệ thống đô thị hài hòa, phù hợp với tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương.

Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn

mới theo hướng gắn với đô thị hóa, bảo đảm thực chất, đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững, lấy cư dân nông thôn làm chủ thể, đem lại sự chuyển biến tích cực rõ nét hơn về nếp sống tới từng thôn, bản, ấp, hộ gia đình và cuộc sống trực tiếp của mỗi người dân sinh sống ở nông thôn. Thực hiện xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu và xây dựng nông thôn mới cấp thôn,

23

bản. Tập trung xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, kết nối chặt chẽ xây dựng nông thôn mới với quá trình đô thị hóa. Thu hút mạnh mẽ các doanh nghiệp đầu tư vào khu vực nông thôn để xây dựng liên kết theo chuỗi giá trị; đẩy mạnh thực hiện Chương trình "mỗi xã một sản phẩm" gắn với xây dựng thương hiệu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm. Tập trung xử lý ô nhiễm môi trường, nhất là rác thải, nước thải. Tích hợp một số chương trình đầu tư đang triển khai trên địa bàn nông thôn vào Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

d. Phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; không

ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân

Triển khai đồng bộ các giải pháp giảm nghèo đa chiều, bền vững, bao trùm, nhất là khu vực đồng bào dân tộc thiểu số. Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Đổi mới thực chất cách tiếp cận trong giảm nghèo bằng các chính sách hỗ trợ có điều kiện, giảm hỗ trợ cho không, khơi dậy ý chí chủ động vươn lên tự thoát nghèo; hạn chế bất bình đẳng xã hội. Khuyến khích làm giàu theo pháp luật, phát triển mạnh tầng lớp trung lưu gắn với nâng dân, bổ sung cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển mạnh mẽ nhà ở xã hội; bố trí cao trách nhiệm xã hội. Tập trung giải quyết cơ bản nhu cầu về nhà ở cho người hợp lý khu dân cư và hỗ trợ phát triển nhà ở cho người dân tại các vùng thường

xuyên chịu tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu.

e. Củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội

góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ

Vấn đề bảo đảm an ninh, quốc phòng, giữ gìn trật tự an toàn xã hội cần

được đặt ra như một biến số quan trọng trong việc bảo đảm môi trường cho phát triển. Các thách thức của các vấn đề an ninh phi truyền thống trong giai đoạn ngày nay ngày càng gay gắt, diễn ra đa dạng ở các địa bàn. An ninh, quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội là vấn đề không chỉ ở tầm quốc gia mà là vấn đề cụ thể ở mỗi địa phương. Vì vậy, quá trình phát triển kinh tế - xã hội luôn phải gắn kết với yêu cầu an ninh, quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội.

24

Vấn đề bảo vệ chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ không chỉ cần đặt ra đối với các địa phương có đường biên giới, có vùng biển mà là vấn đề chung ở mọi địa phương. Chủ quyền quốc gia ngày nay không chỉ là chủ quyền ở vùng đất liền, vùng biển, vùng trời mà còn là chủ quyền trên không gian mạng, chủ quyền mở rộng trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội như chủ quyền về văn hóa. Công nghệ ngày càng phát triển khiến cho việc thực hiện các chức năng vốn có của nhà nước đối với các đối tượng quản lý trên phạm vi lãnh thổ quốc gia mình ngày càng trở nên ít rõ ràng hơn. Các thông tin quản lý, các dữ liệu quản lý nếu không được quản lý, bảo mật có thể là công cụ để lợi dụng, phá hoại cho định hướng phát triển của quốc gia, của các địa phương.

2. Một số vấn đề cần quan tâm đối với phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương nhiệm kỳ 2021 - 2026

a. Thiết lập tầm nhìn của địa phương trong tầm nhìn chung của quốc gia

Tầm nhìn phát triển của địa phương giúp làm rõ điểm xuất phát, lợi thế so sánh của địa phương, các xu thế phát triển của kinh tế - xã hội quốc gia, vùng và các địa phương để có định hướng phát triển đúng. Tầm nhìn phát triển của địa phương bên cạnh bảo đảm tính thực tiễn, tính khả thi thì cần có kế hoạch để thực hiện tầm nhìn, trong đó cần khắc phục các điểm nghẽn cản trở sự phát triển. Một số điểm nghẽn cản trở sự phát triển của địa phương có thể là: hệ thống kết cấu hạ tầng (giao thông, công nghệ thông tin, cơ sở vật chất phục vụ cho giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ...), chất lượng nguồn nhân lực, năng lực của một bộ phận cán bộ, công chức, các vấn đề khai thác đúng lợi thế của địa phương.

b. Đổi mới công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội

Thực hiện quy hoạch tích hợp các ngành, lĩnh vực phát triển, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất giữa các quy hoạch, khắc phục vụ sự chồng chéo về quy hoạch, thiếu sự đồng bộ giữa quy hoạch ngành và quy hoạch lãnh thổ, giữa quy hoạch trung ương và địa phương; bảo đảm tầm nhìn dài hạn trong việc xây dựng quy hoạch, tạo ra không gian phát triển bền vững.

Quá trình xây dựng quy hoạch phát triển tỉnh, thành phố trực thuộc trung

ương được đặt trong tầm nhìn của vùng, quốc gia, khu vực và thế giới. Vì vậy,

25

cần thiết có sự chủ động tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu giữa các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương trong quá trình xây dựng quy hoạch, bảo đảm phát huy đúng lợi thế so sánh của mỗi địa phương để giúp quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội của các địa phương được thiết lập, tổ chức thực hiện có hiệu quả.

Văn kiện Đại hội XIII đã yêu cầu "Nâng cao chất lượng quy hoạch vùng;

đổi mới, hoàn thiện thể chế quản lý vùng có hiệu quả, phát huy tốt nhất tiềm năng, lợi thế của từng vùng, tăng cường liên kết giữa các địa phương trong vùng và giữa các vùng

Các định hướng phát triển trong xây dựng kế hoạch đã được Đảng ta xác

định trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 làm cơ sở cho việc xây dựng quy hoạch không gian phát triển cho các địa phương, đó là:

- Vùng trung du và miền núi phía Bắc: Phát huy các lợi thế về tài nguyên

rừng, khoáng sản, các cửa khẩu, văn hóa dân tộc đặc sắc, đa dạng và tiềm năng phát triển du lịch, dịch vụ... Tập trung bảo vệ, khôi phục rừng, nhất là rừng đầu nguồn. Đẩy mạnh trồng rừng, phát triển lâm nghiệp bền vững, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản, cây dược liệu, chăn nuôi gia súc gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm sản. Phát triển hiệu quả các cơ sở khai thác gắn với chế biến sâu các loại khoáng sản. Chú trọng bảo vệ môi trường sinh thái; bảo vệ và sử dụng có hiệu quả nguồn nước các hồ, đập để điều tiết nước sản xuất và sinh hoạt. Tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng liên kết nội vùng và với vùng đồng bằng sông Hồng, Thủ đô Hà Nội.

- Vùng đồng bằng sông Hồng: Đi đầu trong phát triển khoa học, công nghệ,

đổi mới sáng tạo, kinh tế số xã hội số. Tập trung phát triển một số ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ hiện đại: Điện tử, sản xuất phần mềm, trí tuệ nhân

tạo, sản xuất ô tô, công nghiệp phụ trợ, các dịch vụ thương mại, logistics, ngân

hàng, tài chính, du lịch, viễn thông, y tế chuyên sâu. Mở rộng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch. Thúc đẩy mạnh mẽ các trung tâm đổi

" Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIII. NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, tập 1, trang 127.

26

mới sáng tạo. Tập trung xây dựng các trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Đẩy mạnh đô thị hóa gắn với phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng và nâng cao hiệu quả kinh tế đô thị, kết nối đô thị. Xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành đô thị thông minh, hiện đại, xanh, sạch, đẹp, an ninh, an toàn. Tiếp tục xây dựng khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển, là cửa ngõ của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ gắn với cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện.

- Vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung: Tập trung phát triển mạnh kinh tế biển kết hợp với bảo đảm quốc phòng - an ninh trên biển, nhất là đánh bắt và nuôi trồng hải sản xa bờ. Cơ cấu lại nông, lâm nghiệp, khai thác, nuôi trồng thủy, hải sản gắn với công nghiệp chế biến, bảo đảm bền vững và hiệu quả cao. Nâng cao hiệu quả phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp lọc hóa dầu, luyện kim, sản xuất, lắp ráp ô tô. Phát triển nhanh, đồng bộ năng lượng sạch, năng lượng tái tạo. Tăng cường liên kết vùng, tiếp tục hình thành, phát triển hệ thống đô thị ven biển, các trung tâm du lịch biển, du lịch sinh thái mang tầm khu vực và quốc tế.

- Phát huy hiệu quả các hành lang kinh tế Đông - Tây; phát triển các cảng

biển và dịch vụ cảng biển, hạ tầng và các trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá. Nâng cao năng lực phòng, chống, giảm thiểu thiệt hại của thiên tai, bão lũ, hạn hán; chủ động ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, chống sa mạc hóa, sạt lở bờ sông, bờ biển.

- Vùng Tây Nguyên: Nâng cao hiệu quả các diện tích cây công nghiệp, cây

dược liệu, hình thành các chuỗi liên kết trong sản xuất, chế biến, bảo quản và phân phối, xây dựng thương hiệu sản phẩm trên thị trường quốc tế. Chú trọng khôi phục và phát triển kinh tế rừng. Phát triển năng lượng tái tạo. Phát triển các trung tâm du lịch lớn, hình thành các tuyến du lịch chuyên đề đặc thù vùng Tây Nguyên. Phát triển nguồn nhân lực, ổn định dân cư, ưu tiên bảo tồn và khôi phục

các giá trị truyền thống, bản sắc của các dân tộc vùng Tây Nguyên. Xây dựng đường bộ cao tốc và nâng cấp mạng lưới giao thông nội vùng, các tuyến kết nối các tỉnh Tây Nguyên với Đông Nam Bộ, ven biển Nam Trung Bộ với Nam Lào

27

và Đông Bắc Campuchia. Bảo vệ vững chắc an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trong mọi tình huống.

- Vùng Đông Nam Bộ: Là vùng phát triển năng động, có tốc độ tăng trưởng

kinh tế cao. Tập trung phát triển mạnh khoa học, công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, đi đầu trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng, xây dựng kinh tế số, xã hội số, sản xuất các sản phẩm điện, điện tử, công nghiệp chế biến, chế tạo; tài chính ngân hàng, bất động sản. Nâng cao khả năng kết nối hạ tầng vùng, tạo động lực liên kết, lan tỏa thúc đẩy hợp tác và phát triển với đồng bằng sông Cửu Long qua các hành lang N1, N2, cao tốc Bắc - Nam, quốc lộ 50; với Tây Nguyên qua cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Đà Lạt; với Nam Trung Bộ qua

cao tốc Bắc - Nam và quốc lộ 55. Phát triển chuỗi công nghiệp - đô thị Mộc Bài

- Thành phố Hồ Chí Minh - Cảng Cái Mép - Thị Vải gắn với hành lang kinh tế xuyên Á. Thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm tài chính quốc tế. Tập trung phát triển cảng biển container Cái Mép - Thị Vải thực sự trở thành cảng trung chuyển quốc tế. Nghiên cứu xây dựng thành phố sân bay cửa ngõ quốc tế Long Thành.

- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Tập trung vào sản xuất nông nghiệp hàng hóa, hiện đại, quy mô lớn; nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp hiệu quả cao, tối ưu hóa về giá trị nông nghiệp; phát triển công nghệ về giống, công nghiệp chế biến, bảo quản nông sản, thủy sản; gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ và xây dựng thương hiệu sản phẩm. Đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, xây dựng mạng đô thị vùng tạo động lực cho phát triển. Phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng sạch. Thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nhất là cơ cấu nông nghiệp phù hợp với từng vùng sinh thái, chủ động thích ứng, thực hiện hiệu quả các dự án ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; giải quyết vấn đề sạt lở bờ sông, bờ biển, sụt lún, hạn mặn; xây dựng chiến lược tổng thể bảo vệ và sử dụng bền vững nguồn nước sông Mê Kông. Sớm hoàn thành, đưa vào sử dụng đường cao tốc Mỹ Thuận - Cần Thơ; nghiên cứu, xây dựng một số tuyến đường bộ cao tốc như Cần Thơ - Cà Mau, Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, Hà Tiên - Rạch Giá - Bạc Liêu... Tập trung xây dựng phát triển Phú Quốc thành trung tâm dịch vụ, du

28

lịch sinh thái biển mạnh mang tầm quốc tế, kết nối với các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực và thế giới.

Với các địa phương có vùng biển, có điều kiện phát triển kinh tế biển, cần

bảo đảm phát triển bền vững kinh tế biển phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, kiểm soát khai thác tài nguyên biển, phục hồi hệ sinh thái biển, gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân vùng biển, đảo.

c. Xây dựng kịch bản phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với thực tiễn

Tác động của dịch bệnh COVID-19 đến thế giới và mỗi quốc gia sẽ còn lâu

dài. Vì vậy, các liệu pháp chính sách cần được thực hiện linh hoạt để thích ứng với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội. Nhìn nhận toàn diện hiện trạng kinh tế - xã hội trong bối cảnh tác động của dịch COVID-19 để có lộ trình phù hợp. Kịch bản tăng trưởng không phải chỉ có một mà cần có nhiều kịch bản tăng trưởng, dự liệu các vấn đề để đạt được mục tiêu đề ra. Cần khu biệt được tác động của

COVID-19 đến từng ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, từng địa phương để

có các chính sách phù hợp. Sự tác động của dịch bệnh COVID-19 cũng đặt ra những vấn đề liên quan đến thể chế, thể chế cần dự liệu được các tình huống bất thường, các khó khăn để có giải pháp giảm sốc hiệu quả.

d. Thực hiện chuyển đổi số và phát triển kinh tế số

Chuyển đổi số là phương tiện, là công cụ cho phát triển, gia tăng kết nối, cơ hội phát triển. Ở cấp độ quốc gia, chuyển đổi số gắn liền với chính phủ số, kinh tế số và xã hội số quốc gia. Ở cấp độ địa phương, chuyển đổi số gắn liền với sự chuyển đổi sang chính quyền số, kinh tế số và xã hội số trên địa bàn của địa phương. Chuyển đổi số sẽ tác động toàn diện vào đời sống kinh tế - xã hội, tạo động lực chuyển đổi mô hình tăng trưởng, góp phần nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh của các địa phương.

Để chuyển đổi số các địa phương cần phải có nền tảng hạ tầng, dữ liệu, các

vấn đề về an toàn, bảo mật thông tin, dữ liệu, khả năng kết nối, sự sẵn sàng từ các chủ thể từ người cung ứng, người sử dụng, người quản lý... Vì vậy, chuyển

29

đổi số cần có trọng tâm, trọng điểm và có bước đi phù hợp để bảo đảm tính kết nối.

Chuyển đổi số tạo động lực cho kinh tế số. Kinh tế số là nền kinh tế vận

hành chủ yếu dựa trên nền tảng số, đặc biệt là các giao dịch điện tử trên môi trường Internet. Kinh tế số không chỉ thúc đẩy sự tăng trưởng mà còn tạo ra sự

thay đổi về diện mạo của nền kinh tế ở góc độ cấu trúc kinh tế và phương thức sản xuất. Tháng 9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW đặt

mục tiêu đến năm 2025, nền kinh tế số Việt Nam sẽ đạt 20% GDP, phát triển được một cộng đồng doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam lớn mạnh. Vì vậy, ở

cấp độ quốc gia và mỗi địa phương, phát triển kinh tế số là mục tiêu, là động lực, đồng thời cũng là nhiệm vụ để tạo ra động lực mới trong phát triển.

Để phát triển kinh tế số, nước ta cần phải vượt qua không ít thách thức,

trong đó, có thách thức về thể chế. Dù khuôn khổ pháp lý có những bước tiến nhất định với nhiều luật (như Luật Giao dịch điện tử (2005), Luật Công nghệ thông tin (2006), Luật Tần số vô tuyến điện (2009), Luật An ninh mạng (2018)...), tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục rà soát, chỉnh sửa, bổ sung để hoàn thiện như về giao dịch số, chứng từ số, thương mại điện tử...cũng như sự chuẩn bị về hạ tầng kỹ thuật, nhân lực. Việt Nam là một trong những quốc gia có chỉ số an toàn an ninh thông tin chưa cao, đặc biệt là ở khối doanh nghiệp và thách thức về nhân lực khi nhân lực công nghệ thông tin - nhân tố quan trọng nhất trong cạnh tranh và phát triển kinh tế số, còn ít về số lượng, chưa bảo đảm về chất lượng. Ở các địa phương, các vùng nông thôn, thách thức này càng lớn hơn, cần có quyết tâm lớn, sự nỗ lực trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện.

đ. Phối hợp giải quyết có hiệu quả các vấn đề vùng và liên vùng trong phát

triển

Trong thời gian qua các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã nỗ lực rất

lớn, tận dụng hết mọi tiềm năng sẵn có cùng với sự hỗ trợ từ trung ương để tập trung đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, chú trọng đến phát triển công nghiệp

và bước đầu đã đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, các liên kết, sự

30

phối hợp giữa các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương trong vùng có lúc chưa đồng bộ, chặt chẽ, chưa tạo được sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các địa phương để phát huy lợi thế chung của vùng trong phát triển kinh tế; sự phân công lao động trong phạm vi vùng chưa sâu; nhiều doanh nghiệp trong vùng có quy mô nhỏ, chưa kết nối được thành hệ thống/chuỗi sản xuất..

Vì vậy, sự phối hợp giữa các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương khi giải

quyết các vấn đề vùng và liên vùng là rất quan trọng, với một số nội dung như:

- Vấn đề liên vùng về kinh tế: thông thường yêu cầu về xử lý kết nối không gian, hành lang kinh tế, hạ tầng sản xuất kinh doanh; liên kết khai thác, sử dụng các yếu tố đầu vào, đầu ra (nguyên liệu, lao động, công trình khai thác sản xuất, dịch vụ, thị trường tiêu thụ,...) cho phát triển ngành sản xuất kinh doanh; liên kết phát triển chuỗi cung ứng sản phẩm, phát triển cụm ngành, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu dịch vụ; liên kết khai thác, sử dụng hợp lý hiệu quả nguồn tài nguyên, nguồn lực có phạm vi liên vùng, được sử dụng cho khai thác chung liên vùng (sông lớn chảy liên vùng, mặt nước biển,... cơ sở hạ tầng, dịch vụ có chức năng liên vùng, quốc lộ,...).

- Vấn đề liên vùng về xã hội, dân cư, lao động: xử lý yêu cầu về phát triển,

khai thác, sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội (y tế, giáo dục đào tạo,...) cấp vùng, liên tỉnh trong và ngoài vùng quy hoạch; liên kết phát triển chuỗi cung ứng dịch vụ xã hội liên vùng; xử lý vấn đề di dân, di chuyển lao động, tái định cư; kết nối phân bố hợp lý không gian dân cư, kết nối hạ tầng phục vụ đời sống sinh hoạt các khu vực dân cư giữa vùng quy hoạch với các vùng lân cận xung quanh.

- Vấn đề liên vùng về môi trường, ứng phó thiên tai, các vấn đề an ninh phi

truyền thống: xử lý yêu cầu về kết nối, liên kết xây dựng, khai thác, sử dụng hệ thống công trình phòng chống ô nhiễm môi trường, hành lang, vành đai bảo vệ môi trường, ứng phó thiên tai, biển đổi khí hậu giữa trong và ngoài vùng; kết nối bố trí hợp lý không gian/khu vực bảo vệ, bảo tồn tài nguyên, môi trường sinh thái; liên kết bảo vệ, bảo tồn nguồn tài nguyên phân bố xuyên các vùng, được sử dụng cho khai thác chung liên vùng.

31

Các vấn đề an ninh phi truyền thống hiện nay cần được giải quyết không

chỉ ở cấp độ quốc gia mà phải giải quyết trên nhiều cấp độ mà trước hết ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. HĐND các cấp, trong đó, có cấp tỉnh không chỉ giải quyết các vấn đề cấp thiết mang tính ngắn hạn mà còn phải giải quyết các vấn đề có tính dài hạn, tác động trực tiếp đến triển vọng phát triển ổn định và bền vững của địa phương. Trong định hướng phát triển của địa phương, các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống cụ thể, gắn với địa phương phải được dự liệu và có giải pháp chủ động ứng phó.

- Vấn đề liên vùng giải quyết đa mục tiêu: thông thường xử lý yêu cầu về

kết nối xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật liên vùng (giao thông, cấp điện, cấp nước,...); kết nối không gian đô thị giữa trong và ngoài vùng quy hoạch; liên kết khai thác, sử dụng hệ thống cơ sở hạ tầng dịch vụ có chức năng liên tỉnh, liên vùng, quốc tế (sân bay, cửa khẩu,...); liên kết xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội khu vực giáp ranh giữa vùng quy hoạch và các vùng lân cận xung quanh (có phạm vi ranh giới thuộc vùng quy hoạch và vùng tiếp giáp với vùng quy hoạch).

e. Thực hiện có hiệu quả vai trò, trách nhiệm quyết định các vấn đề phát

triển kinh tế - xã hội ở địa phương của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Bảo đảm vai trò quyết định các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội ở địa

phương của HĐND các cấp nói chung, HĐND cấp tỉnh nói riêng thông qua quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, trung hạn và hằng năm của tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương; quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực trên địa bàn trong phạm vi được phân quyền, quyết định chủ trương đầu tư, chương trình dự án của tỉnh/ thành phố trực thuộc trung ương theo quy định của pháp luật; quyết định chủ trương, biện pháp cụ thể để khuyến khích, huy động các thành phần kinh tế tham gia cung cấp các dịch vụ công trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật; quyết định các biện pháp khác để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn theo quy định của pháp luật... HĐND cấp tỉnh cần thiết lập có hiệu quả tầm nhìn phát triển của địa phương thông qua các nghị quyết, thông qua việc giám sát thực hiện các nghị quyết, giám sát việc thực hiện

các quy hoạch, kế hoạch phát triển.

32

g. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí,

với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn.

Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng, lãng phí, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự.

Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo

sự tự giác, thống nhất cao về ý chí và hành động trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, trước hết là sự gương mẫu, quyết liệt của người đứng đầu cấp uỷ, cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương; kiên trì giáo dục, rèn luyện đức tính liêm khiết, xây dựng văn hoá tiết kiệm, không tham nhũng, lãng phí, trước hết trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.

Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của

Nhà nước về kinh tế - xã hội, về kiểm tra, giám sát và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nhất là các quy định về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm người

đứng đầu, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; cơ chế bảo vệ, khuyến khích những người làm công tác kiểm tra, giám sát, phát

hiện, xử lý tham nhũng cũng như với người tố cáo, tích cực đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, đồng thời xử lý nghiêm những người lợi dụng chống tham nhũng, lãng phí để vu khống, gây mất đoàn kết nội bộ; kiểm soát có hiệu quả tài

sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý; đẩy mạnh thực hiện chế độ thanh toán không dùng tiền mặt.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra,

truy tô, xét xử, thi hành án, phát hiện sớm, xử lý nghiêm minh các vụ việc, vụ án tham nhũng, lãng phí; kiên quyết thu hồi tài sản tham nhũng; kịp thời xử lý, thay thế cán bộ lãnh đạo, quản lý khi có biểu hiện tham nhũng, lãng phí; xử lý nghiêm những cán bộ nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà cho người dân, doanh

33

nghiệp. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ, bảo đảm liêm chính, trong sạch, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng và các cơ quan tham mưu cho cấp uỷ lãnh đạo,

chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng. Từng bước mở rộng phạm vi phòng, chống tham nhũng ra khu vực ngoài nhà nước, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng. Phát huy vai trò, trách nhiệm của

các cơ quan và đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính

trị - xã hội, nhân dân và cơ quan truyền thông, báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; nâng cao hiệu quả phát hiện và xử lý tham nhũng,

lãng phí.

34

CÂU HỎI THẢO LUẬN

1. Bối cảnh thế giới, trong nước hiện nay đặt ra những yêu cầu gì đối với của HĐND và đại biểu HĐND cấp tỉnh? Liên hệ với cá nhân đại biểu HĐND.

2. Phân tích thời cơ, thách thức, lợi thế so sánh của tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương nơi đại biểu HĐND công tác.

3. Trách nhiệm của HĐND và đại biểu HĐND cấp tỉnh trong việc góp

phần hiện thực hóa tầm nhìn, mục tiêu phát triển đất nước (được xác định trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng) và của địa phương (được xác định trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 nơi đại biểu HĐND công tác?).

4. Những vấn đề cần quan tâm đối với phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương (nơi đại biểu HĐND công tác).

35

TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO HỌC VIÊN

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XIII, NXB. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021.

2. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về

CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam", Tạp chí Cộng sản điện tử ngày 16/5/2021.

3. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2019).

4. Nghị quyết của Quốc hội khóa XV về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm

và hằng năm.

5. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương,

nhiệm kỳ 2020 - 2025 (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác)

6. Chương trình hoạt động của HĐND tỉnh/thành phố trực thuộc trung

ương nhiệm kỳ 2020 - 2025 (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác).

7. Nghị quyết của HĐND tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương về phát

triển kinh tế - xã hội 5 năm và hằng năm (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác).

36

Chuyên đề 2

CHÍNH QUYỂN ĐỊA PHƯƠNG VÀ

ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH

I. Khái quát về chính quyền địa phương

1. Khái niệm, đặc điểm chung của chính quyền địa phương

a. Khái niệm chính quyền địa phương

Địa phương là một phạm trù không gian lãnh thổ gắn với những đặc điểm

về điều kiện tự nhiên, sự phát triển kinh tế, lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán và lối sống của con người.

Tùy thuộc vào mô hình tổ chức chính quyền địa phương (CQĐP) ở mỗi

quốc gia khác nhau mà có các hình thức tổ chức CQĐP phù hợp, nhưng nhìn chung CQĐP được lập ra. Đặc điểm chung của việc thiết kế tổ chức CQĐP trên thế giới là vừa đảm bảo sự thống nhất của quốc gia, vừa đảm bảo thực hiện một cách tốt nhất quyền lợi của dân cư địa phương.

Xét về tính chất pháp lý, CQĐP được nhìn nhận trên hai phương diện có quan hệ gắn bó với nhau:

Phương diện thứ nhất, CQĐP là cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước ở

địa phương. Điều này có nghĩa, trong quan hệ quyền lực nhà nước thống nhất, CQĐP là một cấu trúc quyền lực có tính bộ phận trong hệ thống cơ quan nhà nước thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ xuất phát từ tính thống nhất của quyền lực nhà nước (tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân).

Phương diện thứ hai, CQĐP không chỉ là thiết chế đại diện cho quyền lực

nhà nước ở địa phương mà còn thiết chế đại diện cho lợi ích, ý chí, nguyện vọng của các cộng đồng dân cư trong phạm vi địa phương. Do vậy, CQĐP ở mỗi đơn vị hành chính - lãnh thổ còn là hình thức tổ chức thực hiện dân chủ của nhân dân địa phương trong một phạm vi lãnh thổ cụ thể.

Xét một cách tổng quát, CQĐP có hai chức năng cơ bản sau:

Thứ nhất, chức năng thực hiện quyền hành pháp ở địa phương, quản lý dân

cư trong lãnh thổ

37

Là trung tâm tổ chức thực hiện pháp luật và các quyết định quản lý nhà nước của các cơ quan nhà nước cấp trên tại địa bàn quản lý của mình, CQĐP

đưa quyền lực nhà nước vào hoạt động hàng ngày của địa phương, quản lý toàn diện (hoặc gần như toàn diện, trừ những mặt không được phân quyền, phân cấp, ủy quyền) các quá trình xã hội diễn ra trên địa bàn lãnh thổ. Quyền lực nhà nước mà CQĐP có được là do Hiến pháp, pháp luật quy định. Đồng thời, Nhà nước

bảo đảm các phương tiện, nguồn lực, trong đó có ngân sách để CQĐP thực hiện chức năng này. CQĐP thực hiện quyền hành pháp theo các hướng:

- Thi hành Hiến pháp, pháp luật và thực hiện quyết định của các cơ quan

nhà nước cấp trên;

- Quyết định chủ trương, biện pháp bằng việc ra nghị quyết để giải quyết

các vấn đề của cộng đồng địa phương theo thẩm quyền;

- Kiểm tra, giám sát hoạt động thi hành pháp luật và quyết định của CQĐP

đối với tất cả các cơ quan, tổ chức, công dân trên lãnh thổ hành chính.

Thứ hai, chức năng đại diện cộng đồng, thay mặt cho cộng đồng dân cư tại

địa phương, thể hiện tính chất dân chủ của nhà nước, bảo đảm quyền lợi của địa phương trong mối quan hệ với quyền lợi quốc gia, quyền lợi của các địa phương khác.

Đại diện cho cộng đồng dân cư địa phương, CQĐP phản ánh với cơ quan

cấp trên về nguyện vọng, mong muốn, nhu cầu chính đáng của nhân dân địa phương; phản ảnh về những đặc điểm, đặc thù của địa phương; tham gia vào quá trình hoạch định chính sách của cấp trên để bảo đảm cho chính sách phù hợp với tình hình, hoàn cảnh thực tế của địa phương.

Quyền được quyết định của CQĐP là quyền tự mình đề ra và thực hiện

chính sách cho riêng địa phương theo quy định của Hiến pháp, luật đồng thời tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

Về mặt hình thức, quyền được tự quyết định phải qua quá trình phân quyền,

phân cấp, ủy quyền và được thể hiện trong Hiến pháp, pháp luật. Nguồn lực để thực hiện quyền tự quyết này không chỉ từ trung ương bảo đảm mà địa phương

phải tự bảo đảm bằng tài sản, ngân sách riêng và nguồn nhân lực của địa

38

phương.

Tóm lại, "chính quyền địa phương là những thiết chế nhà nước, hay thiết

chế tự quản của cộng đồng lãnh thổ địa phương, có tư cách pháp nhân quyền lực công, được thành lập một cách hợp hiến và hợp pháp, để quản lý, điều hành mọi mặt đời sống nhà nước, xã hội trên một đơn vị hành chính - lãnh thổ của một quốc gia, trong giới hạn thẩm quyền, thủ tục, cách thức nhất định do pháp luật quy định"1.

b. Đặc điểm chung của chính quyền địa phương

- Có một đơn vị hành chính - lãnh thổ xác định bằng đường địa giới hành chính (nếu đó là cấu trúc nhà nước đơn nhất), hoặc có biên giới nội địa (nếu có- nếu là cấu trúc nhà nước liên bang). CQĐP được đặt trong một vùng địa giới hành chính xác định trong lãnh thổ quốc gia. Đây là đặc điểm quan trọng cần chú ý, vì mỗi đơn vị hành chính khác nhau cần được quản lý khác nhau, là cơ sở để tổ chức cấu trúc và xác định thẩm quyền của CQĐP.

- Có dân cư nhất định trên địa bàn hành chính - lãnh thổ xác định. CQĐP

quản lý một số lượng người dân xác định trên địa bàn của một đơn vị lãnh thổ xác định.

- Có một bộ máy chính quyền, với những thẩm quyền pháp lý do pháp luật

quy định. Về tổ chức, CQĐP có thể cấu trúc bộ máy khác nhau nhưng về phương diện pháp lý, tổ chức của CQĐP là một pháp nhân công quyền. Có nghĩa rằng CQĐP độc lập về tư cách pháp lý, có tài sản độc lập, nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật và chịu trách nhiệm về các giao dịch ấy.

- Thực hiện quản lý hành chính nhà nước trong phạm vi đơn vị hành chính

- lãnh thổ.

- Có ngân sách địa phương để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.

- Có tính độc lập tương đối trong mối quan hệ với CQĐP ở đơn vị hành

chính - lãnh thổ khác. Mỗi CQĐP có quyền thẩm quyền nhất định để tổ chức các công việc quản lý trong nội bộ của CQĐP và thực hiện các công việc quản lý đối 12 GS.TS. Phạm Hồng Thái, Hiến pháp năm 2013 về chính quyền địa phương và việc ban hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số tháng 01/2015, trang 05.

Xem thêm Tài liệu bồi dưỡng HĐND nhiệm kỳ 2016-2021.

39

với dân cư trên địa bàn.

2. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương

a. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật; thực

hiện nguyên tắc tập trung dân chủ

Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Nhà nước được tổ chức và

hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật.

Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và của CQĐP nói riêng. Nguyên tắc này đòi hỏi việc tổ chức và hoạt

động của bộ máy CQĐP phải dựa trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và pháp luật. Hoạt động quản lý trên các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, an sinh xã hội... đều phải trên cơ sở các quy định của pháp luật.

Trên cơ sở các quy định chung của trung ương, căn cứ vào điều kiện, hoàn

cảnh cụ thể của địa phương, chính quyền các cấp ở địa phương sẽ phải đưa ra những giải pháp nhằm triển khai thực hiện pháp luật trên địa bàn địa phương.

Mọi hoạt động này đều phải đảm bảo sự tuân thủ đúng các quy định về thẩm quyền, thủ tục, nội dung điều chỉnh của pháp luật.

Nguyên tắc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật

đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức trong bộ máy CQĐP cần nắm rõ các quy định của pháp luật và tổ chức thi hành các quy định đó vào thực tiễn. Trong bối cảnh đẩy mạnh phân quyền, phân cấp giữa trung ương và địa phương hiện nay, thẩm quyền, trách nhiệm của CQĐP càng được khẳng định. CQĐP sẽ phát huy được tính chủ động, sáng tạo trong phạm vi đã phân cấp, phân quyền và chịu trách nhiệm về những nhiệm vụ được giao.

Trong nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và

CQĐP nói riêng, tập trung dân chủ cần được hiểu rõ và thống nhất. Tập trung dân chủ một mặt đề cao chế độ dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, nhưng mặt khác, cũng đề cao chế độ kỷ luật trong các mối quan hệ

40

giữa các cơ quan nhà nước. Tập trung dân chủ là nguyên tắc kết hợp hài hoà giữa chỉ đạo, lãnh đạo tập trung và mở rộng dân chủ.

Nguyên tắc này đòi hỏi, trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

nói chung và CQĐP nói riêng, một mặt phải bảo đảm sự chỉ đạo, lãnh đạo tập trung, thống nhất của trung ương với địa phương, của cấp trên với cấp dưới và mặt khác phải mở rộng dân chủ, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của địa phương và cấp dưới; phải coi trọng vai trò của tập thể nhưng phải đề cao vai trò, trách nhiệm cá nhân của người lãnh đạo; phát huy tính năng động, sáng tạo của cấp dưới nhưng luôn phải đảm bảo sự chỉ đạo tập trung thống nhất của cấp trên.

b. Nguyên tắc hiện đại, minh bạch, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của

nhân dân

Đảm bảo yêu cầu hiện đại, minh bạch trong hoạt động quản lý của các cơ

quan nhà nước nói chung và CQĐP nói riêng trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay là một trong những nguyên tắc cơ bản đặt ra. Nguyên tắc hiện đại, minh bạch đòi hỏi CQĐP cần đảm bảo tính chuyên nghiệp ngay trong hoạt động của mỗi cán bộ, công chức, trong hoạt động quản lý trên các lĩnh vực tại địa phương.

Hiện đại, minh bạch trong tổ chức, hoạt động của CQĐP là đòi hỏi tất yếu

và là biện pháp thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay. Hơn nữa, đây cũng được coi là biện pháp để phát huy quyền làm chủ của nhân dân và tăng cường vai trò ngày càng quan trọng của cơ sở. Minh bạch các thông tin, trong đó có những thông tin liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân như quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các quy

hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, việc triển khai các dự án đầu tư tại địa phương... Đây cũng chính là việc đảm bảo quyền được tiếp cận thông tin của nhân dân. Minh bạch là biện pháp hữu hiệu nhằm phòng ngừa các hành vi vi phạm của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ, là một trong những cách thức để kiểm soát được hoạt động của CQĐP.
41
-

CQĐP gắn liền với hoạt động thực thi chính sách, pháp luật. Nhân dân đánh giá hiệu quả của bộ máy nhà nước thông qua chính hoạt động của CQĐP.

Vì vậy, hiện đại, minh bạch là nguyên tắc tất yếu đòi hỏi mỗi cấp CQĐP cần đảm bảo thực hiện, đáp ứng yêu cầu hội nhập và toàn cầu hóa.

Bên cạnh đó, hoạt động của CQĐP luôn gắn liền với thực tiễn ở mỗi địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân ở địa phương. Chính vì vậy, CQĐP phải luôn đảm bảo nguyên tắc phục vụ nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.

Nhân dân thể hiện vai trò giám sát đối với các cơ quan nhà nước nói chung

và CQĐP nói riêng thông qua việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,

phản ánh của mình, thông qua các đại biểu trong cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương hoặc địa phương, qua hoạt động đóng góp ý kiến xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, góp ý kiến xây dựng Hiến pháp và pháp luật...

Nhân dân cũng thực hiện quyền giám sát đối với CQĐP thông qua các tổ

chức đoàn thể mà nhân dân là thành viên như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội

Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân...

Để thực hiện quyền giám sát của nhân dân, mỗi cơ quan nhà nước, mỗi cán

bộ, công chức nhà nước cần đảm bảo yêu cầu công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý, tạo điều kiện thuận lợi để cơ chế giám sát được thực thi.

c. Hội đồng nhân dân làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa

số; Ủy ban nhân dân hoạt động theo chế độ tập thể Ủy ban nhân dân kết hợp với trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân

HĐND làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số thông qua

các kỳ họp. Trong mỗi kỳ họp sẽ có nhiều phiên họp, phiên họp của HĐND được thực hiện theo chế độ hội nghị nhằm bàn bạc, thảo luận và quyết định các công việc thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND, trên cơ sở phát huy trí tuệ tập thể của HĐND. Việc quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND tại phiên họp được thực hiện bằng việc biểu quyết để thông qua nghị

42

quyết và các quyết định tại phiên họp phải được quá nửa số đại biểu biểu quyết thông qua, trừ trường hợp bãi miễn...

Khác với chế độ làm việc của HĐND, UBND làm việc theo chế độ kết hợp

trách nhiệm của tập thể UBND với việc đề cao trách nhiệm cá nhân của Chủ tịch UBND và của mỗi thành viên UBND. Sự kết hợp giữa phương thức làm việc theo chế độ tập thể với trách nhiệm cá nhân chủ tịch UBND nhằm phát huy trí tuệ tập thể thành viên UBND khi triển khai thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của UBND, đồng thời cũng khẳng định trách nhiệm người đứng đầu UBND khi quyết định các vấn đề quan trọng trong tổ chức, hoạt động của cơ quan. Mọi hoạt động của UBND, thành viên UBND phải tuân thủ các quy định của pháp

luật và sự lãnh đạo của cấp ủy, sự giám sát của HĐND; bảo đảm tập trung, dân chủ, tuân thủ các quy định của pháp luật và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân ở địa phương.

3. Nguyên tắc phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương

"Phân định thẩm quyền" được hiểu là việc phân chia và xác định rõ thẩm

quyền của chính quyền trung ương, thẩm quyền của CQĐP và thẩm quyền của năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa các cấp CQĐP (thông qua phân cấp, phân quyền) để bảo đảm thực hiện tốt chức phương. Nội dung này luôn là vấn đề quan trọng trong tổ chức và hoạt động của

bộ máy nhà nước. Cơ sở pháp lý để phân định thẩm quyền của CQĐP là Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

Theo Hiến pháp năm 2013: "Nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐP được xác

định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp CQĐP. Trong trường hợp cần thiết, CQĐP được giao thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó|4. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) đã cụ thể hóa thành các nguyên tắc cơ bản sau đây:

14 Khoản 2 Điều 112 Hiến pháp năm 2013.

43

a. Bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất về thể chế, chính sách, chiến lược và quy hoạch đối với các ngành, lĩnh vực; bảo đảm tính thống nhất, thông suốt của nền hành chính quốc gia5

Nguyên tắc này yêu cầu khi phân định thẩm quyền của CQĐP phải bảo đảm

tính thống nhất, thông suốt của nền hành chính nhà nước. Phân định thẩm quyền của CQĐP phải phù hợp với quy định của pháp luật, bảo đảm Chính phủ quản lý thống nhất về thể chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, thanh tra, kiểm tra, kiểm soát cân đối vĩ mô. Theo nguyên tắc này, sẽ không thực hiện phân định thẩm quyền cho CQĐP những vấn đề về thể chế, chính sách, chiến lược và quy hoạch đối với các ngành, lĩnh vực để tránh phân tán, cắt khúc, không nhất quán trong quản lý. Phân định thẩm quyền trong các lĩnh vực quản lý nhà nước giữa trung ương và địa phương phải bảo đảm trung ương tập trung hoạch định chính sách, quản lý vĩ mô, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ thống nhất, chỉ những nhiệm vụ cần phải bảo đảm thi hành thống nhất trong phạm vi cả nước, địa phương chưa đủ nguồn lực thực hiện hoặc nếu giao địa phương thì tạo nên sự cắt khúc, chia rẽ mới không phân cấp và giao trung ương tập trung quản lý thống nhất.

b. Phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương

ở các đơn vị hành chính trong việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật

Nguyên tắc này đòi hỏi những nhiệm vụ, quyền hạn nào CQĐP đảm nhiệm

được thì cần phân cấp, phân quyền, giao cho CQĐP thực hiện. Đẩy mạnh phân cấp cho địa phương thực hiện những nhiệm vụ tổ chức thực thi pháp luật, quản lý hành chính, giải quyết các công việc hành chính liên quan trực tiếp tới tổ chức, cá nhân, thực hiện các nhiệm vụ địa phương có đủ nguồn lực để thực hiện hiệu quả.

Việc nào, cấp nào sát thực tế hơn, giải quyết kịp thời và phục vụ tốt hơn các yêu cầu của tổ chức và người dân thì giao cho cấp đó thực hiện. Thực hiện 15 Điểm a, khoản 2, Điều 11, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

16 Điểm b, khoản 2, Điều 11, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

44

nguyên tắc này sẽ phát huy quyền tự chủ, tính sáng tạo của các cấp CQĐP, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

c. Kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ, phân

định rõ nhiệm vụ quản lý nhà nước giữa CQĐP các cấp đối với các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn lãnh thổ「

Quản lý theo ngành là hoạt động quản lý các đơn vị, tổ chức kinh tế, văn

hóa, xã hội có cùng cơ cấu kinh tế - kĩ thuật hoặc hoạt động với mục đích giống nhau nhằm làm cho hoạt động của các tổ chức, đơn vị này phát triển một cách đồng bộ, nhịp nhàng, đáp ứng được với yêu cầu của nhà nước và xã hội. Quản lý theo lãnh thổ là quản lý trên phạm vi đơn vị hành chính nhất định theo sự phân vạch địa giới hành chính của nhà nước. Các đơn vị thuộc các ngành kinh tế - kỹ thuật đều nằm trên một đơn vị hành chính nhất định, vừa chịu sự quản lý theo ngành, đồng thời cũng chịu sự quản lý của các cấp CQĐP theo quy định. Vì vậy, cần phân định rõ nhiệm vụ của các cơ quan quản lý theo ngành dọc và nhiệm vụ quản lý cụ thể của từng cấp CQĐP theo đơn vị hành chính. Thực hiện nguyên tắc này bảo đảm sự phát triển của các ngành, lĩnh vực, đồng thời giúp cho việc

khơi dậy tiềm năng và lợi thế của địa phương để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương.

d. Việc phân định thẩm quyền phải phù hợp với điều kiện, đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và đặc thù của các ngành, lĩnh vực

Có thể thấy đô thị và nông thôn, hải đảo có những điểm khác nhau cơ bản

về vị trí, vai trò, về kinh tế, về địa giới hành chính, về dân cư, về lối sống, về cơ

sở hạ tầng... Các ngành, lĩnh vực cũng có những đặc điểm khác nhau, do vậy cũng đặt ra những yêu cầu quản lý không giống nhau. Vì vậy, việc phân định thẩm quyền đồng loạt và đại trà (không phân biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội giữa các địa phương, không phân biệt các ngành, lĩnh vực) mà thực hiện chung một cơ chế, chính sách sẽ không đạt hiệu quả cao.

17 Điểm c, khoản 2, Điều 11, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

18 Điểm d, khoản 2, Điều 11, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

45

Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải xác định rõ đặc thù của các đơn vị

hành chính, của quản lý nhà nước đối với các ngành, lĩnh vực để phân định thẩm

quyền cho phù hợp. Chẳng hạn, trong lĩnh vực ngân sách, đối với các địa phương tự cân đối được ngân sách sẽ được phân định thẩm quyền khác với các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách.

đ. Những vấn đề liên quan đến phạm vi từ hai đơn vị hành chính cùng cấp

trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của CQĐP cấp trên trực tiếp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Nguyên tắc này bảo đảm tính hiệu quả trong việc giải quyết những vấn đề

liên quan đến hai đơn vị hành chính cùng cấp trở lên bởi vì CQĐP ở các đơn vị

hành chính các cấp không có khả năng giải quyết tốt những vấn đề. Tuy nhiên, không phải mọi vấn đề có liên quan đến hai xã/hai huyện/hai tỉnh trở lên đều thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền cấp trên trực tiếp. Những vấn đề nêu các xã/huyện/tỉnh giải quyết được trên cơ sở liên kết, phối hợp và bảo đảm hiệu quả thì không nhất thiết phải chuyển lên cấp trên. Thông thường, những vấn đề liên quan đến chỉ đạo thống nhất hoặc cần huy động sự tham gia của các

xã/các huyện/các tỉnh hoặc các vấn đề phức tạp mà bản thân mỗi địa phương cũng không thể tự mình giải quyết được mới thuộc thẩm quyền của cấp trên trực tiếp.

e. Việc phân quyền, phân cấp cho các cấp CQĐP phải bảo đảm điều kiện

về tài chính, nguồn nhân lực và các điều kiện cần thiết khác; gắn phân quyền, phân cấp với cơ chế kiểm tra, thanh tra khi thực hiện phân quyền, phân cấp. CQĐP thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được phân quyền, phân cấp và chịu trách nhiệm trong phạm vi được phân quyền, phân cấp

Nguyên tắc này đòi hỏi phải bố trí đủ nguồn lực tương ứng với yêu cầu

thực hiện nhiệm vụ theo phân cấp giữa trung ương và địa phương và giữa các

cấp CQĐP gồm: Biên chế, kinh phí hoạt động, cơ sở vật chất và trang, thiết bị đồng bộ với yêu cầu nhiệm vụ, quyền hạn do cấp có thẩm quyền quyết định.

19 Điểm đ, khoản 2, Điều 11, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

20 Điểm e, khoản 2, Điều 11, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

46

Theo đó, phải xóa bỏ các thủ tục như: Chấp thuận, cho ý kiến, cho chủ trương... nhằm đề cao vai trò chủ động, tinh thần trách nhiệm của các địa phương trong hoạt động quản lý nhà nước. Đối với những nội dung đã được phân cấp thì cơ quan cấp trên không làm thay hay can thiệp sâu vào quá trình ra quyết định của cấp dưới mà chỉ thực hiện nhiệm vụ theo dõi, giám sát, kiểm tra việc cấp dưới thực hiện. Ngược lại, cấp dưới có tránh nhiệm thực hiện những nhiệm vụ đã được phân cấp và không được đùn đẩy trách nhiệm lên cấp trên.

Trên cơ sở nguyên tắc phân định thẩm quyền trên, Luật Tổ chức chính

quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) đã quy định về phân quyền, phân cấp, ủy quyền21.

21 Các Điều 12, 13, 14, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) quy định:

"Điều 12. Phân quyền cho chính quyền địa phương

1. Việc phân quyền cho các cấp chính quyền địa phương phải được quy định trong luật. Trong trường hợp này, luật phải quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể mà chính quyền địa phương không được phân cấp, ủy quyền cho cơ quan nhà nước cấp dưới hoặc cơ quan, tổ chức khác.

2. Chính quyền địa phương tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền.

3. Cơ quan nhà nước cấp trên trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền cho các cấp chính quyền địa phương.

4. Các luật khi quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương, của các cơ quan thuộc chính quyền địa phương phải bảo đảm các nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật này và phù hợp với các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương quy định tại Luật này.

Điều 13. Phân cấp cho chính quyền địa phương

1. Căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình cụ thể của địa phương, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một cách liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Việc phân cấp phải bảo đảm các nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật này và phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước phân cấp, trong đó xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới, trách nhiệm của cơ quan nhà nước phân cấp và cơ quan nhà nước được phân cấp.

3. Cơ quan nhà nước cấp trên khi phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới phải bảo đảm điều kiện về tài chính, nguồn nhân lực và điều kiện cần thiết khác để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân cấp; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã phân cấp và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân cấp.

4. Cơ quan nhà nước được phân cấp chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước đã phân cấp về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp. Căn cứ tình hình cụ thể ở địa phương, cơ quan nhà nước ở địa phương có thể phân cấp tiếp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp nhưng phải được sự đồng ý của cơ quan nhà nước đã phân cấp. Điều 14. Ủy quyền cho cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

1. Trong trường hợp cần thiết, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 12 của Luật này, cơ quan hành chính nhà nước cấp trên có thể ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp, Ủy ban nhân dân có thể ủy quyền cho cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân có thể ủy quyền cho Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp, người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khoảng thời gian xác định kèm theo các điều kiện cụ thể. Việc ủy quyền phải được thể hiện bằng văn bản.

2. Việc ủy quyền quy định tại khoản 1 Điều này phải bảo đảm điều kiện về tài chính, nguồn nhân lực và các điều kiện cần thiết khác để thực hiện. Cơ quan, tổ chức, cá nhân ủy quyền có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc

47

4. Cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa

phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), CQĐP được tổ chức ở các đơn vị hành chính?.

Theo đó, cơ cấu tổ chức của CQĐP ở các đơn vị hành chính hiện nay có 2 nhóm: (1) Có HĐND và UBND; (2) Nhóm không có HĐND.

a. Hội đồng nhân dân

HĐND gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.

Thường trực HĐND là cơ quan thường trực của HĐND, thực hiện nhiệm

vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác

trước HĐND. Thành viên của Thường trực HĐND không thể đồng thời là thành viên của UBND cùng cấp.

HĐND bao gồm các Ban. Ban của HĐND là cơ quan của HĐND, có nhiệm

vụ thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trước khi trình HĐND, giám sát, kiến nghị về những vấn đề thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND.

HĐND cấp tỉnh có Ban Pháp chế, Ban kinh tế - ngân sách, Ban văn hóa -

xã hội (nơi nào có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thì thành lập Ban Dân tộc; HĐND thành phố trực thuộc Trung ương có thêm Ban Đô thị). Ban của HĐND cấp tỉnh gồm có Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên. Số lượng Ủy viên

của các Ban của HĐND cấp tỉnh do HĐND cấp tỉnh quyết định. Trường hợp Trưởng ban của HĐND cấp tỉnh là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách thì Ban có một Phó Trưởng ban; trường hợp Trưởng ban của HĐND tỉnh là đại biểu

thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã ủy quyền và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình đã ủy quyền.

3. Cơ quan, tổ chức được ủy quyền phải thực hiện đúng nội dung và chịu trách nhiệm trước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được ủy quyền. Cơ quan, tổ chứcnhận ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho cơ quan, tổ chức khác thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền".

22 Xem khoản 1, Điều 111 Hiến pháp năm 2013 và khoản 1, Điều 4, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

48

hoạt động không chuyên trách thì Ban có hai Phó Trưởng ban. Phó Trưởng ban của HĐND cấp tỉnh là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách.

HĐND cấp huyện thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - xã hội (nơi có

nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thì thành lập Ban dân tộc). Ban của HĐND cấp huyện gồm có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy viên. Số lượng Ủy

viên của các Ban của HĐND cấp huyện do HĐND cấp huyện quyết định. Trưởng ban của HĐND cấp huyện có thể là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách; Phó Trưởng ban của HĐND cấp huyện là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách.

HĐND cấp xã thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - xã hội. Ban của HĐND cấp xã gồm có Trưởng ban, một Phó trưởng ban và các Ủy viên. Số lượng Ủy viên của các Ban của HĐND cấp xã do HĐND cấp xã quyết định. Trưởng ban, Phó trưởng ban và các Ủy viên của các Ban của HĐND cấp xã hoạt động kiêm nhiệm.

b. Ủy ban nhân dân

UBND do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan

hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. UBND gồm chủ tịch, phó chủ tịch và các ủy viên.

Cơ quan chuyên môn thuộc UBND được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện là

cơ quan tham mưu, giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên.

23 Xem thêm: Văn bản số 883/HD- UBTVQH14 ngày 02/6/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Hướng dẫn một số nội dung về việc tổ chức kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021- 2026; Công văn số 3308/BNV-CQĐP ngày 08/7/2021 của Bộ Nội vụ Về việc bầu người đứng đầu cơ quan chuyên môn giữ chức danh Ủy viên UBND cấp tỉnh, cấp huyện nhiệm kỳ 2021-2026.

49

Các cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh được tổ chức thống nhất gồm 17 sở24 và 04 sở đặc thù25.

Việc tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND phải bảo đảm phù hợp với

đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và điều kiện, tình hình phát triển kinh tế - xã

hội của từng địa phương; bảo đảm tinh gọn, hợp lý, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở; không trùng lặp với nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước cấp trên đặt tại địa bàn.

UBND cấp huyện gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên. UBND cấp

huyện loại I có không quá 03 (ba) Phó Chủ tịch; loại II và loại III có không quá

02 (hai) Phó Chủ tịch. Ủy viên UBND cấp huyện gồm các Ủy viên là người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách công an. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện gồm có các phòng và cơ quan tương đương phòng.

UBND cấp xã gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy

viên phụ trách công an. UBND cấp xã loại I, loại II có không quá 02 (hai) Phó Chủ tịch; xã loại III có 01 (một) Phó Chủ tịch.

II. Nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động của chính quyền địa phương cấp tỉnh

1. Nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động của Hội đồng nhân

dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

a. Nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

- Về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

24 Theo quy định tại Nghị định số 24/2014/NĐ-CP và Nghị định 107/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP, các cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh được tổ chức thống nhất gồm 17 sở: Sở Nội vụ; Sở Tư pháp; Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính; Sở Công Thương; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Sở Giao thông vận tải; Sở Xây dựng; Sở Tài nguyên và Môi trường; Sở Thông tin và Truyền thông; Sở Lao động - Thương binh và Xã hội; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Sở Khoa học và Công nghệ; Sở Giáo dục và Đào tạo; Sở Y tế; Thanh tra tỉnh; Văn phòng UBND.

Theo quy định tại Nghị định số 24/2014/NĐ-CP và Nghị định 107/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP, 04 cơ quan chuyên môn đặc thù của UBND cấp tỉnh: Sở Ngoại vụ; Ban Dân tộc; Sở Du lịch; Sở Quy hoạch - Kiến trúc. Trường hợp không tổ chức riêng Sở Ngoại vụ, Ban Dân tộc thì chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ngoại vụ, dân tộc do Văn phòng UBND thực hiện. Riêng Sở Quy hoạch - Kiến trúc được thành lập ở thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

50

Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2019)° đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp tỉnh trong việc tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật; quyết định các vấn đề

của địa phương trên các lĩnh vực: xây dựng chính quyền, kinh tế, tài nguyên, môi trường, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hoá, thông tin, thể dục,

thể thao, y tế, lao động và thực hiện chính sách xã hội, công tác dân tộc, tôn giáo và quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

Đồng thời, HĐND cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ giám sát việc tuân theo

Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của HĐND cấp tỉnh; giám sát hoạt động của Thường trực HĐND cấp tỉnh, UBND cấp tỉnh, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Ban của HĐND cấp tỉnh; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của UBND cấp tỉnh và văn bản của HĐND cấp huyện; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, HĐND thành phố trực thuộc trung ương còn quyết định quy

hoạch, kế hoạch sử dụng đất của thành phố trực thuộc trung ương, bao gồm cả quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các quận, phường trực thuộc; quyết định quy hoạch về xây dựng và phát triển đô thị trong phạm vi được phân quyền; quyết định các biện pháp phát huy vai trò trung tâm kinh tế - xã hội của đô thị lớn trong mối liên hệ với các địa phương trong vùng, khu vực và cả nước theo quy định của pháp luật; quyết định các biện pháp quản lý dân cư ở thành phố và tổ chức đời sống dân cư đô thị; điều chỉnh dân cư theo quy hoạch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân.

- Về phương thức hoạt động của HĐND cấp tỉnh

Hoạt động của HĐND cấp tỉnh được thực hiện thông qua Thường trực

HĐND, các Ban HĐND, các đại biểu HĐND và kỳ họp HĐND. Trong đó, kỳ họp là phương thức hoạt động quan trọng nhất của HĐND cấp tỉnh. Theo đó,

HĐND cấp tỉnh họp thường lệ mỗi năm 02 kỳ. Trường hợp không thể triệu tập kỳ họp thường lệ thì Thường trực HĐND cấp tỉnh báo cáo báo cáo Uỷ ban 26 Xem Điều 19 và Điều 40 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

27 Xem thêm: Nghị quyết số 629/2019/UBTVQH14 ngày 30/01/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Hướng dẫn một số hoạt động của Hội đồng nhân dân.

51

thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định. Ngoài ra có thể tổ chức kỳ họp theo chuyên đề hoặc để giải quyết công việc phát sinh đột xuất.

Tại kỳ họp thường lệ, HĐND cấp tỉnh quyết định kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội của địa phương; quyết định dự toán và phân bổ ngân sách, phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; quyết định các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phương; điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương; quyết định những vấn đề khác thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình; nghe Thường trực HĐND báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri, thông báo kết quả thực hiện chương trình và kế hoạch giám sát; nghe UBND cấp tỉnh báo cáo kết quả giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri; nghe Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh thông báo công tác tham gia xây dựng chính quyền và những

ý kiến, kiến nghị; xem xét báo cáo hoạt động của Thường trực HĐND, Ban của HĐND, UBND và báo cáo công tác của Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; xem xét việc trả lời chất vấn. Khi cần thiết, HĐND cấp tỉnh xem xét báo cáo của cơ quan nhà nước hữu quan, ra nghị quyết về những vấn đề HĐND cấp tỉnh xem xét.

Kỳ họp của HĐND cấp tỉnh được tiến hành công khai. Trong trường hợp cần thiết, theo đề nghị của Thường trực HĐND, Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu HĐND cấp tỉnh yêu cầu thì sẽ họp kín.

b. Nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động của Thường trực HĐND

và các Ban của HĐND cấp tỉnh

- Thường trực HĐND cấp tỉnh

Thường trực HĐND do HĐND cấp tỉnh bầu ra, gồm Chủ tịch, Phó Chủ

tịch, các Ủy viên là Trưởng ban của HĐND cấp tỉnh. Nếu Chủ tịch HĐND cấp tỉnh là đại biểu chuyên trách thì có một Phó Chủ tịch; nếu Chủ tịch HĐND cấp tỉnh là đại biểu không chuyên trách thì có hai Phó Chủ tịch. Phó Chủ tịch HĐND cấp tỉnh là đại biểu hoạt động chuyên trách. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực HĐND cấp tỉnh được quy định trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) và các văn bản liên quan.

Thường trực HĐND cấp tỉnh làm việc theo nguyên tắc tập thể. Mỗi tháng,

52

Thường trực HĐND cấp tỉnh họp ít nhất một lần để kiểm điểm việc thực hiện các Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh và các quyết định của mình, đề ra nhiệm vụ công tác tháng sau. Thường trực HĐND cấp tỉnh có thể họp bất thường theo đề nghị của từng thành viên Thường trực HĐND cấp tỉnh.

- Các Ban của HĐND cấp tỉnh

Các Ban của HĐND cấp tỉnh là cơ quan được lập ra để giúp HĐND cấp

tỉnh hoạt động. Nhiệm vụ, quyền hạn của các Ban HĐND cấp tỉnh được quy định trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) và các văn bản liên quan8.

Ban của HĐND cấp tỉnh chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cấp tỉnh; trong thời gian HĐND cấp tỉnh không họp thì báo cáo công tác trước Thường trực HĐND cấp tỉnh.

Thường trực HĐND chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của các Ban của

HĐND cấp tỉnh. Các Trưởng ban được dự các phiên họp hàng tháng của Thường trực HĐND cấp tỉnh.

Phương thức hoạt động của Ban là phiên họp do Trưởng ban triệu tập. Tại

phiên họp, các thành viên thảo luận các dự án trình HĐND cấp tỉnh thông qua hoặc chuẩn bị các đề án trình HĐND cấp tỉnh, kiểm điểm việc thực hiện chương trình, bàn công tác của thời gian tới. Ngoài ra, Ban còn tổ chức các cuộc kiểm tra, giám sát ở cơ sở, phát hiện những vấn đề để kiến nghị với cơ sở hoặc trình HĐND cấp tỉnh quyết định.

2. Nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động của Uỷ ban nhân

dân cấp tỉnh

a. Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh

Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của UBND cấp tỉnh được thể hiện trong các lĩnh vực-9: kinh tế; nông nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi và đất đai; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; giao thông, vận tải; xây dựng, quản lý và phát triển đô thị; thương mại dịch vụ; giáo dục và đào tạo, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, y

28 Xem thêm Điều 109 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

Xem thêm Điều 21, Điều 42 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

53

tế và xã hội; khoa học, công nghệ, tài nguyên và môi trường; an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội; dân tộc và chính sách tôn giáo; thi hành pháp luật; xây dựng chính quyền... Ngoài ra, UBND cấp tỉnh còn thực hiện nhiệm vụ quyền hạn do cơ quan nhà nước ở trung ương phân cấp, uỷ quyền; đồng thời phân cấp, uỷ quyền cho UBND cấp dưới, cơ quan, tổ chức khác thực hiện nhiệm

vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định, UBND cấp tỉnh

ra các quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thực hiện những văn bản đó; đình chỉ

việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định sai trái của các ngành thuộc quyền quản lý và của UBND cấp huyện; đình chỉ việc thi hành những nghị quyết không thích đáng của HĐND cấp huyện, đồng thời đề nghị HĐND cấp tỉnh sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết đó.

b. Phương thức hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

UBND cấp tỉnh hoạt động thông qua các phiên họp Ủy ban; qua hoạt động

của chủ tịch UBND, Phó chủ tịch UBND, các thành viên của UBND và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh.

UBND cấp tỉnh họp thường kỳ mỗi tháng một lần; có thể họp đột xuất

trong các trường hợp: Do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định; theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ; theo yêu cầu của ít nhất một phần ba tổng số thành viên UBND cấp tỉnh.

3. Nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động của chính quyền thành phố trực thuộc trung ương nơi thí điểm tổ chức chính quyền đô thị

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức chính quyền địa phương

năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) và nhu cầu thực tiễn, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại Thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng; Nghị quyết về tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh.

54

Như vậy, ở Thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng là "thí điểm", còn ở Thành phố Hồ Chí Minh là thực hiện chính thức3.

Ngày 29/03/2021, Chính phủ ban hành các Nghị định quy định chi tiết và

biện pháp thi hành các Nghị quyết này31.

Căn cứ vào các quy định trên nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động

của chính quyền thành phố trực thuộc trung ương ở Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh có một số thay đổi như sau:

a. Đối với thành phố Hà Nội

Theo Nghị quyết số 97/2019/QH14 và Nghị định số 32/2021/NĐ-CP thì

mô hình chính quyền đô thị thành phố Hà Nội được quy định như sau: CQĐP ở thành phố Hà Nội, huyện, quận, thị xã, xã, thị trấn là cấp CQĐP gồm có HĐND

và UBND; CQĐP ở các phường thuộc quận, thị xã tại thành phố Hà Nội là UBND3. Như vậy, khác với thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng, ở thành phố Hà Nội chỉ CQĐP ở phường không có HĐND phường. Vì thế, nhiệm

vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động của CQĐP cấp thành phố cũng ít có sự thay đổi.

b. Đối với Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng

Theo Nghị quyết số 131/2020/QH14 và Nghị quyết số 119/2020/QH14, ở Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng, CQĐP quận và phường đều không tổ chức HĐND. Điều này làm cho nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động của CQĐP cấp thành phố ở hai địa phương này có nhiều sự thay đổi. Cụ thể:

30 Nghị quyết số 97/2019/QH14 ngày 27/11/2019 về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội; Nghị quyết số 119/2020/QH14 ngày 19/6/2020 về Thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị và một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng; Nghị quyết số 131/2020/QH14 ngày 16/11/2020 về Tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh.

31 Nghị định số 32/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số 97/2019/QH14 ngày 27/11/2019 của Quốc hội về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội; Nghị định số 33/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số 131/2020/QH14 ngày 16/11/2020 của Quốc hội về tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh và Nghị định số 34/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số 119/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội về thí điểm tổ chức

mô hình chính quyền đô thị và một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng.

2 Điều 1 Nghị quyết số 97/2019/QH14.

55

- Với HĐND Thành phố Hồ Chí Minh và HĐND thành phố Đà Nẵng: Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Luật Tổ chức CQĐP, quy định khác của pháp luật có liên quan và các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

+ Quyết định dự toán thu NSNN trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách

địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp mình, trong đó bao gồm dự toán ngân sách của quận; điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương;

+ Giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật và việc thực hiện nghị quyết của HĐND Thành phố trên địa bàn quận, phường thuộc quận; giám sát hoạt động của UBND quận, UBND phường thuộc quận, TAND quận, VKSND quận;

+ Lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch UBND quận. Thời hạn, thời điểm, trình tự lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch UBND quận được thực hiện theo quy định của Quốc hội;

+ Đại biểu HĐND Thành phố có quyền chất vấn Chủ tịch UBND quận, Chánh án TAND quận, Viện trưởng VKSND quận;

+ Bầu Hội thẩm TAND quận theo giới thiệu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc

Việt Nam Thành phố; miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm TAND quận theo đề nghị của Chánh án TAND Thành phố sau khi thống nhất với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.
Đối với thành phố Đà Nẵng, ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn trên còn bổ
sung 2 nhiệm vụ quyền hạn theo Nghị quyết số 119/2020/QH14 bao gồm: i) Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, trung hạn và hàng năm của thành phố, trong đó bao gồm kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn và hằng năm của quận và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm của phường; ii) Thông qua chủ trương thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính quận, phường.
- Với UBND Thành phố: Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Luật
Tổ chức Tổ chức chính quyền địa phương, quy định khác của pháp luật có liên quan và các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
56
4
0

+ Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân thành phố quyết định các nội dung

Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp mình, trong đó bao gồm dự toán ngân sách của chính quyền địa phương cấp dưới; điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, trung hạn và hàng năm của thành phố, trong đó bao gồm kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn và hằng năm của quận và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm của phường và tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố. Căn cứ vào nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố, quyết định giao và điều chỉnh nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho các quận, phường trực thuộc, quyết định chủ trương, biện pháp triển khai thực hiện ngân sách địa phương, bao gồm ngân sách quận, phường.

+ Quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án nhóm B, nhóm C sử

dụng vốn đầu tư công thuộc quận, phường quản lý theo quy định của Luật Đầu tư công.

+ Căn cứ vào quy định của Chính phủ và tình hình thực tiễn của công tác quản lý đô thị, quyết định thành lập, bãi bỏ cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận.

+ Quyết định và tổ chức thực hiện nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, biện

pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác trên địa bàn các quận trực thuộc.

4. Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quản trị địa phương

HĐND và UBND cấp tỉnh là hai thiết chế của CQĐP ở tỉnh/thành phố trực

thuộc trung ương, thống nhất về mục tiêu, thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản trị địa phương nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương. HĐND và UBND cấp tỉnh có chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND và UBND cấp tỉnh gắn kết chặt chẽ, không tách rời trong quá trình quản trị địa phương. Chất lượng

57

và hiệu quả hoạt động của HĐND cấp tỉnh có tác động trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của UBND cấp tỉnh và ngược lại, hoạt động của UBND cấp tỉnh phản ánh được năng lực, chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND cấp tỉnh trong quản trị địa phương.

Trong tổ chức quản trị địa phương, HĐND cấp tỉnh là chủ thể thiết lập nên

tổ chức bộ máy của CQĐP ở tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương, đồng thời bằng cơ chế giám sát, HĐND cấp tỉnh góp phần bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của CQĐP, trong đó có hiệu lực, hiệu quả hoạt động UBND cấp tỉnh. HĐND cấp tỉnh xác định tầm nhìn, định hướng cho sự phát triển của địa phương thông qua việc quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ngắn hạn, trung hạn, dài hạn của địa phương; thông qua quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực trên địa bàn tỉnh trong phạm vi thẩm quyền được giao. Thông

qua công cụ ngân sách, HĐND cấp tỉnh tác động đến các định hướng ưu tiên

phát triển của địa phương. HĐND cấp tỉnh thiết lập ra lộ trình, thiết lập nên những mục tiêu, tạo tiền để để UBND cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo đảm các mục tiêu phát triển gắn với thực tiễn của địa phương, gắn với mong đợi,

kỳ vọng của nhân dân, cử tri địa phương cũng như thống nhất với mục tiêu phát triển chung của đất nước.

UBND cấp tỉnh với tư cách là cơ quan chấp hành của HĐND cấp tỉnh, cơ

quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, HĐND cấp tỉnh và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên là chủ thể thực hiện các nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước, là chủ thể trực tiếp thực hiện các nội dung quản trị địa phương. Các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội của tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương, sau khi HĐND cấp tỉnh thông qua sẽ được UBND cấp tỉnh tổ chức triển khai thực hiện, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của địa phương.

Mối quan hệ giữa HĐND và UBND cấp tỉnh ở đây có thể hiểu là mối quan

hệ giữa chủ thể thẩm định, thông qua và chủ thể dự thảo và tổ chức thực hiện kế hoạch, quy hoạch phát triển. Hai chủ thể này tạo nên sự toàn vẹn trong quy hoạch, kế hoạch phát triển; tạo nên sự hoàn chỉnh trong chu trình thực hiện quy

58

hoạch, kế hoạch phát triển, giữa mục tiêu và kết quả đạt được, giữa mong muốn, khát vọng và thực tiễn phát triển. Chất lượng của quy hoạch, kế hoạch, nghị quyết mà HĐND cấp tỉnh thông qua là tiền đề để thực hiện có hiệu quả quy hoạch, kế hoạch, nghị quyết. Quá trình UBND cấp tỉnh thực hiện quy hoạch, kế hoạch, nghị quyết là quá trình để những mong đợi, mục tiêu được thực hiện. Ở

khía cạnh khác, quá trình này cũng là thước đo, là sự soi chiếu để tìm ra những điểm hợp lý và chưa hợp lý trong quy hoạch, kế hoạch, các nghị quyết đã được thông qua. Sự giám sát của HĐND cấp tỉnh đối với UBND cấp tỉnh trong quá trình này không chỉ giản đơn là quá trình để phát hiện ra những sai sót hay những vi phạm mà quan trọng hơn để có thêm căn cứ thực tiễn cho việc thông qua quy hoạch, kế hoạch, nghị quyết của HĐND cấp tỉnh.

Để quản trị địa phương hiệu quả, HĐND và UBND cấp tỉnh cần phải là hai

thiết chế thống nhất trong quản trị địa phương, thống nhất về ý chí, khát vọng, mục tiêu. Nếu như HĐND cấp tỉnh cần có trách nhiệm giải đáp câu hỏi nên đi theo hướng nào, đi đến đâu thì UBND cần phải có câu trả lời cụ thể cho việc đi đến hướng đích đó như thế nào, bằng cách nào. UBND cấp tỉnh báo cáo với HĐND cấp tỉnh về kết quả thực hiện, đồng thời HĐND cấp tỉnh cũng thường

xuyên theo dõi hoạt động thực tiễn để xác định kết quả thực hiện mục tiêu, mức độ đúng hướng và lộ trình thực hiện. Hai chủ thể này trong quản trị địa phương có thực hiện đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình thì quản trị địa phương mới thực sự đạt được mục tiêu, kết quả; ý chí của nhân dân địa phương được tập hợp, thể hiện được thể hiện bằng những kết quả cụ thể trong phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ lợi ích nhân dân ở địa phương nói riêng, cả nước nói chung.
III. Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
1. Vị trí, vai trò, phân loại đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
a. Vị trí của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Đại biểu HĐND cấp tỉnh là thành viên của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
phương, là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương. Trong hoạt động, đại biểu HĐND cấp tỉnh thay mặt nhân dân trong tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương thực hiện quyền lực nhà nước, quyết định
59
:

các vấn đề quan trọng để phát huy các tiềm năng của trong tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, biến ý chí quyền lực của nhân dân trên địa bàn trở thành quyền lực nhà nước, thể hiện bằng các quyết định của cơ quan nhà nước, thực hiện quyền giám sát việc tuân theo pháp luật của UBND cấp tỉnh và của các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân đóng tại địa phương. Về thực chất, đại biểu HĐND cấp tỉnh là người thực hiện quyền lực nhân dân theo phương thức thay mặt cử tri trong phạm vi địa bàn cấp tỉnh. Đại biểu HĐND cấp tỉnh được hình thành theo nguyên tắc bầu cử trực tiếp của cử tri.

Hiến pháp năm 2013 đã có những quy định mang tính nguyên tắc về vị trí

của đại biểu HĐND nói chung, trong đó có đại biểu HĐND cấp tỉnh nói riêng: "Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương; liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của HĐND, trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đại biểu HĐND có nhiệm vụ vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của HĐND, động viên Nhân dân tham gia quản lý nhà nước"з3.

Như vậy, Hiến pháp đã khẳng định vị trí của đại biểu HĐND cấp tỉnh thông qua các nội dung sau đây:

Một là, đại biểu HĐND cấp tỉnh là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng

của nhân dân ở cả hai cấp độ là ở đơn vị bầu cử ra mình và của nhân dân ở địa phương. Đại biểu HĐND cấp tỉnh có trách nhiệm trong việc giữ mối liên hệ, gắn

bó chặt chẽ với nhân dân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình.

Đồng thời, đại biểu HĐND cấp tỉnh còn có trách nhiệm trong mối quan hệ

với các cơ quan nhà nước khác ở địa phương. Đại biểu HĐND cấp tỉnh đóng vai trò tương tác, giám sát, thúc đẩy để các cơ quan nhà nước hoạt động tích cực,

hiệu quả hơn trong việc giải quyết những vấn đề hàng ngày, cũng như những vấn đề trung hạn, dài hạn đặt ra từ thực tiễn cuộc sống ở địa phương. Thông qua

33 Khoản 1, Điều 115, Hiến pháp năm 2013.

60

việc xử lý những vấn đề đó, sẽ góp phần hạn chế, ngăn ngừa những biểu hiện của sự xơ cứng, quan liêu, lạm quyền, trục lợi, cục bộ... có thể nảy sinh trong việc thực thi chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước ở địa phương.

Hai là, đại biểu HĐND cấp tỉnh bình đẳng trong thảo luận và quyết định

các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp tỉnh. Tất cả các đại biểu

HĐND cấp tỉnh đều được bầu cử từ các đơn vị bầu cử, căn cứ theo số dân, được bầu trực tiếp qua phổ thông đầu phiếu, thay mặt cho cử tri hoạt động trong HĐND. Điều này thể hiện sự bình đẳng của các đại biểu HĐND cấp tỉnh. Sự bình đẳng giữa các đại biểu HĐND cấp tỉnh cũng thể hiện sự bình đẳng giữa cử tri ở các đơn vị bầu cử trong phạm vi cả nước. Vị thế này bảo đảm cho từng đại biểu sự bình đẳng trong quan hệ với mọi đại biểu khác, dù đó là đại biểu thường hay đại biểu giữ vị trí lãnh đạo trong hệ thống chính trị ở CQĐP cấp tỉnh. Mỗi đại biểu đều nắm giữ một lá phiếu và vì thế, cần phải được ứng xử bình đẳng như nhau.

Về mặt pháp lý, mặc dù đại biểu HĐND cấp tỉnh có đại biểu hoạt động

chuyên trách, có đại biểu hoạt động không chuyên trách; có đại biểu giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, có đại biểu không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý...; song nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp tỉnh về bản chất không bị ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố này. Trên thực tế, các đại biểu HĐND cấp tỉnh hoạt động chuyên trách sẽ có thêm các nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với tính chất chuyên trách (như quy định về thời gian dành cho hoạt động thực hiện nhiệm vụ đại biểu; các nhiệm vụ, quyền hạn khác khi tham gia thành viên của các ban của HĐND cấp tỉnh). Tuy nhiên, quyền biểu quyết gắn với từng cá nhân đại biểu HĐND cấp tỉnh là thẩm quyền quan trọng nhất, là cơ sở để hình thành nên mọi

quyết định của HĐND cấp tỉnh. Quyền biểu quyết này được thực hiện theo nguyên tắc HĐND làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số... Đây cũng là điểm trung tâm để khẳng định rằng, đại biểu HĐND cấp tỉnh có vị thế bình đẳng trong hoạt động của HĐND cấp tỉnh.

b. Vai trò của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Thứ nhất, vai trò đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân địa

61

phương

Đây là điểm quan trọng nhất và là điểm cốt yếu khi nói đến vai trò của đại

biểu HĐND cấp tỉnh, hay nói cách khác, không thể nói đến đại biểu HĐND cấp tỉnh mà lại thiếu vắng vai trò đại diện. Vai trò đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân của đại biểu HĐND cấp tỉnh được xác lập ở hai khía cạnh: i) Đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình; ii) Đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở địa bàn cấp tỉnh. Vai trò đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân của đại biểu HĐND cấp tỉnh có ý nghĩa trước hết để mọi quyết định của HĐND cấp tỉnh thực sự xuất phát từ lợi ích của người dân, vì lợi ích chung của địa phương.

Thứ hai, đại biểu HĐND cấp tỉnh có vai trò là hạt nhân trong toàn bộ hoạt

động của HĐND cấp tỉnh. HĐND cấp tỉnh và các cơ quan của HĐND cấp tỉnh đều được cấu thành từ các đại biểu HĐND cấp tỉnh. Các đại biểu HĐND cấp tỉnh là những hạt nhân, thành tố cấu thành nên HĐND cấp tỉnh; hoạt động của đại biểu HĐND cấp tỉnh chính là sự tổng hòa của tổng thể các hoạt động của toàn bộ các thành viên; sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu hoạt động của đại biểu HĐND cấp tỉnh vượt ra ngoài ý nghĩa, mục đích là thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp tỉnh. Cũng như các chủ thể khác trong cơ quan công quyền, hoạt động của đại biểu HĐND cấp tỉnh nhìn chung đều được điều chỉnh bằng pháp luật, hoạt động trên nền tảng, khuôn khổ pháp lý nhất định, theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện, đầy đủ, cụ thể.

Chất lượng, kết quả hoạt động của HĐND cấp tỉnh phụ thuộc lớn vào chất

lượng, kết quả hoạt động của đại biểu HĐND cấp tỉnh. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, khi nói đến hoạt động của đại biểu HĐND cấp tỉnh thì không phải chỉ nói đến hoạt động của từng đại biểu với tư cách là từng cá nhân đơn lẻ mà phải được đặt trong một tổng thể chu trình làm việc, trong hoạt động của các đại biểu HĐND cấp tỉnh nói chung.

c. Phân loại đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Có nhiều tiêu chí để phân loại đại biểu HĐND cấp tỉnh. Chẳng hạn: căn cứ

vào địa bàn, có thể phân thành đại biểu HĐND cấp tỉnh (do cử tri ở tỉnh bầu ra)

62

và đại biểu HĐND thành phố trực thuộc Trung ương (do cử tri ở thành phố trực thuộc Trung ương bầu ra); căn cứ vào nơi làm việc, có thể phân thành đại biểu làm việc trong cơ quan của Đảng, đại biểu làm việc trong cơ quan nhà nước, đại biểu làm việc trong các tô chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế...; căn cứ vào vị trí việc làm, có thể phân thành đại biểu giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý và đại biểu không giữ chúc vụ lãnh đạo, quản lý...

Tuy nhiên, cách phân loại phổ biến hơn cả là căn cứ vào tính chất hoạt

động của đại biểu HĐND cấp tỉnh, đại biểu HĐND cấp tỉnh được phân thành đại biểu hoạt động chuyên trách và đại biểu hoạt động không chuyên trách.

- Đại biểu hoạt động chuyên trách

Đại biểu HĐND cấp tỉnh hoạt động chuyên trách là cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước thuộc đối tượng áp dụng của Luật Cán bộ, công chức, được trả lương, phụ cấp và các chế độ khác từ NSNN theo quy định của pháp luật4.

Hoạt động của đại biểu HĐND cấp tỉnh chuyên trách mang tính chuyên

môn cao, là thành tố then chốt trong hoạt động chung của HĐND cấp tỉnh, là nền tảng căn bản để HĐND cấp tỉnh có thể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, phúc đáp kịp thời những đòi hỏi của thực tiễn ở địa phương. Thực tế

đã chứng minh, đại biểu chuyên trách là một trong những yếu tố quan trọng để đảm bảo hiệu quả hoạt động của HĐND cấp tỉnh, nhất là trong xu hướng tăng cường phân quyền, phân cấp cho CQĐP, mở rộng phạm vi, thẩm quyền của HĐND cấp tỉnh trong ban hành các chính sách, biện pháp hỗ trợ, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Việc xác định số lượng đại biểu HĐND cấp tỉnh hoạt động chuyên trách ở

từng đơn vị hành chính được căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành. Cụ thể như sau: Số lượng đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách giữ chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND cấp tỉnh tối đa là 2 (hai) người; số lượng đại biểu HĐND cấp tỉnh hoạt động chuyên trách giữ chức vụ Trưởng ban, Phó Trưởng

34 Xem thêm: điểm a khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 1206/2016/NQ-UBTVQH quy định về chế độ, chính sách và các điều kiện bảo đảm hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân.

63

ban ở mỗi Ban của HĐND tối đa là 2 (hai) người, trừ Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng.

Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, số lượng đại biểu HĐND hoạt động

chuyên trách giữ chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND thành phố tối đa là 3 (ba) người; số lượng đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách giữ chức vụ Trưởng ban, Phó Trưởng ban và Ủy viên ở mỗi Ban của HĐND thành phố tối đa là 4 (bốn) người.

Đối với thành phố Đà Nẵng, số lượng đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách giữ chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND thành phố tối đa là 2 (hai) người; số lượng đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách giữ chức vụ Trưởng ban, Phó Trưởng ban ở mỗi Ban của HĐND thành phố tối đa là 3 (ba) người.

- Đại biểu hoạt động không chuyên trách

Đại biểu HĐND cấp tỉnh hoạt động không chuyên trách là người vừa làm

nhiệm vụ đại biểu của nhân dân vừa đảm nhiệm chức vụ khác trong các tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức tôn giáo... hoặc không đảm nhiệm chức vụ (ví dụ cán bộ hưu trí..). Theo quy định, đại biểu HĐND cấp tỉnh hoạt động không chuyên trách phải dành ít nhất một phần ba thời gian làm việc trong năm để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp tỉnh3 Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi đại biểu làm việc có trách nhiệm sắp xếp công việc, tạo điều kiện thời gian và các điều kiện cần thiết khác cho đại biểu HĐND cấp tỉnh làm nhiệm vụ đại biểu.

2. Nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp tỉnh được quy định trong các

Điều từ 91 đến 100 và Điều 103 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019); từ Điều 83 đến Điều 87 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 và các quy định pháp luật khác có liên quan.

a. Nhiệm vụ của đại biểu HĐND cấp tỉnh

35 Khoản 2 Điều 103 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

64

- Tham dự đầy đủ các kỳ họp, phiên họp của HĐND cấp tỉnh; tham gia thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp tỉnh. Đại biểu HĐND cấp tỉnh không tham dự kỳ họp, phiên họp thì phải có lý do và phải báo cáo trước với Chủ tịch HĐND cấp tỉnh. Trường hợp đại biểu HĐND cấp tỉnh không tham dự các kỳ họp liên tục trong 01 năm mà không có lý do thì

Thường trực HĐND cấp tỉnh phải báo cáo HĐND cấp tỉnh để bãi nhiệm đại biểu HĐND đó. Tại kỳ họp HĐND, đại biểu HĐND cấp tỉnh có nhiệm vụ chấp hành

nội quy kỳ họp, tham dự đầy đủ kỳ họp, phiên họp của HĐND, cuộc thảo luận ở Tổ đại biểu HĐND, cuộc họp Ban của HĐND mà đại biểu là thành viên; tham

gia các hoạt động khác của HĐND cấp tỉnh. Khi nhận được thông báo về thời gian, dự kiến chương trình và tài liệu kỳ họp, đại biểu HĐND cấp tỉnh phải nghiên cứu tài liệu, tiếp xúc cử tri, tham gia các hoạt động của Tổ đại biểu chuẩn bị cho kỳ họp HĐND cấp tỉnh. Trong kỳ họp, đại biểu HĐND cấp tỉnh có nhiệm

vụ tham gia thảo luận và quyết định chương trình kỳ họp; thảo luận tại phiên họp toàn thể và thảo luận ở Tổ đại biểu về các vấn đề thuộc nội dung, chương trình kỳ họp; biểu quyết thông qua những vấn đề thuộc nội dung, chương trình kỳ họp HĐND cấp tỉnh.

- Liên hệ chặt chẽ với cử tri nơi mình thực hiện nhiệm vụ đại biểu, chịu sự

giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri với HĐND cấp tỉnh và cơ quan nhà nước hữu quan ở địa phương. Mỗi năm một lần vào cuối năm, kết hợp với việc tiếp xúc cử tri, đại biểu HĐND cấp tỉnh báo cáo với cử tri ở đơn vị bầu ra mình về hoạt động trong năm, nhiệm vụ năm tới của mình và của HĐND cấp tỉnh. Sau mỗi kỳ họp HĐND, đại biểu HĐND cấp tỉnh có trách nhiệm báo cáo với cử tri về kết quả của

kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của HĐND, vận động và cùng với nhân dân thực hiện các nghị quyết đó.

- Trách nhiệm tiếp xúc cử tri, tiếp công dân: Trong thời gian giữa hai kỳ họp,

đại biểu HĐND cấp tỉnh có nhiệm vụ tiếp xúc cử tri ở đơn vị bầu cử của mình, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân với HĐND cấp tỉnh và các cơ quan

nhà nước khác, báo cáo kết quả kỳ họp với cử tri, tuyên truyền thực hiện tốt pháp

65

luật... Đại biểu HĐND cấp tỉnh có trách nhiệm tiếp công dân theo quy định của pháp luật°. Khi nhận được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân, đại biểu HĐND có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị biết; đôn đốc, theo dõi và giám sát việc giải quyết. Người có thẩm quyền giải quyết phải thông báo cho đại biểu HĐND cấp tỉnh về kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân trong thời hạn do pháp luật quy định. Trong trường hợp xét thấy việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đúng pháp luật, đại biểu HĐND có quyền gặp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu

xem xét lại; khi cần thiết, đại biểu HĐND yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó giải quyết.

b. Quyền hạn của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

- Có quyền tham gia thảo luận và quyết định các vấn đề quan trọng của địa

phương thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp tỉnh tại các kì họp, tại các cuộc họp tổ, đoàn hoặc các tổ chức khác của HĐND cấp tỉnh mà các đại biểu là thành viên. Đây là quyền hạn quan trọng nhất của đại biểu HĐND cấp tỉnh.

- Có quyền chất vấn Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND, Ủy viên

UBND, Chánh án TAND, Viện trưởng VKSND... cùng cấp

- Có quyền kiến nghị HĐND cấp tỉnh bỏ phiếu tín nhiệm đối với những

người giữ chức vụ do HĐND cấp tỉnh bầu; kiến nghị tổ chức phiên họp chuyên đề, phiên họp để giải quyết các công việc phát sinh đột xuất, phiên họp kín của HĐND cấp tỉnh và kiến nghị về những vấn đề khác mà đại biểu thấy cần thiết.

- Có quyền kiến nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân áp dụng biện pháp cần

thiết để thực hiện Hiến pháp, pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

- Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của

Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đại biểu HĐND cấp

36 Xem thêm: Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật Tiếp công dân năm 2013, Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2018.

66

tỉnh có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật.

- Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đại biểu HĐND cấp tỉnh có

quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó.

- Có quyền miễn trừ khi làm nhiệm vụ. Theo đó, không được bắt, giam,

giữ, khởi tố, khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu HĐND cấp tỉnh nếu không có sự đồng ý của HĐND cấp tỉnh hoặc trong thời gian HĐND cấp tỉnh không họp, không có sự đồng ý của Thường trực HĐND cấp tỉnh. Trường hợp đại biểu HĐND cấp tỉnh bị tạm giữ vì phạm tội quả tang thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để HĐND cấp tỉnh hoặc Thường trực HĐND cấp tỉnh xem xét, quyết định.

3. Những phẩm chất cơ bản của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

a. Phẩm chất chính trị

Phẩm chất chính trị là yếu tố quan trọng, quyết định đến chất lượng của người

đại biểu HĐND, là động lực tinh thần thúc đẩy người đại biểu HĐND vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được nhân dân giao phó.

Khoản 1 Điều 7 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) quy định một trong các tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân

là: Trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Căn cứ Quy định số 89-QĐ/TW ngày 04/8/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII quy định khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý, khung tiêu chuẩn về chính trị tư tưởng của đại biểu HĐND có thể được xác định là: Trung thành với lợi ích của Đảng, của quốc gia, dân tộc và nhân dân; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng về độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới của Đảng. Có lập trường, quan điểm, bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trong bất cứ tình huống nào, kiên quyết đấu tranh bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Có tinh thần yêu

67

nước nồng nàn, đặt lợi ích của Đảng, quốc gia - dân tộc, nhân dân, tập thể lên trên lợi ích cá nhân; sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp của Đảng, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Yên tâm công tác, chấp hành nghiêm sự phân của của tổ chức và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao

b. Phẩm chất đạo đức

Về phẩm chất đạo đức, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015

(sửa đổi, bổ sung năm 2019) quy định, đại biểu HĐND phải "Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác37

Với người đại biểu HĐND nói chung, đại biểu HĐND cấp tỉnh nói riêng,

phẩm chất đạo đức là nền tảng, là gốc, là sức mạnh làm nên tư cách, phẩm giá người đại biểu nhân dân. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: "Cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn; cây phải có gốc, không có gốc thì cây chết; người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, không có đạo đức thì có tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân"3.

Đại biểu HĐND cấp tỉnh là người gần dân, thường xuyên tiếp xúc với nhân

dân. Bởi vậy, phẩm chất đạo đức của họ sẽ có tác động rất lớn đối với người dân, có ảnh hưởng rất lớn đối với hiệu quả công tác của họ. Nếu đại biểu HĐND cấp tỉnh có đầy đủ các phẩm chất thì sẽ được nhân dân tin tưởng và gửi gắm những tâm tư, nguyện vọng. Ngược lại, nếu đại biểu HĐND cấp tỉnh không đủ các phẩm chất đạo đức thì họ sẽ bị mất niềm tin của nhân dân, mọi quyết định của họ chỉ là võ đoán, xa rời thực tế, không phù hợp với lợi ích của nhân dân.

Đại biểu HĐND cấp tỉnh phải là người gương mẫu đi đầu trong việc chấp

hành chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước, nói đi đôi với làm, là tấm gương sáng để nhân dân noi theo, phải tích cực đấu tranh

chống lại các tiêu cực xã hội như: tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tha hoá, sa sút về đạo đức lối sống, chạy theo địa vị, danh lợi, tranh giành, kèn cựa lẫn 37 Khoản 1 Điều 7 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

38 Hồ Chí Minh (2004), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 252.

68

nhau, mất đoàn kết nội bộ, dối trá, lười biếng, suy thoái, tự diễn biến về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng.

Đại biểu HĐND cấp tỉnh muốn được nhân dân tin yêu, thu phục được Nhân

dân thì phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức trong mọi lúc, mọi nơi.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố.

Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong"39. Phẩm chất đạo đức của đại biểu HĐND cấp tỉnh phải theo tinh thần: "Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo

,40

vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia

c. Năng lực thực hiện hoạt động của người đại biểu nhân dân

Ngoài phẩm chất chính trị và phẩm chất đạo đức, đại biểu HĐND cấp tỉnh phải có năng lực thực hiện nhiệm vụ người đại biểu nhân dân. Năng lực thực hiện nhiệm vụ người đại biểu nhân dân của đại biểu HĐND cấp tỉnh bao gồm kiến thức, trách nhiệm, kỹ năng thực hiện nhiệm vụ của người đại biểu. Theo đó, kiến thức của đại biểu HĐND cấp tỉnh thể hiện ở trình độ chuyên môn được đào tạo, sự am hiểu chủ chương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được thể hiện ở kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Trách nhiệm đại biểu thể hiện ở các điểm như: (i) Tinh thần, thái độ của đại

biểu đối với những vấn đề mà cử tri quan tâm và với các hoạt động của HĐND cấp tỉnh; (ii) Việc tham dự đầy đủ các kỳ họp, phiên họp HĐND cấp tỉnh; (iii) Chủ động, tích cực nghiên cứu, thảo luận và công tâm, khách quan khi biểu quyết những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND; (iv) Liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của HĐND cấp tỉnh...

Đại biểu HĐND cấp tỉnh có trách nhiệm tốt là người luôn trăn trở, băn

khoăn trước những tâm tư, nguyện vọng của cử tri, luôn tìm cách để giải quyết các yêu cầu chính đáng của nhân dân; trăn trở trước những vấn đề phát triển đi

39 Hồ Chí Minh (2004), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 293.

Khoản 1, Điều 8 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

69

lên của địa phương, cùng nhân dân tìm cách tháo gỡ những khó khăn, phát huy những tiềm năng sẵn có của địa phương để phát triển đi lên, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; tích cực tuyên truyền, vận động gia

đình, nhân dân thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Cùng với kiến thức và trách nhiệm, để hoàn thành nhiệm vụ, đại biểu

HĐND cấp tỉnh cần có kỹ năng hoạt động. Kỹ năng hoạt động của đại biểu HĐND cấp tỉnh là khả năng vận dụng khéo léo, thành thạo những kiến thức và kinh nghiệm vào thực hiện chức năng, nhiệm vụ của người đại biểu.

Kỹ năng hoạt động của đại biểu HĐND cấp tỉnh được biểu hiện cụ thể trên

các khía cạnh như: Kỹ năng xây dựng kế hoạch hoạt động của đại biểu HĐND,

kỹ năng tiếp xúc với cử tri, kỹ năng tiếp xúc với các phương tiện thông tin đại chúng, kỹ năng chất vấn, kỹ năng giám sát...

Để có kỹ năng hoạt động tốt, đại biểu HĐND cấp tỉnh phải luôn rèn luyện,

không ngừng tự học tập, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt, phải gắn lý luận với thực tiễn, sâu sát thực tế đời sống xã hội trong và ngoài địa phương.

4. Xung đột lợi ích và giải quyết xung đột lợi ích trong quá trình thực

hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

a. Xung đột lợi ích trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp tỉnh có điểm chung là sử dụng quyền lực nhà nước theo quy định pháp luật. Cả lý luận và thực tiễn đã chứng minh, việc sử dụng quyền lực nhà nước luôn có tính hai mặt, đó là: Không có quyền lực thì không thể thực hiện được chức trách, nhiệm vụ nguời đại biểu nhân dân; nhưng quyền lực cũng có xu hướng lộng quyền, lạm quyền, nói cách khác là tha hóa nhằm mục đích vụ lợi, tham nhũng, sách nhiễu,

tiêu cực... Do vậy, cần có những biện pháp kiểm soát hiệu quả để phòng ngừa, phát hiện, giám sát, theo dõi và xử lý có hiệu quả, tránh sự lạm dụng quyền lực, bảo đảm tính liêm chính, khách quan trong hoạt động của đại biểu HĐND cấp tỉnh.

70

Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 thì "Xung đột lợi ích là

tình huống mà trong đó lợi ích của người có chức vụ, quyền hạn hoặc người thân

thích của họ tác động hoặc sẽ tác động không đúng đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ"41.

Như vậy, có thể hiểu, xung đột lợi ích trong quá trình thực hiện nhiệm vụ,

quyền hạn của đại biểu HĐND cấp tỉnh là tình huống phát sinh khi việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của họ bị tác động tiêu cực hoặc sẽ bị tác động tiêu cực bởi lợi ích cá nhân của chính bản thân đại biểu HĐND cấp tỉnh.

Có thể nhận diện xung đột lợi ích trong quá trình thực hiện nhiệm vụ,

quyền hạn của đại biểu HĐND cấp tỉnh thông qua các đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, xung đột lợi ích trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn

của đại biểu HĐND cấp tỉnh là xung đột trong hoạt động công vụ. Hoạt động công vụ là quá trình thực thi quyền lực nhà nước trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp tỉnh. Quá trình này tác động trực tiếp và thường xuyên, liên tục đến quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng quản lý.

Thứ hai, lợi ích và sự thực hiện quyền lực được giao là hai yếu tố quyết

định đến việc xuất hiện xung đột lợi ích trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp tỉnh. Trong đó:

- Lợi ích (bao gồm lợi ích cá nhân và lợi ích công) là yếu tố cần để làm

xuất hiện xung đột lợi ích trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp tỉnh. Lợi ích cá nhân bao gồm cả vật chất (tiền, tài sản, quà tặng...) và lợi ích phi vật chất (những mối quan hệ tình cảm, sự hàm ơn...). Lợi ích công bị tác động đó là tính đúng đắn, khách quan của hoạt động công vụ mà đại biểu HĐND cấp tỉnh phải bảo vệ. Vấn đề đặt ra là lợi ích cá nhân có tác động như thế nào đến việc thực hiện nhiệm vụ công? Khi đại biểu HĐND cấp tỉnh không lựa chọn lợi ích cá nhân và đặt việc thực hiện nhiệm vụ, trách nhiệm

lên trên lợi ích cá nhân có được (hoặc có thể có được) thì khi đó tính đúng đắn của hoạt động công vụ được bảo vệ. Ngược lại trong trường hợp, nếu đại biểu 41 Khoản 8, Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

71

HĐND cấp tỉnh đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích công, để lợi ích cá nhân tác động tiêu cực dẫn đến việc thực hiện công vụ không đúng với chức trách, nhiệm vụ để thu lợi cá nhân thì khi đó, tính đúng đắn trong hoạt động công vụ đã bị xâm hại. Cần lưu ý rằng, nếu đại biểu HĐND cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn không đúng đắn mà không nhằm mục đích thu lợi ích riêng thì xung đột lợi ích không tồn tại mà do nhận thức, trình độ của họ.

Sự thực hiện quyền lực được giao là yếu tố đủ để làm xuất hiện xung đột

lợi ích trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp tỉnh. Đây chính là môi trường quyết định đến việc xung đột lợi ích trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp tỉnh có xuất hiện hay không. Xung đột lợi ích xuất hiện khi có mối quan hệ trực tiếp (hoặc có thể chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai) giữa việc đại biểu HĐND cấp tỉnh tham gia thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật (nhân danh quyền lực được giao) và việc họ có được lợi ích nào đó từ việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Thứ ba, có 2 loại xung đột lợi ích trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền

hạn của đại biểu HĐND cấp tỉnh, bao gồm xung đột thực tế và xung đột tiềm ẩn.

- Xung đột lợi ích thực tế: Là tình huống mà lợi ích cá nhân của đại biểu

HĐND cấp tỉnh có tác động trực tiếp (xung đột trực tiếp) với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao hoặc có căn cứ chắc chắn cho rằng, lợi ích cá nhân của đại biểu HĐND cấp tỉnh có thể ảnh hưởng không phù hợp đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, không phụ thuộc vào sự tác động, ảnh hưởng đó đã xảy ra trên thực thế hay chưa.

- Xung đột lợi ích tiềm ẩn: Là tình huống mà lợi ích cá nhân của đại biểu

HĐND cấp tỉnh có thể xung đột với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của họ trong tương lai. Đây là loại xung đột ở hiện tại chưa nảy sinh nhưng khi có điều

kiện sẽ nảy sinh trong tương lai và "điều kiện nảy sinh" này lại rất dễ xuất hiện trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp tỉnh.

b. Giải quyết xung đột lợi ích trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền

hạn của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

72

Xung đột lợi ích trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại

biểu HĐND cấp tỉnh nếu không được giải quyết một cách triệt để thì sẽ là nguy

cơ, là mối đe dọa, là nguồn gốc và là căn nguyên cơ bản nhất có thể dẫn đến những sự xung đột xã hội nghiêm trọng. Để giải quyết xung đột lợi ích trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp tỉnh, một số giải pháp được đưa ra là:

Một là, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực

chuyên môn và kỹ năng hoạt động cho đại biểu HĐND cấp tỉnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, nhằm giảm thiểu những xung đột lợi ích có thể phát sinh, làm tổn hại lợi ích của Nhà nước và Nhân dân. Đây được coi là giải pháp quan trọng có tính chất quyết định đến việc giải quyết xung đột lợi ích trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp tỉnh. Do vậy, đây cần được xem xét là giải pháp quan trọng, cơ bản cần phải thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả, làm cơ sở cho thực hiện các giải pháp tiếp theo.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện pháp luật liên quan đến hoạt động của đại biểu

HĐND, đồng thời tăng cường tính công khai, minh bạch, bảo đảm thực thi trách nhiệm giải trình trong quá trình thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp tỉnh.

Ba là, thiết lập cơ chế kiểm soát để ngăn chặn những tác động tiêu cực mà

xung đột lợi ích có thể gây ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp tỉnh. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, để đảm bảo hiệu quả kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động thực thi công vụ của đại biểu HĐND cấp tỉnh cần xây dựng một cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích có đủ ba yếu tố, đó là: (1) Giảm thiểu nguy cơ phát sinh tình huống xung đột lợi ích tiềm ẩn trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp tỉnh; (2) Kiểm soát và loại bỏ được các "vùng cấm" có thể tạo ra xung đột lợi ích trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp tỉnh (kiểm soát xung đột lợi ích thực tế); (3) Kịp thời phát hiện và xử lý xung đột lợi ích khi những tình huống này phát sinh.

73

Bốn là, phát huy vai trò của Nhà nước, nhân dân, xã hội và các cơ quan truyền thông trong kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ của đại biểu HĐND cấp tỉnh. Hiện tại, hệ thống giám sát hoạt động công vụ từ phía cơ quan nhà nước, xã hội, cơ quan truyền thông chủ yếu nhằm mục đích phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, đảm bảo thực hiện hoạt động công vụ nói chung và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp tỉnh nói riêng. Mục tiêu phòng ngừa vi phạm hay phát hiện tình huống xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ của đại biểu HĐND cấp tỉnh chưa được đề cao và chủ động thực hiện.

Năm là, có chế tài đủ mạnh, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh những

trường hợp đại biểu HĐND vi phạm pháp luật khi xử lý xung đột lợi ích, không có "vùng cấm", không có ngoại lệ.

74

CÂU HỎI THẢO LUẬN

1. Phân tích các nguyên tắc phân định thẩm quyền chính quyền địa phương; những giải pháp để các nguyên tắc này được thực hiện có hiệu lực, hiệu quả; trách nhiệm của đại biểu HĐND trong việc góp phần thực hiện các nguyên tắc này. Liên hệ thực tế ở tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương (nơi đại biểu HĐND công tác).

2. Phân tích mối quan hệ giữa HĐND cấp tỉnh và UBND cấp tỉnh trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương cấp tỉnh.

3. Phân tích nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động của Hội đồng

nhân dân cấp tỉnh. Những yếu tố tác động đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương (nơi đại biểu HĐND công tác).

4. Vị trí, vai trò, trách nhiệm của đại biểu HĐND cấp tỉnh trong việc nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND cấp tỉnh. Liên hệ thực tế bản thân đại biểu HĐND.

5. Kinh nghiệm của bản thân đại biểu HĐND trong việc giải quyết các

xung đột khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND.

75

TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO HỌC VIÊN

1. Hiến pháp Việt Nam năm 2013

2. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm

2019.

3. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015

4. Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

5. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

6. Nghị quyết số 629/2019/UBTVQH14 ngày 30/01/2019 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội hướng dẫn một số hoạt động của Hội đồng nhân dân.

7. Văn bản số 883/HD-UBTVQH14 ngày 02/6/2021 của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội Hướng dẫn một số nội dung về việc tổ chức kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021- 2026

8. Công văn số 3308/BNV-CQĐP ngày 08/7/2021 của Bộ Nội vụ Về việc

bầu người đứng đầu cơ quan chuyên môn giữ chức danh Ủy viên UBND cấp tỉnh, cấp huyện nhiệm kỳ 2021-2026.

9. Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh/thành phố trực thuộc

trung ương (nơi đại biểu HĐND công tác).

76

Chuyên đề 3

KỸ NĂNG CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH

TRONG THAM GIA XÂY DỰNG, BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT,

THẨM TRA BÁO CÁO, ĐỀ ÁN

I. Khái quát về nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

1. Khái niệm, phân loại nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Ban hành văn bản là một trong những hình thức hoạt động chủ yếu của các

cơ quan nhà nước để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, trong đó có các nghị quyết.

Theo các quy định hiện hành, nghị quyết (trong quản lý nhà nước) là một trong những hình thức văn bản củaQuốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, HĐND các cấp.£

Nghị quyết của HĐND được HĐND ban hành để thực hiện các chức năng,

nhiệm vụ của HĐND. Trong quá trình hoạt động, HĐND thảo luận và thông qua các loại nghị quyết sau:4

a. Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng,

an ninh 5 năm, hàng năm và 6 tháng. Đây là các loại nghị quyết được ban hành trong các kỳ họp định kỳ của HĐND cấc cấp. Riêng với nghị quyết 5 năm, HĐND sẽ ban hành ngay trong kỳ họp thứ nhất của nhiệm kỳ HĐND (trường hợp chưa chuẩn bị kịp thì có thể thông qua vào kỳ họp thứ hai).

b. Nghị quyết cụ thể hóa các chính sách của cấp trên (trong trường hợp cần

thiết phải ban hành những văn bản để giải thích, hướng dẫn cho phù hợp với đặc

điểm của địa phương nhưng không được trái với quy định của cấp trên). Những nghị quyết loại này không phải kỳ họp HĐND nào cũng ban hành mà chỉ ban

42 Chẳng hạn, theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2020), Hội đồng nhân dân cấp huyện ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật, nghị quyết của Quốc hội giao hoặc để thực hiện việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới theo quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương; Hội đồng nhân dân cấp xã ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật, nghị quyết của Quốc hội giao.

Xem thêm trong Ban Công tác đại biểu - Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Kiến thức và kỹ năng cơ bản dành cho đại biểu HĐND. Hà Nội, 2021, trang 90-93.

77

hành khi cần thiết. Thông thường, những nghị quyết loại này chỉ ban hành khi pháp luật quy định.

c. Nghị quyết ban hành các chính sách riêng của địa phương: HĐND có

thẩm quyền ban hành các chính sách của địa phương để đề ra các mục tiêu, giải pháp và huy động các nguồn lực để đầu tư, phát triển các ngành, lĩnh vực cũng như để thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp theo quy định của pháp luật. Những nghị quyết loại này thường gắn liền với sự chủ động về ngân sách địa phương nên chủ yếu do HĐND cấp tỉnh ban hành.

d. Nghị quyết về chương trình giám sát, thành lập đoàn giám sát của HĐND; chương trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật; kế hoạch tổ chức kỳ họp HĐND hàng năm,... của HĐND. Các loại nghị quyết này thường do Thường trực HĐND chuẩn bị và trình ra HĐND thông qua theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

đ. Nghị quyết cá biệt về nhân sự của HĐND. Các loại nghị quyết này thường được ban hành trong kỳ họp thứ nhất của nhiệm kỳ khi HĐND bầu và phê chuẩn các chức danh lãnh đạo theo quy định thuộc thẩm quyền của HĐND và có thể có

cả trong các kỳ họp khác khi có yêu cầu thay đổi bộ máy nhân sự CQĐP ở những
vị trí do HĐND bầu và quyết định theo quy định của pháp luật, chẳng hạn cần phải bầu bổ sung, thay thế các ủy viên UBND là trưởng các cơ quan chuyên môn
thuộc UBND khi có người về hưu hay được điều chuyển công tác khác.
Thông thường, các nghị quyết của HĐND được chia thành 2 nhóm lớn: Các
nghị quyết có quy phạm pháp luật (nghị quyết là văn bản quy phạm pháp luật) và các nghị quyết cá biệt. Để xác định nội dung nghị quyết cần được ban hành dưới hình thức nghị quyết có quy phạm pháp luật hay nghị quyết cá biệt, phải
căn cứ vào Điều 3 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và
44 Chẳng hạn, Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 (Điều 30) quy định: Hội đồng nhân dân quyết định dự toán thu, chi ngân sách địa phương và HĐND cấp tỉnh quyết định việc phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách ở địa phương. Dựa vào đó, HĐND cấp tỉnh đều ban hành Nghị quyết quy định về phân cấp ngân sách này.
78
÷

khoản 1 Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Theo đó, nghị quyết do HĐND ban hành không phải là văn bản quy phạm pháp luật trong các trường hợp sau:

- Nghị quyết miễn nhiệm, bãi nhiệm đại biểu HĐND và các chức vụ khác;

- Nghị quyết phê chuẩn kết quả bầu cử đại biểu HĐND và bầu các chức vụ

khác;

- Nghị quyết giải tán HĐND;

- Nghị quyết phê chuẩn cơ cấu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh,

cấp huyện;

- Nghị quyết thành lập, sáp nhập, giải thể cơ quan chuyên môn thuộc

UBND; quyết định thành lập các ban, ban chỉ đạo, hội đồng, ủy ban để thực hiện nhiệm vụ trong một thời gian xác định;

- Nghị quyết tổng biên chế ở địa phương;

- Nghị quyết dự toán, quyết toán ngân sách địa phương;

- Nghị quyết về chương trình, đề án, dự án, kế hoạch;

- Các nghị quyết, quyết định khác không có nội dung quy định tại các Điều

27, 28, 29 và 30 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

2. Thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong ban hành nghị quyết

Việc ban hành nghị quyết của HĐND phải phù hợp với nhiệm vụ, quyền

hạn của HĐND, không được phép ban hành các nghị quyết vượt ra ngoài nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Vì vậy, việc xác định thẩm quyền ban hành nghị quyết của HĐND phải dựa vào chức năng, nhiệm vụ của HĐND từng cấp. Theo quy

định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2019), nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp tỉnh rất rộng, bao quát đời sống chính trị, kinh tế, xã hội trên địa bàn cấp tỉnh.4

45 Xem thêm Điều 19, 41 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

79

Để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp tỉnh, HĐND cấp tỉnh ban hành các văn bản, trong đó chủ yếu là các nghị quyết và giám sát việc thực hiện các nghị quyết này. Điều 27 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), HĐND cấp tỉnh ban hành nghị quyết để quy định:

- Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật

của cơ quan nhà nước cấp trên;

- Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản

quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;

- Biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an

ninh ở địa phương;

- Biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế -

xã hội của địa phương.

Theo quy định hiện hành, UBND cấp tỉnh, các Ban của HĐND cấp tỉnh và

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp căn cứ văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, tự mình hoặc theo đề xuất của cơ quan, tổ chức, đại biểu HĐND, có trách nhiệm đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND để quy định chi tiết vấn đề được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp tỉnh.

3. Trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh gồm 2 loại là nghị quyết có quy phạm pháp

luật và nghị quyết cá biệt không chứa quy phạm pháp luật. Hai loại nghị quyết này có trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành khác nhau.

a. Đối với nghị quyết có quy phạm pháp luật

Trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành nghị quyết có quy phạm pháp luật của

HĐND cấp tỉnh phụ thuộc vào chủ thể trình dự thảo nghị quyết theo quy định của pháp luật. Cụ thể, tại các điều từ 111 đến 126 Luật Ban hành văn bản quy phạm 46 Xem Điều 111 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

80

pháp luật₩ quy định 3 giai đoạn chủ yếu (mỗi giai đoạn có thể gồm nhiều bước

khác nhau) để xây dựng và ban hành nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, cụ thể:

- Xây dựng, thông qua đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh;

- Soạn thảo dự thảo và thẩm định dự thảo nghị quyết (đối với dự thảo do

UBND cấp tỉnh trình);

- Thẩm tra, trình, xem xét, thông qua nghị quyết.

Ba giai đoạn này có nhiều bước thực hiện, trong đó phải đảm bảo có lấy ý

kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; Sở Tư pháp thẩm định và các

ban của HĐND thẩm tra. Ngoài ra, trong một số trường hợp quy định tại Điều 146

của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2020), nghị quyết của HĐND cấp tỉnh có thể được xây dựng, ban hành theo trình

tự, thủ tục rút gọn theo quy định tại Điều 149 Luật Ban hành văn bản quy phạm

pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Cơ quan được giao nhiệm vụ tham mưu trình dự thảo nghị quyết ra HĐND

cần xác định rõ nghị quyết trình HĐND cấp tỉnh thuộc trường hợp nào trong 04

trường hợp quy định tại Điều 27 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm

2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) để làm cơ sở tham mưu UBND cấp tỉnh trình

e

HĐND cấp tỉnh ban hành theo đúng trình tự, thủ tục, cụ thể:

(i) Đối với ban hành nghị quyết thuộc trường hợp tại khoản 1 Điều 27 Luật

Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020)

"trường hợp ban hành văn bản quy định chi tiết văn bản của cấp trên''.

Cơ quan chủ trì tham mưu thực hiện quy trình xây dựng nghị quyết của

HĐND cấp tỉnh theo các bước như sau:

- Bước 1: Tham mưu UBND cấp tỉnh trình Thường trực HĐND cấp tỉnh

thông qua đề nghị xây dựng nghị quyết.

Sau khi được Thường trực HĐND cấp tỉnh chấp thuận thông qua đề nghị

xây dựng nghị quyết, cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục thực hiện các bước tiếp

theo.

47 Xem thêm Điều 111, 116,117,119,121,122, 124 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015

(sửa đổi, bổ sung năm 2020).

81

- Bước 2: Tổ chức soạn thảo nghị quyết;

- Bước 3: Tổ chức lấy ý kiến về dự thảo nghị quyết;

- Bước 4: Hoàn chỉnh hồ sơ, gửi Sở Tư pháp thực hiện thẩm định;

- Bước 5: Trình UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định trình;

- Bước 6: Trình các Ban HĐND cấp tỉnh thực hiện thẩm tra;

- Bước 7: Hoàn chỉnh hồ sơ, trình HĐND cấp tỉnh thông qua .

(ii) Đối với ban hành nghị quyết thuộc trường hợp tại khoản 2, 3, 4 Điều 27

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2020) trường hợp ban hành văn bản để quy định chính sách, biện pháp quản lý phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.

- Bước 1: Tham mưu HĐND cấp tỉnh ban hành nghị quyết để quy định

chính sách, biện pháp quản lý phù hợp với tình hình thực tế của địa phương bao gồm các hoạt động sau:

+ Xây dựng nội dung đề nghị xây dựng nghị quyết: nội dung chính sách; đánh giá tác động chính sách;

+ Thực hiện lấy ý kiến về đề nghị xây dựng nghị quyết;

+ Hoàn chỉnh hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết, gửi Sở Tư pháp thẩm

định;

+ Trình UBND cấp tỉnh thông qua chính sách trong đề nghị xây dựng nghị

quyết;

+ Trình Thường trực HĐND cấp tỉnh thông qua đề nghị xây dựng nghị

quyết.

- Bước 2: Tổ chức soạn thảo nghị quyết

Sau khi được Thường trực HĐND cấp tỉnh chấp thuận thông qua đề nghị

xây dựng nghị quyết, cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục thực hiện việc xây dựng nghị quyết theo quy định, cụ thể:

+ Tổ chức soạn thảo nghị quyết;

+ Tổ chức lấy ý kiến về dự thảo nghị quyết;

+ Hoàn chỉnh hồ sơ, gửi Sở Tư pháp thực hiện thẩm định;

+ Trình UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định trình;

82

+ Trình các Ban HĐND cấp tỉnh thực hiện thẩm tra;

+ Hoàn chỉnh hồ sơ, trình HĐND cấp tỉnh thông qua .

(iii) Riêng đối với nghị quyết do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp

tỉnh, các Ban HĐND cấp tỉnh tham mưu trình HĐND cấp tỉnh thì quy trình ban hành không phải lấy ý kiến thẩm định của Sở Tư pháp. Trong quá trình tổ chức lấy ý kiến, có thể tiến hành gửi lấy ý kiến góp ý của Sở Tư pháp để hoàn thiện hơn về thể thức trình bày và nội dung.

b. Đối với nghị quyết cá biệt không chứa đựng quy phạm pháp luật

Hiện nay, đối với việc ban hành nghị quyết cá biệt, không chứa các quy

phạm pháp luật của HĐND, chưa có quy định pháp luật thống nhất, quy định cụ thể về trình tự, thủ tục ban hành.

Về nguyên tắc, việc ban hành nghị quyết cá biệt của HĐND các cấp phải

đảm bảo quy định tại khoản 4 Điều 6 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), trong đó quy định Ban của HĐND là cơ

quan của HĐND, có nhiệm vụ thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trước khi trình HĐND, giám sát, kiến nghị về những vấn đề thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND".

HĐND cấp tỉnh có thể triển khai ban hành nghị quyết cá biệt theo các bước

như sau:

- Các ban của HĐND, đại biểu HĐND, UBND hoặc các cơ quan khác đề

xuất việc ban hành nghị quyết theo thẩm quyền;

- Lấy ý kiến góp ý của các sở, ban, ngành, địa phương và người dân (nếu

cần thiết);

- Họp, thông qua tập thể UBND trước khi trình (nếu có);

- Lấy ý kiến thẩm tra của các Ban của HĐND cùng cấp;

- Hoàn chỉnh dự thảo, trình HĐND xem xét, thông qua.

II. Một số kỹ năng của đại biểu Hội đồng nhân dân trong tham gia xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

1. Tham gia xác định mục tiêu của dự thảo nghị quyết

83

Tham gia của đại biểu HĐND vào xây dựng, ban hành nghị quyết trước hết là tham gia vào quá trình sáng kiến nghị quyết, tham gia vào việc hình thành

chương trình xây dựng nghị quyết. Chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND nói chung và HĐND cấp tỉnh nói riêng có thể được thực hiện theo từng năm hoặc cho toàn khóa của HĐND.

Một trong những nhiệm vụ và chức năng quan trọng của nghị quyết của

HĐND, đặc biệt là các nghị quyết chứa quy phạm pháp luật, là giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐND trên địa bàn. Mỗi nghị quyết như vậy đều có một mục tiêu nhất định, hướng vào giải quyết một hay một số vấn đề bức xúc

trên địa bàn. Vì thế, vấn đề xã hội là nguồn gốc để hình thành nghị quyết.

Các nghị quyết của HĐND đều chứa đựng cách thức giải quyết những vấn

đề nhất định diễn ra trên địa bàn, vì vậy, lựa chọn chính xác vấn đề cần giải quyết để đưa vào nghị trình ban hành nghị quyết của Hội đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trộng và sự tham gia của đại biểu HĐND vào việc xác định các vấn đề để đưa vào chương trình ban hành nghị quyết là hết sức cần thiết.

Theo quy định, UBND cấp tỉnh, các Ban của HĐND cấp tỉnh và Ủy ban

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp căn cứ văn bản quy phạm pháp luật của cơ

quan nhà nước cấp trên, tự mình hoặc theo đề xuất của cơ quan, tổ chức, đại biểu HĐND, có trách nhiệm đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND để quy định chi tiết vấn đề được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp tỉnh.48

Như vậy, đại biểu HĐND cấp tỉnh là một trong những chủ thể sáng kiến

ban hành nghị quyết. Để có thể đưa ra sáng kiến nghị quyết hoặc đánh giá được các sáng kiến nghị quyết trong chương trình ban hành nghị quyết của Hội đồng,

các đại biểu HĐND phải tích cực tham gia vào việc xác định các vấn đề xã hội đang bức xúc trên địa bàn làm căn cứ để xác định mục tiêu cho từng nghị quyết.

Đại biểu HĐND cần phát huy vai trò và chức năng thiết lập nghị trình ban

hành nghị quyết. Việc thực hiện tốt điều này vừa thể hiện tính trách nhiệm và tính đáp ứng của đại biểu HĐND trước cử tri và nhân dân, vừa góp phần thúc

48 Xem Điều 111 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

84

đẩy tính đáp ứng và tính trách nhiệm của HĐND và bộ máy chính quyền nói chung.

Để có thể tham gia vào việc xác định những nội dung vấn đề cần thiết phải

ban hành nghị quyết của HĐND để giải quyết, các đại biểu HĐND phải có kỹ năng xác định vấn đề xã hội và biết cách lựa chọn vấn đề xã hội nào cần thiết để đưa vào chương trình ban hành nghị quyết để giải quyết.

Theo quy định tại Điều 113 Hiến pháp năm 2013, HĐND quyết định các

vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND. Chính vì vậy, việc

xác định các vấn đề quan trọng để đưa vào chương trình xây dựng nghị quyết

của HĐND là rất cần thiết. Việc xác định vấn đề nào là quan trọng ở mỗi địa phương tùy thuộc vào điều kiện và thực trạng của mỗi địa phương, thể hiện qua những bức xúc của xã hội, qua mong muốn, nguyện vọng của cử tri và qua phân tích các vấn đề kinh tế - xã hội của địa phương.

Một vấn đề xã hội có thể được nhận biết qua thực tiễn quản lý các mặt của

đời sống xã hội trên địa bàn; cũng có thể được phát hiện qua các phương tiện

thông tin đại chúng hay các nghiên cứu chính sách. Đại biểu HĐND nên chủ
động trong việc tìm hiểu, nghiên cứu các mặt của đời sống xã hội trên địa bàn, tích cực tiếp xúc cử tri để lắng nghe ý kiến của họ để thấy được những vấn đề bức xúc cần giải quyết. Có như vậy, nội dung của các nghị quyết của HĐND mới mang "hơi thở của cuộc sống hiện thực", đi vào giải quyết được các vấn đề cụ thể, bức xúc của người dân và xã hội trên địa bàn, qua đó mới tạo nên niềm tin của người dân đối với chính quyền nói chung và đại biểu HĐND nói riêng.
Trong xã hội hiện đại, thường xuất hiện nhiều vấn đề xã hội cùng lúc, vấn
đề xã hội này xuất hiện kế tiếp vấn đề xã hội khác. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân cả chủ quan và khách quan, không phải tất cả các vấn đề xã hội đều được giải quyết, tức là không phải vấn đề nào cũng có thể được HĐND dự kiến đưa vào nghị quyết. Chỉ những vấn đề xã hội mà HĐND thấy cần thiết, quan trọng và có thể thực hiện được mới nằm trong nghị trình ban hành nghị quyết.
85

Điểm cốt yếu ở bước này là làm thế nào để xác định đúng và "trúng vấn đề xã hội cần giải quyết bằng nghị quyết. Điều đó có nghĩa là các đại biểu HĐND phải xác định được chính xác các vấn đề của địa phương (tỉnh/thành phố

trực thuộc trung ương) cần phải giải quyết, tránh tình trạng có những vấn đề xã hội bức xúc nhưng lại chậm trễ trong việc đưa vào nghị trình ban hành, hoặc có những vấn đề xã hội chưa thật sự bức thiết nhưng được ưu tiên đưa vào nghị trình ban hành nghị quyết. Nội dung thảo luận cần tập trung vào những vấn đề "nóng", được nhiều người quan tâm hay trực tiếp liên quan tới đời sống của người dân trên địa bàn.

Thực tiễn cho thấy, một số vấn đề gắn liền với nhu cầu, yêu cầu bức thiết

của xã hội cũng như liên quan đến lợi ích và cuộc sống của người dân chậm được đưa vào nghị trình ban hành nghị quyết của HĐND. Do đó, để thực hiện

tốt vai trò tham gia thiết lập nghị trình ban hành nghị quyết, đại biểu HĐND cần: (i) tăng cường nắm bắt tình hình thực tế của địa phương; tăng cường tương tác và tiếp xúc với cử tri nhằm nắm bắt kịp thời và đầy đủ tâm tư, nguyện vọng cũng như những phản ánh của cử tri; (ii) đại biểu HĐND và Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND cấp tỉnh cần có cơ chế để tổng hợp, tiếp nhận và xử

lý thông tin do báo chí phản ánh; (iii) đại biểu HĐND cần chủ động hơn nữa trong hoạt động nêu sáng kiến ban hành nghị quyết; (iv) tăng cường tương tác và tiếp xúc với giới chuyên gia và đội ngũ trí thức để lắng nghe các ý kiến, kiến nghị của họ về các vấn đề xã hội bức xúc cần quan tâm giải quyết.
2. Tham gia phân tích nội dung trọng tâm của dự thảo nghị quyết
Trước khi nghị quyết của HĐND được thông qua trong phiên họp toàn thể, các đại biểu HĐND cấp tỉnh cần nghiên cứu kỹ dự thảo để xem xét xem nội dung của dự thảo nghị quyết có phù hợp và giải quyết được các vấn đề mà nghị quyết đề cập hay không. Để làm được điều này, đại biểu cần phân tích được các nội dung của nghị quyết. Đây có thể xem như một bước trong quy trình phân tích các chính sách chứa đựng trong nội dung của nghị quyết.
Đánh giá tác động của chính sách là việc phân tích, dự báo tác động của chính sách đang được xây dựng đối với các nhóm đối tượng khác nhau nhằm lựa chọn giải pháp tối ưu thực hiện chính sách.
86
÷

Theo quy định hiện hành, chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp HĐND, cơ quan trình dự thảo nghị quyết phải gửi đầy đủ hồ sơ dự thảo nghị quyết tới các ban của HĐND để thẩm tra. Hồ sơ trình lên các ban bao gồm: tờ trình HĐND về dự thảo nghị quyết; bản dự thảo nghị quyết; báo cáo thẩm định và báo cáo giải trình tiếp thu ý kiến của UBND đối với dự thảo (nếu dự thảo là của của cá nhân hay của các cơ quan ngoài UBND trình); bản giải trình, tiếp thu ý kiến của các tổ chức và cá nhân; báo cáo đánh giá tác động của chính sách đối

với các nghị quyết được quy định tại khoản 2 và 3 Điều 27 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) (các nghị quyết chứa chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và các nghị quyết chứa đựng các biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương).

Việc phân tích chính sách nên tập trung vào việc phân tích, đánh giá tác

động của chính sách tới đời sống kinh tế - xã hội của địa phương. Để làm điều đó, trước hết các đại biểu cần làm rõ: nghị quyết đề cập tới vấn đề trọng tâm nào? Vấn đề đó có tạo ra bức xúc của người dân hay không? Những giải pháp

mà nghị quyết đưa ra sẽ giải quyết được các nguyên nhân nào trong vấn đề chính sách? Giải quyết được đến mức độ nào? Tác động của các giải pháp này đối với xã hội, nhất là đối với nhóm đối tượng chính sách như thế nào?

Theo quy định của Nghị định 34/2016/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bằng

Nghị định 154/2020/NĐ-CP của Chính phủ) hướng dẫn thực hiện Luật Ban hành

văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), tác động của chính sách được đánh giá gồm:

- Tác động về kinh tế được đánh giá trên cơ sở phân tích chi phí và lợi ích

đối với một hoặc một số nội dung về sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, môi trường đầu tư và kinh doanh, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tổ chức

và cá nhân, cơ cấu phát triển kinh tế của quốc gia hoặc địa phương, chi tiêu công, đầu tư công và các vấn đề khác có liên quan đến kinh tế; 50 Xem Điều 6 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 154/2020/NĐ-CP).

87

- Tác động về xã hội của chính sách được đánh giá trên cơ sở phân tích, dự

báo tác động đối với một hoặc một số nội dung về dân số, việc làm, tài sản, sức

khỏe, môi trường, y tế, giáo dục, đi lại, giảm nghèo, giá trị văn hóa truyền thống, gắn kết cộng đồng, xã hội và các vấn đề khác có liên quan đến xã hội;

- Tác động về giới của chính sách (nếu có) được đánh giá trên cơ sở phân

tích, dự báo các tác động kinh tế, xã hội liên quan đến cơ hội, điều kiện, năng lực thực hiện và thụ hưởng các quyền, lợi ích của mỗi giới;

- Tác động của thủ tục hành chính (nếu có) được đánh giá trên cơ sở phân

tích, dự báo về sự cần thiết, tính hợp pháp, tính hợp lý và chi phí tuân thủ của thủ tục hành chính để thực hiện chính sách;

- Tác động đối với hệ thống pháp luật được đánh giá trên cơ sở phân tích,

dự báo khả năng về thi hành và tuân thủ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, tác động đối với tổ chức bộ máy nhà nước, khả năng thi hành và tuân thủ của Việt Nam đối với các điều ước quốc tế.

Việc phân tích kỹ những nội dung chủ yếu của nghị quyết và tác động của

những chính sách trong dự thảo nghị quyết lên đời sống xã hội cho phép người đại biểu:

- Xem xét, cân nhắc về các giải pháp đang có trong dự thảo dựa trên việc

phân tích chi phí - lợi ích; dựa trên các đánh giá tác động tích cực và tiêu cực để có thể dự báo được những ưu điểm và khiêm khuyết của các phương án này;

- Giúp nâng cao chất lượng của nghị quyết, tăng cường tính thực tế và qua

đó nâng cao tính khả thi cho nghị quyết khi được thông qua;

- Giúp đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ giữa các chính sách chứa đựng

trong các nghị quyết đã có hoặc sắp ban hành của HĐND;

- Giúp cho việc thực hiện chính sách dễ dàng hơn, đáp ứng tốt hơn các nhu

cầu của nhóm đối tượng của nghị quyết.

Để có thể có đóng góp tích cực vào phân tích nội dung của nghị quyết cần

nắm được đầy đủ các thông tin cần thiết để phân tích vấn đề, do đó cần nắm được kỹ năng thu thập và xử lý thông tin.

88

Những yêu cầu cơ bản đối với nguồn thông tin mà nhà quản lý cần để phục

vụ cho quá trình ra quyết định là: thông tin phải chính xác, đầy đủ, kịp thời và

phù hợp. Để có được thông tin chính xác, khách quan, đầy đủ và kịp thời, trong

quá trình xác định vấn đề cần lưu ý các điểm sau đây:

+ Để đảm bảo tính chính xác của thông tin, cần lựa chọn đúng nguồn thông

tin khách quan và đáng tin cậy;

+ Để có được thông tin kịp thời, cần thường xuyên và chủ động thu thập

các thông tin có liên quan tới hoạt độnng trên địa bàn một cách định kỳ;

+ Cần xây dựng một hệ thống xử lý thông tin tin cậy;

+ Biết lựa chọn đúng các thông tin cần thiết.

Những thông tin cần thu thập khi phân tích nội dung vấn đề trong nghị

quyết của HĐND có thể bao gồm:

- Thông tin chính trị - pháp lý: Là những thông tin có trong các văn bản,

quy định của Đảng và trong các văn bản quy định pháp luật của Nhà nước. Đây

là loại thông tin không thể thiếu trong mọi hoạt động của đại biểu HĐND, trong

đó có hoạt động phân tích nội dung dự thảo nghị quyết vì những thông tin này

giúp cho đại biểu HĐND đánh giá được mức độ tuân thủ pháp luật của các quy

2

định, giải pháp được nêu trong nghị quyết. Các thông tin thuộc nhóm này

thường được thu thập bằng phương pháp nghiên cứu thư viện (desk study).

- Thông tin thực tế: Là những thông tin từ thực tiễn đời sống kinh tế-xã hội

của địa phương; những kết quả thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp

luật của Nhà nước trên địa bàn. Những thông tin này có thể có được quan các

báo cáo của các đơn vị có liên quan, các cơ quan nằm dưới sự giám sát của

HĐND, qua việc tiếp xúc với công dân, với cử tri tại các cuộc tiếp xúc cử tri

theo kế hoạch hoặc các buổi gặp gỡ, trao đổi với người dân, cán bộ, công chức,

viên chức,... Thông tin nhóm này cũng có thể thu thập được thông qua các hoạt

động điều tra khảo sát bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu hay quan sát.

Chẳng hạn, nếu HĐND tỉnh dự kiến ban hành nghị quyết "Phát triển giáo

dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh năm 2021-2025 thì các thông tin cần thiết phải

tiến hành thu thập sẽ bao gồm:

89

- Thông tin chính trị - pháp lý: Chủ trương của Đảng về đổi mới toàn diện công tác giáo dục và đào tạo; nội dung liên quan tới giáo dục, đào tạo cấp tỉnh trong Luật Giáo dục; các nghị định của Chính phủ, thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các quy định đã có của HĐND tỉnh các khóa trước và của UBND tỉnh; các chính sách về giáo dục hiện đang thực hiện,...

- Thông tin thực tế: các thông tin trong các báo cáo của ngành giáo dục -

đào tạo của tỉnh; các báo cáo giám sát của Ban Văn hóa - Xã hội của HĐND cấp tỉnh và cấp huyện đã có; nội dung phản ánh qua các cuộc tiếp xúc với đội ngũ giáo viên, cử tri...

3. Tham gia nhận xét tính hợp pháp, hợp lý của dự thảo nghị quyết

Đại biểu HĐND cấp tỉnh trong công việc của mình thường phải tham gia vào đánh giá một số lượng lớn các dự thảo nghị quyết trước khi có thể tham gia vào tranh luận và biểu quyết thông qua các nghị quyết này. Có những nghị quyết mang tính đơn lẻ, cá biệt, không phức tạp nhưng cũng có những nghị quyết có nội dung rất phức tạp, bao trùm mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội của địa phương. Để làm tốt nhiệm vụ này, các đại biểu cần nắm được kỹ năng, cách thức đọc và hiểu về dự thảo nghị quyết (cả về mặt nội dung và hình thức) với mục đích là không

bỏ sót các yếu tố quan trọng, phát hiện được các điểm thiểu sót hay không chính
xác, không hợp lý trong các dự thảo để yêu cầu bổ sung, hoàn chỉnh và từ đó lựa chọn được các vấn đề trọng tâm, nổi bật để có ý kiến tham gia của mình khi ban hành nghị quyết.
Việc xem xét dự thảo nghị quyết trước hết phải tập trung vào xem xét tới quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết. Ở nội dung này, các đại biểu cần xem xét để đánh giá xem dự thảo nghị quyết đã được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục
đã được pháp luật quy định đối với từng loại dự thảo hay chưa. Những vấn đề cụ thể cần lưu ý là:
a. Nhận xét, đánh giá về quy trình, thủ tục
51 ○ Xem Ban Công tác đại biểu - Ủy ban thường vụ Quốc hội: Kiến thức và kỹ năng cơ bản dành cho đại biểu HĐND. Hà Nội, 2021, trang 185-186.
90

- Dự thảo nghị quyết do cơ quan nào đề xuất và tiến hành biên soạn? Các

bước lập hồ sơ để xây dựng dự thảo đã chính xác chưa?

- Xem xét hồ sơ do cơ quan soạn thảo trình đã đầy đủ chưa? Trường hợp

chưa đủ, đại biểu có thể yêu cầu cơ quan soạn thảo dự thảo nghị quyết bổ sung

thêm cho đầy đủ theo yêu cầu, nhất là những văn bản như ý kiến đóng góp của

các bên có liên quan tới dự thảo nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật;

- Các góp ý của các cơ quan, đơn vị có liên quan và báo cáo thẩm định.

b. Nhận xét, đánh giá về nội dung của dự thảo nghị quyết

Dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh sau khi được soạn thảo và lấy ý

kiến của các bên liên quan, cần phải được thẩm định qua các cơ quan chuyên

môn của UBND trước khi trình ra HĐND, ý kiến các cơ quan có liên quan xem

xét các nội dung của nghị quyết để đảm bảo tính hợp pháp cũng như hợp lý của

nghị quyết (Ví dụ: thẩm tra về tính khả thi về tài chính, thẩm tra tính khả thi về

nhân sự...).

Vì vậy, về cơ bản, các dự thảo nghị quyết khi chuyển tới các đại biểu đã

được khẳng định về mặt pháp lý. Tuy nhiên, với nhiệm vụ là chủ thể tham gia

ban hành nghị quyết, các đại biểu vẫn phải thực hiện việc đánh giá dự thảo về

e

nội dung. Việc đánh giá các nội dung của dự thảo chính sách cần tập trung vào

hai khía cạnh chủ yếu: tính hợp pháp và tính hợp lý của các giải pháp.

Các yêu cầu hợp pháp đặt ra đối với nội dung của nghị quyết của HĐND

bao gồm:

Thứ nhất, nội dung của nghị quyết phải phù hợp với chủ trương, đường lối

của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Nghị quyết của HĐND phải xuất phát từ chủ trương, đường lối của Đảng,

cụ thể hóa chủ trương, đường lối này cho phù hợp với những đặc điểm của địa

phương mình.

Do đặc tính của các hoạt động quản lý nhà nước là quản lý bằng pháp luật

và theo pháp luật nên bất kỳ một quyết định nào của cơ quan nhà nước hay của

các cá nhân được trao thẩm quyền, trong đó có nghị quyết của HĐND, cũng

không được trái với Hiến pháp, luật. Ngoài ra, do hệ thống các cơ quan nhà

91

nước là một hệ thống có thứ bậc chặt chẽ nên một quyết định quản lý nhà nước

sẽ chỉ hợp pháp khi nó không trái với các quy định của cơ quan nhà nước cấp trên.

Yêu cầu này đòi hỏi nghị quyết của HĐND phải phản ánh đúng các chủ

trương, đường lối của Đảng đồng thời đúng với quy định pháp luật hiện hành.

Để có thể đánh giá chính xác yêu cầu này của nghị quyết, các đại biểu

HĐND phải nắm vững chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về các vấn đề mà nghị quyết đề cập tới.

Thứ hai, các nội dung nêu ra trong nghị quyết phải thuộc phạm vi thẩm quyền của HĐND.

Trong hệ thống nhà nước, mỗi cơ quan, đơn vị đều có chức năng, nhiệm vụ

xác định và kèm theo đó là một thẩm quyền nhất định để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ đó. Thẩm quyền của HĐND được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật, trước hết là Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). Một nghị quyết chỉ được coi là hợp pháp khi nội dung của nghị quyết giải quyết những vấn đề trong phạm vi thẩm quyền của HĐND được quy định trong các văn bản này.

Thứ ba, nghị quyết phải được ban hành theo đúng trình tự và thủ tục theo quy định của pháp luật.

Việc ban hành nghị quyết của HĐND phải tuân thủ đúng các quy định về

trình tự, thủ tục ban hành. Chẳng hạn, nghị quyết của HĐND chỉ được ký ban hành sau khi được hội nghị toàn thể HĐND thông qua. Như vậy, những văn bản được ký trước khi thông qua, dù có đúng về nội dung cũng không thể được coi là hợp pháp.

Bên cạnh các yêu cầu về tính hợp pháp, một nghị quyết của HĐND chỉ được coi là hợp lý khi nó đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau đây:

- Nội dung của nghị quyết phải bảo đảm hài hoà lợi ích của Đảng, của Nhà nước và của đối tượng chịu tác động của nghị quyết

Vì các quyết định đều phản ánh ý chí, mong muốn của chủ thể ra quyết

định nên các quyết định quản lý nhà nước đã chứa đựng trong đó các lợi ích,

92

mong muốn của nhà nước. Nghị quyết của HĐND, với tư cách là quyết định của cơ quan quản lý nhà nước, cũng phản ánh nội dung này. Tuy nhiên, trong nghị quyết, cũng cần quan tâm tới việc bảo đảm lợi ích cho đối tượng chịu tác động của nghị quyết và bảo đảm hài hòa giữa lợi ích mà đối tượng chịu tác động của nghị quyết được hưởng so với những nhóm đối tượng khác trong xã hội. Khi những nhà quản lý nhà nước chỉ quan tâm tới lợi ích của Nhà nước mà bỏ qua

lợi ích của cá nhân những đối tượng chịu tác động của quyết định quản lý nhà nước thì sẽ không tạo nên được sự đồng thuận của những đối tượng này và quyết định sẽ rất khó có thể có hiệu lực trong thực tiễn.

- Nội dung của nghị quyết phải cụ thể, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của địa phương

Các địa phương đều có những điểm đặc thù riêng biệt của mình và cùng với một vấn đề như nhau nhưng ở các địa phương khác nhau, cần được giải quyết theo những cách khác nhau. Chính vì vậy, muốn cho nghị quyết khả thi, việc tìm hiểu để biết rõ về đia phương rất quan trọng.

Ngoài ra, nghị quyết sẽ được ban hành còn không được gây cản trở tới việc

thực hiện các quyết định khác có liên quan; các nguồn lực dự kiến để triển khai thực hiện nghị quyết phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương, bảo đảm được các nguồn lực; những giải pháp ban hành trong nghị quyết phải tính tới sự phù hợp với môi trường thực hiện nghị quyết (môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa - xã hội, truyền thống tốt đẹp của đối tượng,...)

- Nghị quyết phải bảo đảm các yêu cầu của kỹ thuật lập quy

Hình thức của một dự thảo nghị quyết không chỉ đơn thuần là hình thức trình bày dự thảo mà còn phải tập trung vào cách thức truyền tải nội dung của nghị quyết như cấu trúc văn bản, văn phong ngôn ngữ,... 2 Các yêu cầu về kỹ thuật lập quy bao gồm các yêu cầu về cấu trúc, thể thức và yêu cầu về văn phong, ngôn ngữ thể hiện trong nghị quyết.

52 ○ Xem Ban Công tác đại biểu - Ủy ban thường vụ Quốc hội: Kiến thức và kỹ năng cơ bản dành cho đại biểu HĐND. Hà Nội, 2021, trang 189-190.

93

Về cấu trúc của nghị quyết: Nghị quyết của HĐND phải có cấu trúc chặt chẽ và có sự kết nối logic giữa các phần của văn bản. Vì vậy, để hiểu tổng thể

nội dung của văn bản khi đánh giá, cần xem xét cấu trúc tổng thể của nó, không chỉ xem rời rạc từng đoạn văn bản. Về cơ bản, các mục nhỏ trong mục lớn phải

được xây dựng bao quát hết các nội dung của mục lớn.

Một vấn đề quan trọng khi xem xét cấu trúc của nghị quyết là mức độ phù

hợp, logic của nội dung so với tiêu đề. Không phù hợp giữa nội dung của mục với tiêu đề của mục là một lỗi khá phổ biến khi trình bày các văn bản.

Yêu cầu về thể thức của nghị quyết định hiện nay được quy định tại Nghị

định số 34/2016/NĐ-CP của Chính phủ (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 154/2020/NĐ-CP) (đối với nghị quyết chứa đựng quy phạm pháp luật) và Nghị định số 30/2020/NĐ-CP của Chính phủ (đối với nghị quyết cá biệt).

Về văn phong, ngôn ngữ được sử dụng trong nghị quyết cần đáp ứng các

yêu cầu của ngôn ngữ hành chính có những đặc tính riêng, phải bảo đảm rõ ràng, ngắn gọn, không đa nghĩa,... Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), ngôn ngữ sử dụng trong

văn bản quy phạm pháp luật phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu.∞

Trong hai nhóm yếu tố nêu trên, yếu tố hợp pháp giữ vị trí chủ đạo. Một

nghị quyết chỉ được xem xét tới tính hợp lý khi nghị quyết đó hợp pháp. Các yêu

cầu của tính hợp pháp quyết định khả năng tồn tại của nghị quyết, còn các yêu cầu của tính hợp lý xác định tính khả thi của nghị quyết.

4. Tham gia lựa chọn phương án tối ưu cho dự thảo nghị quyết

Các tiêu chí để lựa chọn một phương án giải pháp mà nghị quyết HĐND cấp tỉnh đưa ra (đối với các nghị quyết có quy phạm pháp luật) là những thước đo cụ thể cho các mục tiêu chính sách tức là những giá trị được sử dụng để đo lường các lựa chọn chính sách. Các tiêu chí này cũng thường được xem như những minh chứng hay những lý do hợp lý cho các hành động của nhà nước.

53 Xem Điều 8 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

54 Craft, Michael E./Furlong, Scott R., trang 3.

94

Việc xác định các tiêu chí này giúp cho việc lựa chọn phương án chính sách được khách quan. Những tiêu chí chủ yếu được sử dụng trong quá trình đánh giá các phương án chính sách bao gồm: tính chính trị, tính hiệu quả, tính công bằng, tính khả thi (về tài chính và quản lý, kỹ thuật). Bên cạnh đó còn có thể đưa ra một số tiêu chí khác như tính công bằng hay khả năng được xã hội chấp nhận.5

- Tiêu chí chính trị: Bản thân chính sách công với tư cách là công cụ để định hướng, dẫn dắt xã hội của nhà nước, giải quyết các vấn đề phát sinh trong xã hội phù hợp với mong muốn của nhà nước đã mang bản chất chính trị và phải phù hợp với chủ trương, đường lối của đảng cầm quyền. Chính vì vậy, các phương án chính sách phải phù hợp về chính trị tức là không mâu thuẫn với định hướng của Đảng. Như vậy, một trong những căn cứ quan trọng nhất để hoạch định phương án chính sách là định hướng đường lối của Đảng trong từng giai đoạn cụ thể.

- Tính khả thi: một giải pháp chính sách chỉ tốt khi nó có thể thực hiện

được (khả thi). Muốn đánh giá một giải pháp chính sách có khả thi hay không cần xem xét các yếu tố liên quan tới môi trường thực thi chính sách và xây dựng

các kịch bản một cách khoa học, phù hợp với các đặc điểm của môi trường đó.
- Đơn giản về mặt quản lý: một giải pháp chính sách chỉ mang lại hiệu quả
thực tế khi nó được mang ra áp dụng. Kết quả của việc áp dụng một phương án chính sách không chỉ phụ thuộc vào tính đúng đắn về mục tiêu của giải pháp và phương tiện (tài chính, con người,...) để thực hiện giải pháp mà còn phụ thuộc vào khả năng quản lý việc thực thi giải pháp đó. Một phương án tốt nhưng thực thi không tốt sẽ không mang lại được hiệu quả mong muốn. Vì vậy, khi lựa chọn phương án chính sách cần lưu ý xác định mức độ phù hợp với khả năng quản lý của các chủ thể thực hiện nghị quyết.
- Hiệu quả: tính hiệu quả của một phương án được xem xét trong mối
tương quan giữa kết quả đạt được so với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Tiêu chí này đòi hỏi, khi hai phương án chính sách cùng có thể đạt mục tiêu như
55 Craft, Michael E./Furlong, Scott R., trang 5.
95

nhau thì cần phân tích để lựa chọn ra được phương án dễ dàng thực hiện và chi phí thực hiện thấp hơn.

- Công bằng: Một trong những chức năng chủ yếu của nhà nước là đảm bảo

sự công bằng tương đối trong xã hội. Chỉ khi nào mức độ công bằng xã hội được đảm bảo thì xã hội mới có thể phát triển ổn định. Các giải pháp chính sách nếu không giúp cho việc giảm nhẹ, tiến tới loại trừ bất bình đẳng trong xã hội thì ít nhất cũng không được làm gia tăng khoảng cách bất bình đẳng đó.

- Hợp pháp: các giải pháp chính sách bên cạnh việc không được đi ngược

lại chủ trương, định hướng của đảng cầm quyền trong mỗi giai đoạn còn không được trái với các quy định pháp luật hiện hành, nhất là không được mâu thuẫn với Hiến pháp vì bản thân hoạt động của nhà nước không được vượt ra ngoài khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Để đảm bảo các giải pháp đưa ra trong dự thảo nghị quyết đáp ứng tốt nhất

các đòi hỏi nêu trên, phản ánh đúng nguyện vọng của người dân cũng như của cơ quan đề xuất dự thảo, cần tạo điều kiện để các đại biểu HĐND tham gia vào quá trình lựa chọn, đánh giá chính sách trong các giải pháp này.

Cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết có trách nhiệm lấy ý kiến đối tượng

chịu sự tác động trực tiếp của chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết và

các cơ quan, tổ chức có liên quan; nêu những vấn đề cần xin ý kiến phù hợp với từng đối tượng lấy ý kiến và xác định cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến; đăng tải toàn văn hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết trên cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong thời hạn ít nhất là 30 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

Ngoài việc đăng tải để lấy ý kiến theo quy định tại khoản này, việc lấy ý

kiến có thể bằng hình thức lấy ý kiến trực tiếp, gửi dự thảo đề nghị góp ý kiến, tổ chức hội thảo hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

Khi lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo nghị quyết

thì cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy ý kiến và bảo đảm ít nhất là 10 ngày kể từ ngày tổ chức lấy ý kiến để các đối tượng được

96

lấy ý kiến góp ý kiến vào dự thảo nghị quyết. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết tổ chức đối thoại trực tiếp về chính sách với các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo nghị quyết.

Theo quy định tại Điều 124 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh phải được Ban của HĐND cùng cấp thẩm tra trước khi trình HĐND.

Chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp HĐND, cơ quan trình

dự thảo nghị quyết phải gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết đến Ban của HĐND được phân công thẩm tra để thẩm tra. Hồ sơ gửi thẩm tra bao gồm:

- Tờ trình HĐND về dự thảo nghị quyết;

- Dự thảo nghị quyết;

- Báo cáo thẩm định và báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định đối với

dự thảo nghị quyết do UBND trình; ý kiến của UBND và báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của UBND đối với dự thảo do Ban của HĐND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trình;

- Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá

nhân; bản chụp ý kiến góp ý;

- Tài liệu khác (nếu có).

5. Tham gia quyết nghị thông qua nghị quyết

Thông qua nghị quyết là giai đoạn cuối cùng của quy trình ban hành nghị quyết của HĐND nhưng cũng là một giai đoạn quan trọng, quyết định việc nghị quyết có được ban hành hay không. Sự tham gia của các đại biểu HĐND cấp tỉnh ở giai đoạn này rất quan trọng, không chỉ khẳng định nhận thức của đại biểu mà còn thể hiện bản lĩnh của người đại biểu.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của

CQĐP, HĐND các cấp làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số và tại Điều 6 quy định về đại biểu HĐND cũng xác định đại biểu HĐND bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của

HĐND. Như vậy, việc thông qua nghị quyết của HĐND phải được thực hiện

97

trên cuộc họp Hội đồng, với sự tham gia của các đại biểu. Trong cuộc họp này,

lá phiếu của các đại biểu Hội đồng sẽ quyết định tới việc nghị quyết của Hội đồng có thể được thông qua hay không.

Để tham gia vào quá trình lựa chọn phương án cho dự thảo nghị quyết, đại

biểu HĐND phải nắm được các kỹ năng tư duy, phân tích dự thảo và kỹ năng thảo luận tại nghị trường.

Để việc thảo luận của các đại biểu HĐND đạt hiệu quả cao, các đại biểu

cần quan tâm để nắm vững mục tiêu, nội dung vấn đề cần đưa ra thảo luận. Mục tiêu đặt ra khi thảo luận là xem xét vấn đề thảo luận ở nhiều khía cạnh khác nhau, đưa ra những ý kiến, những luận điểm khác nhau để cùng phân tích, đánh giá những vấn đề và cách thức giải quyết vấn đề đối với những vấn đề dự kiến đưa vào nghị quyết.

Để các nghị quyết của HĐND thực sự phản ánh ý chí, nguyện vọng của

người dân, đại biểu HĐND trước khi quyết định ủng hộ nghị quyết hay không phải cân nhắc kỹ những tác động của nghị quyết tới người dân trên địa bàn.

III. Kỹ năng thẩm tra báo cáo, đề án

1. Kỹ năng thẩm tra báo cáo

Theo quy định tại Điều 6 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Ban của HĐND là cơ quan của HĐND, có nhiệm vụ thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trước khi trình HĐND, giám sát, kiến nghị về những vấn đề thuộc lĩnh vực mà Ban phụ trách; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND. Chính vì vậy, việc thẩm tra báo cáo, đề án thường là nhiệm vụ trực tiếp của các đại biểu HĐND làm việc trong các ban của HĐND.

Các ban của HĐND thẩm tra các báo cáo theo sự phân công của HĐND, Thường trực HĐND. Các báo cáo mà các ban của HĐND được phân công thẩm tra thường về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, giao thông, xây dựng, tài nguyên và môi trường, khoa học công nghệ, giáo dục, y tế, văn hóa, dân tộc, xây dựng CQĐP,.

Nội dung thẩm tra báo cáo của Ban phải tập trung vào các vấn đề:

98

(i) Về hồ sơ: phải đầy đủ theo đúng quy định với từng loại báo cáo chẳng

hạn như tờ trình dự thảo, bản dự thảo báo cáo, các ý kiến tổng hợp, giải trình những góp ý về dự thảo báo cáo, ý kiến thẩm định của cơ quan tư pháp, ...

(ii) Về thẩm tra nội dung báo cáo tập trung vào: Xem xét kỹ các nội dung

của báo cáo và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; xem xét sự phù hợp của nội dung báo cáo với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước,

với các nghị quyết có liên quan của HĐND; xem xét sự phù hợp của nội dung

báo cáo với tình hình, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; xem xét tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của báo cáo với hệ thống pháp luật.

Quy trình thực hiện hoạt động thẩm tra báo cáo của các ban của HĐND,

trong đó thể hiện sự tham gia của các đại biểu HĐND làm việc trong các ban này bao gồm:

- Xây dựng kế hoạch tổ chức thẩm tra và phân công thành viên trong Ban

nghiên cứu dự thảo báo cáo;

- Tiến hành giám sát, khảo sát hoặc tổ chức hội nghị chuyên đề để lấy ý

kiến tham gia của cử tri và đối tượng chịu tác động trực tiếp, nắm tình hình địa phương, đơn vị về những nội dung cần thẩm tra trong báo cáo;

- Tổng hợp, phân tích, đánh giá các thông tin thu được và so sánh với nội

dung của báo cáo.

- Viết báo cáo thẩm định.

Sau thẩm tra, các Ban HĐND cấp tỉnh cần tiến hành viết báo cáo thẩm định, trong đó tổng hợp những vấn đề còn có sự khác nhau giữa báo cáo được trình với tình hình thực tiễn hay những ý kiến đồng tình hay chưa đồng tình của ban chịu trách nhiệm thẩm định với nội dung của báo cáo và chuyển tới Thường trực HĐND cấp tỉnh xem xét trước khi trình ra kỳ họp của HĐND. Báo cáo thẩm tra là cơ sở giúp đại biểu HĐND có thêm thông tin, thấy được những vấn đề cần tập trung để thảo luận tại kỳ họp của HĐND và là căn cứ để đại biểu xem xét quyết định những vấn đề đang được trình ra HĐND, do đó, cần gợi mở những vấn đề cần thảo luận, làm rõ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau để

99

cung cấp thông tin cho đại biểu HĐND xem xét, thảo luận và quan điểm của Ban HĐND là cơ sở để HĐND quyết nghị. Trong nội dung của báo cáo thẩm tra

phải thể hiện rõ quan điểm của cơ quan thẩm tra về những vấn đề thuộc nội dung thẩm tra và đề xuất những nội dung cần sửa đổi, bổ sung, phương án xử lý của cơ quan chủ trì thẩm tra đối với những vấn đề còn có ý kiến khác nhau.

Xét về bản chất, thẩm tra báo cáo của đại biểu HĐND trong các ban của

HĐND là việc đại biểu HĐND đọc, nghiên cứu tài liệu và so sánh, đối chiếu nội dung của báo cáo với các quy định pháp lý cũng như với thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội để xác định những nội dung đúng và chưa đúng, phù hợp hay chưa phù hợp của báo cáo hay những thiếu sót, bất cập trong hoạt động của cơ quan trình báo cáo. Chính vì vậy, để có thể thực hiện tốt chức năng này, đại biểu HĐND cần nắm được các quy định pháp luật có liên quan tới nội dung báo cáo và các thông tin thực tiễn về vấn đề mà báo cáo đề cập, do đó cần có kỹ năng thu thập và xử lý thông tin. Bên cạnh đó, đại biểu HĐND nên nắm được các kỹ năng sau:

a. Kỹ năng đọc báo cáo

Khi đại biểu nhận được báo cáo do các cơ quan hay cá nhân trình báo cáo

chuyển đến, trước hết đại biểu cần đọc nhanh qua toàn bộ nội dung của báo cáo để xác định phạm vi vấn đề mà báo cáo đề cập; nắm được cấu trúc của báo cáo đó và những nội dung chủ yếu mà báo cáo đề cập tới; nhận biết độ dài của báo cáo cũng như tính logic của kết cấu báo cáo.

Sau khi đã đọc sơ bộ, bắt đầu tiến hành đọc kỹ báo cáo, tập trung vào những nội dung mà đại biểu cho rằng quan trọng trong báo cáo đó. Trong quá trình đọc, cần lưu ý đối chiếu, so sánh những thông số được đưa ra trong báo cáo với những thông tin mà đại biểu tự tìm hiểu và nắm được xem có sự sai lệch không. Nếu nhận thấy có sự sai lệch thì cần đánh dấu lại để yêu cầu bên trình báo cáo giải trình làm rõ. Những điểm cần lưu ý thì nên đánh dấu lại bằng bút đánh dấu. Trong quá trình đọc, chú ý phải đặt các câu hỏi để ghi nhớ và tập trung vào các nội dung chủ yếu.

b. Kỹ năng phân tích báo cáo

- Phân tích báo cáo về hình thức

100

Việc xem xét báo cáo về hình thức trước hết cần quan tâm tới thể thức của

báo cáo. Tùy theo loại văn bản mà hình thức thể hiện có sự khác nhau. Quy định về thể thức văn bản quy phạm pháp luật hiện nay được quy định tại Nghị định

34/2016/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thực hiện một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định 154/2020/NĐ-CP) và văn bản hành chính được quy định tại Nghị định 30/2020/NĐ-CP về công tác văn thư.

Bên cạnh đó, việc thẩm tra, xem xét báo cáo còn phải chú ý tới cấu trúc của văn bản và văn phong được sử dụng trong báo cáo.

- Phân tích báo cáo về nội dung

Mỗi báo cáo gửi tới đại biểu HĐND đều phản ánh những nội dung nhất định thuộc thẩm quyền xem xét của HĐND. Các nội dung được tác giả trình bày trong báo cáo phải chính xác với thực tế và tuân thủ các quy định của pháp luật cũng như phải đúng với các kết quả đạt được. Những kiến nghị, đề xuất, giải pháp phải phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phù hợp với các nguồn lực hiện có và có tính khả thi cao.

Đại biểu cần xem xét tính nhất quán, thống nhất giữa các phần của văn bản

trong báo cáo; so sánh với các tài liệu cùng loại về thời gian, không gian,... qua đó phát hiện những lỗi thiếu logic, mâu thuẫn trong lập luận của báo cáo.

Trong quá trình thẩm tra báo cáo, đại biểu cần chú ý so sánh những thông

tin được sử dụng trong báo cáo với những thông tin mà đại biểu trực tiếp thu thập được để xem báo cáo có phản ánh đúng thực tiễn hay không, phát hiện những nội dung cần bổ sung hay phải sửa chữa, thông tin được đưa ra không chính xác trong báo cáo.

2. Kỹ năng thẩm tra đề án

Đề án là một văn bản được trình bày một cách có hệ thống các giải pháp để

giải quyết một nhiệm vụ nhất định do một cá nhân hay tổ chức đệ trình lên cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, ban hành. Một đề án phải nêu được tầm quan

56 Xem thêm: Ban Công tác đại biểu - Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Kiến thức và kỹ năng cơ bản dành cho đại biểu HĐND, Hà Nội, 2021, trang 176-177.

101

trọng của nhiệm vụ phải giải quyết, chỉ ra các căn cứ để xây dựng đề án cũng như xác định rõ mục tiêu, giải pháp, cách thức tổ chức thực hiện các giải pháp.

HĐND cấp tỉnh là cơ quan quyết định các vấn đề quan trọng của địa

phương và thực hiện quyền giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước trên địa bàn địa phương, do đó thẩm tra đề án là một nhiệm vụ thường xuyên của HĐND. Việc thẩm tra các đề án, giống như thẩm tra các báo cáo, là nhiệm vụ của các ban của HĐND.

Trong quá trình xem xét đề án, đại biểu cần tập trung vào đánh giá về kết

cấu và nội dung của đề án, xem xét tới tính khả thi của đề án thông qua những thông tin về dự kiến phân công nhiệm vụ triển khai, dự báo nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án cũng như thuận lợi và khó khăn mà tác giả đề án đưa ra. Nhìn chung, việc xem xét một đề án tập trung vào các vấn đề trong bảng sau:57

Xem xét kết cấu đề án
Xem xét nội dung từng phần
Sự cần thiết phải ban hành đề án
Các câu hỏi phải trả lời trong phần này là: Đề án giải quyết vấn đề gì trong xã hội? Có thực sự cần thiết không? Đã có đề án nào liên quan tới vấn đề
Sự cần thiết phải ban hành đề án
này chưa? Nếu đã có thì vào thời điểm nào và sự khác biệt giữa đề án này với đề án đã có là gì?...
Cơ sở của đề án
Đề án cần chỉ ra được cơ sở khoa học/lý luận và cơ
Nhận định rõ các yếu tố tác động
Nội dung của đề án phải thể hiện rõ những yếu tố chủ quan và khách quan có thể tác động tới việc thực hiện đề án.

sở thực tiễn, đặc biệt là phải làm rõ nhu cầu thực

tiễn cần phải có đề án tại địa phương. Trong đề án

phải đưa ra được các đánh giá về thực trạng vấn đề

mà đề án muốn giải quyết, làm rõ được các kết quả

cũng như các hạn chế, yếu kém và nguyên nhân dẫn

tới thực trạng này.

57 Xem Ban Công tác đại biểu - Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Kiến thức và kỹ năng cơ bản dành cho đại biểu HĐND, Hà Nội, 2021, trang 182.

102

Đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ
Mục tiêu và nhiệm vụ nêu ra trong đề án phải phù hợp với các quy định của pháp luật, phù hợp với các nguồn lực và điều kiện thực tế của địa phương; không có sự trùng lặp với mục tiêu của các đề án khác đã được thông qua.
Các giải pháp thực hiện đề án
Cần chú ý tới tính logic của các giải pháp: giải pháp đưa ra phải khắc phục được những hạn chế, yếu kém đã được trình bày trong phần trước của đề án, giải quyết được nguyên nhân dẫn tới những hạn chế, yếu kém này. Chú ý tới sự trùng lặp giữa giải pháp mà đề án nêu ra với các giải pháp có trong các đề án khác; đồng thời cần chú trọng tính khả thi của các giải pháp.
Thời gian thực hiện đề án Nguồn lực của đề án
Cách thức tổ chức thực hiện
Phải xác định chính xác thời gian thực hiện cho cả đề án (thời gian để thực hiện mục tiêu tổng thể); đồng thời phải chia nhỏ mục tiêu tổng thể thành các
Thời gian thực hiện đề án Nguồn lực của đề án
Cách thức tổ chức thực hiện
mục tiêu thành phần, cụ thể hơn và xác định được
Thời gian thực hiện đề án Nguồn lực của đề án
Cách thức tổ chức thực hiện
thời gian thực hiện các mục tiêu cụ thể này trong cả tiến trình thực hiện đề án.
Thời gian thực hiện đề án Nguồn lực của đề án
Cách thức tổ chức thực hiện
Phải dự kiến được nguồn lực để đảm bảo thực hiện
Thời gian thực hiện đề án Nguồn lực của đề án
Cách thức tổ chức thực hiện
các nhiệm vụ, giải pháp nêu ra trong đề án. Cần chú
Thời gian thực hiện đề án Nguồn lực của đề án
Cách thức tổ chức thực hiện
ý cân đối giữa nhu cầu nguồn lực cho đề án với khả
Thời gian thực hiện đề án Nguồn lực của đề án
Cách thức tổ chức thực hiện
năng đáp ứng của địa phương cũng như khả năng cân đối các nguồn lực dành cho đề án này với nguồn lực dành cho các nhiệm vụ khác.
Thời gian thực hiện đề án Nguồn lực của đề án
Cách thức tổ chức thực hiện
Cần xác định được tất cả các bên tham gia vào đề án
Thời gian thực hiện đề án Nguồn lực của đề án
Cách thức tổ chức thực hiện
và có sự phân công nhiệm vụ chi tiết giữa các cơ
Thời gian thực hiện đề án Nguồn lực của đề án
Cách thức tổ chức thực hiện
quan, đơn vị này phù hợp với chức năng, nhiệm vụ
Thời gian thực hiện đề án Nguồn lực của đề án
Cách thức tổ chức thực hiện
của chúng trong bộ máy nhà nước và trong xã hội.

103

CÂU HỎI THẢO LUẬN

1. Các yêu cầu đặt ra đối với nghị quyết của HĐND cấp tỉnh? Cần làm gì

để các nghị quyết của HĐND cấp tỉnh được ban hành đáp ứng được các yêu cầu này? Liên hệ thực tế ở tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương (nơi đại biểu HĐND công tác).

2. Phân tích, đánh giá những khó khăn, thách thức trong việc HĐND tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương (nơi đại biểu HĐND công tác) quyết nghị các vấn đề về phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương.

3. Phân tích vai trò, trách nhiệm của đại biểu HĐND cấp tỉnh trong xây

dựng, ban hành Nghị quyết của HĐND, thẩm tra báo cáo, đề án. Liên hệ thực tế ở tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương (nơi đại biểu HĐND công tác).

4. Kinh nghiệm của cá nhân đại biểu HĐND trong việc tham gia thẩm tra

báo cáo, đề án trình HĐND tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương (nơi đại biểu HĐND công tác).

5. Giải pháp tăng cường chất lượng tham gia của đại biểu HĐND cấp tỉnh

vào việc ban hành nghị quyết của HĐND?

104

TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO HỌC VIÊN

1. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

2. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

3. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

4. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ban Công tác đại biểu, Kiến thức và kỹ năng cơ bản dành cho đại biểu Hội đồng nhân dân, Hà Nội, năm 2021.

5. Học viện Hành chính Quốc gia, Pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương, Nxb Bách khoa, Hà Nội, năm 2021.

6. Học viện Hành chính Quốc gia, Hoạch định và thực thi chính sách công, Nxb Bách khoa, Hà Nội, năm 2021.

105

Chuyên đề 4

KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH, THẢO LUẬN, TRANH LUẬN

CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH

I. Kỹ năng thuyết trình của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

1. Mục đích, yêu cầu đối với thuyết trình của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

a. Mục đích thuyết trình của đại biểu Hội đồng nhân dân

Hiểu một cách đơn giản, thuyết trình là trình bày ý kiến của mình nhằm thuyết phục người khác ủng hộ, đồng thuận. Thuyết trình còn được hiểu là:

- Việc trình bày một vấn đề một cách bài bản, hệ thống trước một người, nhóm người để nhằm cung cấp thông tin, tri thức cần thiết cho đối tượng nghe.

- Là quá trình truyền đạt thông tin tới một người hoặc một nhóm người nhằm

đạt được các mục tiêu cụ thể mà người truyền đạt xác định trước.

Qua các quan niệm trên, có thể rút ra kết luận về thuyết trình, đó là: (i) Hoạt động cung cấp thông tin, tri thức; (ii) Có phương pháp và nội dung thông tin khoa

học, hệ thống; (iii) Tác động tới người nghe để đạt mục đích cụ thể

Trong giao tiếp hàng ngày, luôn luôn phải sử dụng hoạt động lời nói nhằm

mục đích trao đổi thông tin, thuyết phục ai đó, nhưng đó không phải là hoạt động thuyết trình. Thuyết trình có sự phân vai rõ rệt hơn giữa người nói và người nghe (người nghe cũng có thể nói để hỏi, trao đổi lại để làm rõ thông tin); giao tiếp có sự cân bằng về vị trí của hai chủ thể.

Đại biểu HĐND thường sử dụng thuyết trình khi:

- Thảo luận tại kỳ họp HĐND, nhằm nêu quan điểm của mình và thuyết

phục đại biểu khác, cơ quan trình dự thảo nghị quyết về phương án, nội dung mà mình phát biểu. Đồng thời thông qua phương tiện thông tin đại chúng (báo chí, truyền hình, truyền thanh) để nhân dân biết tới hoạt động của đại biểu;

- Tiếp xúc cử tri, để đại biểu trình bày với cử tri các nội dung của buổi tiếp xúc (trình bày về chương trình, nội dung kỳ họp HĐND; báo cáo với cử tri về hoạt động của đại biểu HĐND);

106

- Tiếp công dân, để đại biểu giải thích chính sách, pháp luật và thuyết phục công dân về kết quả nghiên cứu, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.

b. Yêu cầu đối với thuyết trình của đại biểu Hội đồng nhân dân

Thuyết trình của đại biểu HĐND khác với các thuyết trình khác như của giảng viên trước người học; thuyết trình đề án ở công ty, doanh nghiệp; quảng bá sản phẩm trong hội thảo...

Vị thế của người đại biểu vừa mang tính đại diện cho cử tri, vừa mang tính

quyền lực nhà nước, nên thuyết trình của đại biểu HĐND phải đảm bảo các yêu cầu:

- Ngôn từ chuẩn xác, sử dụng nhiều ngôn từ theo văn bản pháp luật. Trong

phát biểu của đại biểu phải có căn cứ pháp lý, căn cứ thực tiễn, do vậy ngôn từ mang tính pháp lý, hạn chế sử dụng từ ngữ mang nhiều ý hiểu khác nhau;

- Hạn chế sử dụng quan điểm cá nhân bởi đại biểu đang đại diện cho cử tri

để phát biểu. Trong phát biểu của đại biểu phải đảm bảo sự cân bằng giữa quan điểm cá nhân của đại biểu và quan điểm của đông đảo cử tri mà mình đại diện;

- Tuân thủ nội quy, quy định về thuyết trình (Tại kỳ họp HĐND phải tuân

thủ Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Nội quy kỳ họp; trong tiếp xúc cử tri phải tuân thủ quy định về tiếp xúc cử tri và sự điều hành của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tại nơi tiếp công dân phải tuân thủ Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Nội quy phòng tiếp công dân...);

- Mỗi hoạt động của đại biểu sẽ có người nghe khác nhau (về trình độ, số

lượng, mục đích) nên thuyết trình cần phải thay đổi để phù hợp. Trong kỳ họp đó là đại biểu HĐND; trong tiếp xúc cử tri là cử tri; trong tiếp công dân là một hoặc nhóm công dân.

2. Các bước thực hiện thuyết trình của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

a. Chuẩn bị bài thuyết trình

(i) Thu thập, xử lý thông tin

Để đại biểu HĐND thuyết trình thuyết phục, tin cậy thì cần phải có thông

tin chính xác và đầy đủ. Quá trình thu thập thông tin cần lưu ý:

107

- Xác định độ tin cậy của thông tin: Thông tin từ báo cáo, văn bản, tài liệu của cơ quan Đảng và nhà nước, tổ chức chính trị xã hội có độ tin cậy cao. Thông tin từ báo chí, đề tài nghiên cứu khoa học, tổ chức quốc tế thường có giá trị tham khảo...

- Xác định tính sẵn có của thông tin: Thông tin sẵn có trong văn bản, tài liệu, báo chí dễ tiếp cận, tìm kiếm nhanh chóng, tiết kiệm chi phí nhưng chưa chắc đảm bảo đáp ứng toàn bộ yêu cầu của đại biểu. Thông tin từ nguồn đại biểu tự mình điều tra, khảo sát, hoặc nghe chuyên gia sẽ đáp ứng được yêu cầu của đại biểu, tuy nhiên, chi phí tốn kém và mất nhiều thời gian để hoàn thành.

(ii) Xác định nội dung chính, phạm vi thông tin để việc đại biểu nhận quá

nhiều thông tin mà không có thời gian đánh giá, không đủ khả năng xử lý hết thông tin, dễ bỏ qua thông tin có giá trị.

(iii) Xác định mục đích thuyết trình

Trong hoạt động của đại biểu HĐND cấp tỉnh, hoạt động thuyết trình thường hướng đến các mục đích:

- Thuyết trình để trình bày, báo cáo về một nội dung cụ thể (thường trong hoạt động tiếp xúc cử tri, đại biểu báo cáo về chương trình, nội dung họp HĐND hoặc báo cáo về kết quả kỳ họp HĐND).

- Thuyết trình để thuyết phục người nghe (thường trong tham luận tại kỳ

họp HĐND khi thảo luận về dự thảo báo cáo, nghị quyết đề án).

- Thuyết trình trong đặt câu hỏi (thường trong hoạt động giám sát như chất

vấn, tham gia đoàn giám sát ở địa phương).

(iv) Xây dựng bài thuyết trình

Thuyết trình là hoạt động mang tính chất chủ động, đại biểu HĐND có đủ

thời gian để chuẩn bị, do vậy việc chuẩn bị bài thuyết trình là yếu tố cần thiết để mang lại thành công.

Tùy thuộc vào nội dung và tính chất thuyết trình mà đại biểu HĐND có sự chuẩn bị phù hợp theo hướng:

- Viết ra giấy đầy đủ, toàn bộ nội dung cần nói. Hiện nay với công nghệ hỗ

trợ, nhiều đại biểu sử dụng máy tính bảng để viết nhằm nhanh chóng cập nhật,

108

sửa đổi bài phát biểu. Ưu điểm của viết chi tiết là chuẩn bị được bài thuyết trình hay, nhược điểm là dễ bị phụ thuộc vào bài chuẩn bị, khi trình bày thường chăm chú tờ giấy để đọc nội dung.

- Viết ra giấy ý tưởng cần nói, tương tự như mô hình "Sơ đồ tư duy", "cây

tư duy" với ý lớn, ý nhỏ. Các ý này cần ngắn gọn, xúc tích, thể hiện mỗi ý không nên quá 5 từ. Trong thuyết trình, có thể nhớ nội dung mà không cần sử dụng đến giấy, nhưng đó là "phao cứu sinh phòng trường hợp quên ý tưởng hoặc tránh bỏ sót ý tưởng. Phương pháp này thường được sử dụng với người có khả năng diễn thuyết tốt.

- Không cần viết ý tưởng mà định hình sẵn kết cấu bài thuyết trình, tùy

hoàn cảnh cụ thể sẽ linh hoạt điều chỉnh nội dung. Trường hợp này đòi hỏi đại biểu HĐND có khả năng nói tốt và nhớ, hiểu vấn đề trình bày một cách sâu sắc.

Tùy thuộc nội dung thuyết trình, đại biểu HĐND cần lưu ý tìm hiểu thông

tin để phục vụ hoạt động thuyết trình, những thông tin có nguồn dẫn chính xác, có độ tin cậy sẽ thuyết phục người nghe.

- Cơ sở chính trị: Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc, nghị quyết Ban Chấp

hành Trung ương, văn bản của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Nghị quyết Đại hội Đảng ở địa phương... (trích rõ tên văn bản, số văn bản, này ban hành).

- Cơ sở pháp lý: Hiến pháp, luật, nghị quyết, nghị định, thông tư của các cơ

quan trung ương; nghị quyết của HĐND, quyết định của UBND (trích rõ tên văn bản, số văn bản, ngày ban hành, điều khoản trong văn bản).

- Cơ sở thực tiễn: Sự kiện trong thực tế thu thập được (ghi rõ nguồn như từ báo chí, phản ánh cử tri, do đại biểu thu thập... ).

Xác định thông điệp gửi tới người nghe: Không nhất thiết trong bài thuyết

trình phải có thông điệp cụ thể, nhưng nếu đưa ra được thông điệp sẽ giúp người nghe ghi nhớ điều mà đại biểu muốn truyền tải một cách nhanh nhất. Thông điệp

là công cụ hữu hiệu để chạm tới cảm xúc của người nghe.

- Bài thuyết trình nên có đủ 3 phần: Mở đầu - thân bài (nội dung chính) - phần kết. Dù phần mở đầu và phần kết có thể rất ngắn gọn nhưng cũng cần thiết.

109

Có lời mở đầu ấn tượng sẽ giúp người nghe tập trung ngay từ đầu vào bài phát biểu, tạo tâm lý "muốn nghe' (nhiều trường hợp người nghe bị tâm lý "phải nghe do bắt buộc phải ngồi trong hội trường cho hết giờ).

Thân bài, nội dung chính cần chia thành các phần nhỏ, các ý rõ ràng; có bố

cục logic giữa các ý, các phần và nội dung trong từng ý, từng phần.

Phần kết là phần tóm tắt nội dung bài thuyết trình, cần nêu lại nội dung chính, truyền tải thông điệp, lời kêu gọi.

(v) Chuẩn bị về tâm lý

Việc chuẩn bị về tâm lý là cần thiết, nhất là với đại biểu HĐND cấp tỉnh

lần đầu trúng cử và trong thời gian đầu của nhiệm kỳ. Có một tâm lý vững vàng sẽ giúp thuyết trình đủ ý, không quên ý, tạo sự tin cậy của người nghe.

Để chuẩn bị tâm lý tốt, đại biểu HĐND lưu ý một số điểm sau:

- Chuẩn bị bài thuyết trình kỹ, đầy đủ;

- Luyện tập trước bài thuyết trình trước gương, trước người khác hoặc sử

dụng điện thoại quay phim để xem lại từ đó có điều chỉnh nội dung và cách thức trình bày (nếu cần).

b. Tiến hành thuyết trình

Tiến hành thuyết trình là công đoạn quan trọng nhất, đại biểu HĐND cần lưu ý các nội dung:

- Đảm bảo thời gian thuyết trình

Thời gian thuyết trình theo quy định (nếu có) hoặc cân đối chung giữa những người cùng tham gia thuyết trình và khoảng thời gian chung của cả buổi thuyết trình. Ví dụ, trong buổi tiếp xúc cử tri, đại biểu phân định tổng thời gian

(1 buổi sáng, cả ngày), thời gian khai mạc và bế mạc, thời gian cho đại biểu (bao nhiêu đại biểu HĐND báo cáo), thời gian cho cử tri có ý kiến, để từ đó định lượng được thời gian dành cho mình.

- Đánh giá phản ứng của người nghe

Thuyết trình nhằm tác động tới người nghe, thuyết phục người nghe, do vậy, trong quá trình thuyết trình cần đánh giá phản ứng của người nghe để biết hiệu quả bài thuyết trình. Phản ứng của người nghe như cười, chăm chú nghe, gật đầu

110

đồng tình, nói chuyện riêng, làm việc riêng, lơ đãng, thậm chí nhắm mắt ngủ. Từ đó đánh giá mức độ phản ứng của người nghe với bài thuyết trình theo các cấp độ: đồng tình - không có ý kiến - không quan tâm - quá chán - phản đối.

- Điều chỉnh bài thuyết trình

Trong quá trình thuyết trình cần đảm bảo logic vấn đề, nội dung vấn đề đã được chuẩn bị sẵn, tuy nhiên, tùy điều kiện về thời gian và phản ứng của người nghe, đại biểu có thể phải điều chỉnh bài thuyết trình cho phù hợp theo hướng: rút ngắn bài thuyết trình, trình bày kỹ hơn các nội dung (sẽ kéo dài bài thuyết trình so

với dự kiến), thay đổi một vài quan điểm theo hướng tiếp cận linh hoạt hơn.

c. Kết thúc thuyết trình

Một bài thuyết trình có hiệu quả hay không hội tụ rất nhiều những yếu tố, bao gồm cả khách quan và chủ quan. Nếu cách mở đầu, dẫn dắt vào bài thuyết trình vô cùng quan trọng để gây ấn tượng ban đầu với người nghe thì phần kết thúc một bài thuyết trình cũng đóng vai trò quan trọng không kém, nó được xem như một điểm nhấn cho một bài thuyết trình thành công. Có nhiều cách để kết thúc bài thuyết trình:

- Kết thúc bằng cách tóm lược những nôi dung chính của bài thuyết trình.

Tóm tắt những nội dung chính của bài thuyết trình sẽ giúp ích cho người nghe hiểu được cấu trúc chung của bài phát biểu của đại biểu, nếu trước đây họ chưa hiểu rõ. Ngoài ra, nếu họ nghi ngờ hoặc không hiểu đúng một phần, câu hỏi của họ sẽ được giải đáp ngay lập tức. Cần chú ý là không nên trình bày lặp lại hoặc hoặc quá chi tiết về một nội dung nào đó đã thuyết trình mà chỉ nên nói vắn tắt những ý chính đại biểu đã truyền tải xuyên suốt thời gian thuyết trình.

- Kết thúc bằng cách nói lời cảm ơn. Nói lời cảm ơn vào cuối bài thuyết

trình cũng là một chỉ báo rõ ràng cho người nghe biết rằng đại biểu đã hoàn thành bài thuyết trình.

- Kết thúc bằng một câu hỏi gợi mở. Đây là cách kết thúc nhằm thu hút sự

chú ý của mọi người. Những câu hỏi luôn khiến người nghe cần phải suy nghĩ và tư duy.

111

3. Kỹ thuật thuyết trình

a. Kỹ thuật mở đầu bài thuyết trình

Mở đầu bài thuyết trình tốt sẽ quyết định tới thành công của bài thuyết trình

bởi khi người nghe thấy hứng thú ngay từ đầu họ mới có thể tập trung và kiên nhẫn nghe những phần sau. Thời gian cho phần mở đầu cân đối với thời gian của cả bài thuyết trình. Thông thường chiếm 10% dung lượng bài thuyết trình. Mở bài thuyết trình tốt là phải đạt yêu cầu gây ấn tượng tốt. Một số điểm lưu ý về kỹ thuật mở bài thuyết trình:

- Lựa chọn cách mở đầu vui vẻ, gây sốc, tò mò.

- Cách thức mở đầu bằng kể câu chuyện ngắn, đặt câu hỏi, đưa ra số liệu

thống kê, tạo sự tương phản, chia sẻ cảm nghĩ của bản thân, trích dẫn một câu nói nổi tiếng. Có người sử dụng cách mở đầu bằng không nói gì, nghe có vẻ không logic nhưng tạo khoảng thời gian im lặng, kết hợp với ngôn ngữ cơ thể cũng là một cách để tạo sự tò mò đối với người nghe.

- Ngoài sử dụng ngôn ngữ để mở đầu bài thuyết trình, có thể kết hợp với

hình ảnh (hình ảnh slide, đưa ra một vật). Hình ảnh sẽ tác động tới người nghe mạnh mẽ, nhanh hơn là lời nói.

b. Kỹ thuật sử dụng phi ngôn ngữ

Giao tiếp có thể chia làm hai loại: Ngôn ngữ (lời nói) và phi ngôn ngữ (trong đó có ngôn ngữ cơ thể, hình ảnh). Thuyết trình chính là cách sử dụng cả hai loại hình này, ngôn ngữ bằng lời nói và ngôn ngữ cơ thể, hình ảnh.

Theo nghiên cứu, tỷ lệ hình ảnh, ngôn từ,

Hình ảnh

giọng nói tác động tới người nghe. Trong đó, phi ngôn ngữ chiếm tỷ lệ lớn ảnh hưởng tới người nghe.
55%

Các loại hình ngôn ngữ cơ thể thường Giọng nói 38% Ngôn từ

7%

được sử dụng là: Biểu hiện trên khuôn mặt, cử

chỉ, tư thế cơ thể, ánh mắt, nụ cười,... biết sử dụng ngôn ngữ cơ thể sẽ giúp người thuyết trình truyền tải được ý tưởng tới người nghe, tạo sự tin cậy của người nghe. Một số lưu ý về ngôn ngữ cơ thể:

112

- Tư thế đứng/ngồi: Thẳng lưng, tránh vươn người về phía micro, đứng lom

khom khi micro để bàn cách xa miệng, đứng ưỡn người, ngồi ngả lưng ra ghế Tư thế thẳng lưng, mở rộng vai còn giúp hít thở tốt hơn từ đó giọng nói "vững chãi".

- Cử chỉ của tay: Động tác của tay phù hợp với nội dung thuyết trình, ví dụ

khi nói về sự hợp tác thì hai tay đan vào nhau, nói về sự phát triển thì tay đưa từ dưới lên trên. Sử dụng hai bàn tay hợp lý sẽ tránh cử chỉ gượng gạo của bàn tay thừa hay vung tay quá mạnh. Trường hợp chưa thạo sử dụng cử chỉ của tay, người thuyết trình có thể cầm thêm tờ giấy viết nội dung thuyết trình, quyển sổ nhỏ. Chuyển động của tay cần dứt khoát, có mục đích gắn với nội dung lời nói.

Một vài gợi ý về vị trí của tay trong quá trình thuyết trình:

- Ánh mắt: Đôi mắt được ví là cửa sổ tâm hồn của một con người, là nơi

thể hiện và bộc lộ cảm xúc chân thật nhất từ vui vẻ, hoan hỉ cho đến đau đớn, buồn tủi. Chính vì thế khi nhìn vào đôi mắt của người đối diện sẽ cho đại biểu biết họ có thực sự chân thành hay không. Và thông điệp truyền tải qua ngôn ngữ của cơ thể sẽ biểu hiện rất rõ nét. Người thuyết trình biết sử dụng giao tiếp bằng mắt sẽ giúp "nói" lên sự quan tâm và tôn trọng người nghe; sự tự tin của người nói. Ánh mắt nhìn nên bao phủ toàn bộ người nghe, tránh nhìn vào một điểm (một người) quá lâu (quá 3 giây trừ khi đặt câu hỏi, giao tiếp với người đó), quá nhiều lần.

- Nụ cười: Người thuyết trình mỉm cười là cách tạo sự gần gũi, thân thiện

với người nghe, làm cho người nghe cảm thấy thoải mái. Cười còn là cách để truyền đạt thông tin tới người nghe, làm giảm lo lắng và giúp người thuyết trình bình tĩnh và tự tin hơn.

- Hình ảnh: Ngoài ngôn ngữ cơ thể, hình ảnh cũng tác động lớn tới người

nghe. Hình ảnh có thể là màn chiếu slide, ảnh, phim, đồ vật. Ví dụ: trường hợp

113

nói về ô nhiễm nguồn nước kèm theo một chai nước đen lấy từ hồ, ao, mương... sẽ truyền tải nhiều thông điệp tới người nghe.

c. Kỹ thuật sử dụng giọng nói

Có thể nói cùng một từ nhưng biểu thị nhiều ý nghĩa khác nhau bằng cách

thay đổi giọng điệu. Do vậy, kỹ thuật giọng nói là rất quan trọng khi thuyết trình.

- Nhấn giọng: Cùng một câu nói nhưng khi nhấn giọng ở những vị trí khác

nhau, sẽ tạo ra nhiều sắc thái ý nghĩa khác nhau. Những từ ngữ được nhấn mạnh, sự chú ý của người nghe tăng lên so với từ ngữ bình thường và giúp người nghe ghi nhớ.

- Tốc độ lời nói: Không nói quá nhanh hay quá chậm. Nói nhanh người nghe không kịp ghi nhớ thông tin, nói chậm quá người nghe thấy chán. Tốc độ nói vừa phải, rõ ràng. Chỉ nói nhanh khi không muốn người nghe có thời gian tư duy, suy nghĩ và đánh giá xem người thuyết trình nói có đúng không, sai ở đâu.

- Nhịp điệu: Giống như lời bài hát. Giọng nói đều đều sẽ giúp người thuyết

trình thành công trong việc ru ngủ người nghe. Để người nghe có hứng khởi trong suốt quá trình thì giọng nói cần có nhịp điệu, giai điệu.

- Âm lượng: Sẽ khó thuyết phục người khác nếu họ không nghe thấy đại biểu nói gì. Có 2 yếu tố ảnh hưởng đến âm lượng giọng nói đó là bản thân người nói (bình thường giọng đã nhỏ, run quá mà không nói to rõ ràng được) hoặc do thiết bị âm thanh (miệng để xa micro, chỉnh âm nhỏ).

- Điểm dừng: Điểm dừng (im lặng trong 5 giây) là một thủ thuật thường để thu hút sự chú ý tối đa của người nghe.

d. Kỹ thuật tác động tâm lý người nghe

Mỗi diễn giả phải là một nhà tâm lý, đó là tâm lý chung của con người và tâm lý của từng nhóm người riêng biệt. Một số kỹ thuật tác động tâm lý là:

- Không ai muốn nghe lời chỉ trích, phê phán: Do vậy, trước khi đưa ra lời

chỉ trích, phê phán ai thì cần làm cho họ đồng cảm, họ tự nhận ra sai lầm. Nếu nói thẳng lỗi lầm của họ, nhất là trước đám đông thì dù có nói đúng cũng khó được người bị chỉ trích chấp nhận.

114

- Nói một cách quả quyết: Người nghe không thể tin những gì bạn nói nếu

ngay bản thân bạn cũng không tin vào điều đó.

- Nhắc lại nhiều lần: Điều gì muốn người nghe tin và ghi nhớ thì cần nhắc

lại vài lần trong bài diễn thuyết. Tất nhiên, tùy thời gian diễn thuyết mà nhắc lại bao nhiều lần là phù hợp.

đ. Những lỗi dễ mắc trong thuyết trình

- Phụ thuộc vào bài sẵn có: Đây là lỗi căn bản mà nhiều người gặp phải

trong thuyết trình. Thuyết trình là là sử dụng lời nói để truyền tải thông tin rõ ràng, dễ hiểu, thu hút và thuyết phục. Vì vậy, phụ thuộc quá nhiều vào bài chuẩn bị sẵn hoặc cầm giấy đọc không những khiến người nghe có cảm giác khó chịu

mà còn không mang lại hiệu quả tốt cho bài thuyết trình.

- Mở đầu tẻ nhạt, thiếu hấp dẫn: Nên tránh bắt đầu bài thuyết trình một

cách xuề xòa, đơn giản. Thay vào đó, cần phải có một phần mở đầu lôi cuốn, đồng thời cần phải cho người nghe thấy tại sao thông tin sắp nói quan trọng và có ích với họ. Bởi nếu thông tin đó vô nghĩa, họ không hề quan tâm.

- Nói quá nhanh, không có điểm dừng: Trong quá trình nghe thuyết trình,

người nghe sẽ tập trung vào lời nói và sự dẫn dắt của người thuyết trình. Nói quá

nhanh và không có điểm dừng, ngắt quãng sẽ khiến cho người nghe không theo
kịp tốc độ của người thuyết trình. Đồng thời, người nghe sẽ có cảm giác căng thẳng và không thể nắm bắt được hết các thông tin được truyền tải.
Các quãng dừng rất quan trọng trong bài thuyết trình. Khi nhắc đến một
vấn đề, cần dừng lại để người nghe có thời gian tiếp nhận và suy nghĩ, phân tích nhanh. Đây cũng là cách để nhấn vào những điểm quan trọng, giúp bài thuyết trình thu hút và có ý nghĩa.
- Nói quá lan man, dài dòng: Những bài thuyết trình ngắn gọn, súc tích thường có sức ảnh hưởng lớn hơn những nội dung quá dài dòng, rườm rà. Nếu mất quá nhiều thời gian để trình bày về vấn đề cần đưa ra sẽ làm mất đi sự chú ý
và tập trung của người nghe, đồng thời không tập trung được vào những nội dung chính muốn truyền tải, không đạt được mục đích của thuyết trình.
115
*

- Thiếu sự tương tác với người nghe: Trong thuyết trình nếu chỉ tập trung

thể hiện vấn đề của mình mà không để ý tới phản ứng của người nghe sẽ khiến cho người nghe có cảm giác thiếu thoải mái. Đặc biệt, trong nhiều trường hợp, người nghe có một số các thắc mắc về nội dung thuyết trình sẽ không được giải đáp. Đây là điều khiến cho bài thuyết trình bị giảm chất lượng, kém hiệu quả.

e. Cách khắc phục lỗi trong thuyết trình

- Luôn có sự chuẩn bị kỹ lưỡng trước buổi thuyết trình: Cần phải có thời gian để chuẩn bị cho mọi thứ chu đáo, buổi thuyết trình sẽ diễn ra thuận lợi hơn. Đặc biệt cần phải chuẩn bị nội dung bài thuyết trình một cách có chọn lọc. Để thuyết trình hiệu quả, cần phải biết chọn lọc thông tin. Việc cảm thấy thông tin nào cũng quan trọng, cũng cần thiết phải đưa vào sẽ dẫn tới bài thuyết trình trở nên loãng. Chính vì vậy, sắp xếp thông tin theo mức độ quan trọng với chủ đề cần thuyết trình sẽ giúp dễ dàng loại bỏ được những thông tin ít quan trọng và dành thời gian cho việc trình bày các thông tin đã được chọn lọc.

- Giữ cho tinh thần, tâm lý tốt: Khi tinh thần và tâm lý trong trạng thái thoải

mái sẽ giúp giữ được bình tĩnh và tự tin để thể hiện hết các nội dung truyền tải một cách quả nhất.

- Luôn nở nụ cười: Khi cười, lượng endorphins trong cơ thể sẽ tăng, làm

giảm sự lo lắng, giúp tự tin hơn. Nụ cười của cũng sẽ khiến cho người nghe cảm giác thân thiện, thoải mái hơn khi lắng nghe buổi thuyết trình.

- Thay đổi hướng nhìn và bao quát đến nhiều khu vực trong khán phòng:

Thay đổi hướng nhìn và bao quát đến nhiều khu vực trong khán phòng nhằm tạo thiện cảm với các người nghe. Điều này cũng giúp đánh giá xem mọi người có tập trung lắng nghe hay không, cũng có thể biết được khu vực nào chưa thực sự tập trung để đưa ra những điều chỉnh kịp thời.

- Hít thở sâu và uống một chút nước: Hít thở sâu sẽ giúp máu của lưu thông

tốt hơn và cung cấp nhiều oxy lên não mang tới cảm giác thư giãn và dễ chịu hơn. Hít thở sâu và uống một chút nước sẽ giúp người thuyết trình giảm bớt lo lắng, giữ được bình tĩnh và thoải mái hơn trong khi thuyết trình.

116

- Sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách hiệu quả: Một cử chỉ, điệu bộ nhỏ liên quan đến bài thuyết trình sẽ giúp thu hút sự chú ý cũng như giúp người nghe hình dung rõ hơn về nội dung đang được trình bày. Vì vậy, muốn thuyết trình hiệu quả cần biết sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp để phát huy tác dụng để giúp cho việc truyền tải nội dung thuyết trình được tốt hơn. Tuy nhiên cũng cần tránh những cử chỉ phi ngôn ngữ không phù hợp như: khoanh tay, giấu tay, đảo mắt liên tục, trỏ tay...

II. Kỹ năng thảo luận, tranh luận của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

1. Mục đích, yêu cầu đối với thảo luận, tranh luận của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

a. Mục đích của thảo luận, tranh luận của đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu HĐND sử dụng hình thức thảo luận, tranh luận trong nhiều hoạt

động của HĐND, như: thảo luận dự thảo nghị quyết; công tác nhân sự thuộc thẩm quyền của HĐND; các chương trình, nội dung giám sát của HĐND, Ban của HĐND.

Thảo luận và tranh luận đều là việc đại biểu HĐND trình bày ý kiến của

mình một cách có lý lẽ, có cơ sở khoa học và thực tiễn trước HĐND (hoặc Tổ đại biểu HĐND) nhằm làm sáng tỏ vấn đề từ đó thuyết phục các đại biểu đồng tình với quan điểm của mình về các vấn đề mà HĐND đang xem xét, quyết định.

Thảo luận nhằm mục đích đưa ra quan điểm của đại biểu thì tranh luận

nhằm mục đích bảo vệ quan điểm của đại biểu.

Bảng 1. Đặc điểm thảo luận, tranh luận

Thảo luận
Tranh luận
Có thời gian chuẩn bị kỹ
Không có chuẩn bị trước
Xuất phát từ nghiên cứu của đại biểu, tham khảo ý kiến các chuyên gia...
Xuất phát từ thảo luận của đại biểu khác, ý kiến cơ quan trình dự thảo nghị quyết, đề án
Đưa ra ý kiến của đại biểu về vấn đề
Đưa ra lập luận để đồng tình hoặc

117

HĐND đang thảo luận
không đồng tình với đại biểu hoặc một số đại biểu khác
Thời gian 5-10 phút tùy quy định của HĐND
Thời gian ngắn hơn thảo luận

Tranh luận trong thảo luận khác tranh luận trong chất vấn về đối tượng tranh luận. Trong thảo luận về dự thảo nghị quyết, đề án, báo cáo, đại biểu tranh luận ý kiến với đại biểu khác hoặc với cơ quan trình dự thảo thì tranh luận trong chất vấn, đại biểu không tranh luận với nhau mà tranh luận với người trả lời chất vấn.

b. Yêu cầu đối với thảo luận, tranh luận

Thảo luận và tranh luận của đại biểu HĐND cần đảm bảo tuân thủ các

nguyên tắc chung sau:

- Bảo đảm đúng đường lối của Đảng, tuân thủ Hiến pháp, pháp luật của

Nhà nước.

- Tuân thủ sự điều hành của Chủ tọa kỳ họp.

- Thực hiện văn hóa nghị trường: Văn hóa nghị trường đó là sự tôn trọng

người chủ tọa, tôn trọng đại biểu khác trong thảo luận, tranh luận; đó là đặt lợi ích nhân dân lên trên hết, trên cả cái "tôi của đại biểu. Trong thảo luận và tranh

luận cần tránh chỉ trích đại biểu HĐND khác; sử dụng ngôn từ hợp lý; tránh sử
dụng những từ mạnh như "sai hoàn toàn", "kịch liệt phản đối", "thiếu hiểu biết",... Tranh luận trên tinh thần lắng nghe và xây dựng. Mỗi đại biểu phát biểu đều không chỉ mang tiếng nói cá nhân mà còn đại diện cho cử tri bầu ra mình.
- Tuân thủ nội quy kỳ họp HĐND. Nội quy kỳ họp HĐND do HĐND các
tỉnh, thành phố tự mình ban hành, một trong những quy định về thảo luận, tranh luận đó là về thời gian. Ví dụ, Nội quy kỳ họp HĐND tỉnh Quảng Bình: Thời gian phát biểu của đại biểu không quá 10 phút hoặc do Chủ tọa quy định°. Việc đảm bảo thời gian phát biểu chính là tôn trọng HĐND, tôn trọng đại biểu HĐND khác.
- Tập trung vào nội dung đang thảo luận, phát biểu rõ ý đề xuất, đồng tình,
không đồng tình, lý do tại sao. Nội quy kỳ họp HĐND tỉnh Quảng Bình nêu rõ: 58 ○Ban hành kèm theo Nghị quyết số 12/NQ-HĐND ngày 21/7/2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Bình.
118
:

Ý kiến phát biểu thảo luận phải ngắn gọn, rõ, đi vào trọng tâm của vấn đề, nếu đã thống nhất với các báo cáo hoặc trùng với các ý kiến đã phát biểu trước thì

khẳng định ý kiến thống nhất mà không nêu lại vấn đề. Nội quy kỳ họp HĐND tỉnh Hưng Yên nêu: Đại biểu HĐND tỉnh phát biểu tập trung vào nội dung của phiên thảo luận.

- Tiếp tục theo dõi thảo luận của các đại biểu khác, ý kiến giải trình của cơ

quan trình dự thảo nghị quyết, đề án, báo cáo để lắng nghe ý kiến từ đó có nhận định, đánh giá về vấn đề thảo luận, đồng thời tranh luận khi cần thiết. Đại biểu đến dự họp chỉ chăm chăm phát biểu ý kiến của mình, coi ý kiến của mình là đúng, không lắng nghe ý kiến của đại biểu khác là chưa làm tròn trách nhiệm người đại biểu, thay mặt nhân dân quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phương. Lắng nghe đại biểu khác phát biểu là tôn trọng nguyên tắc làm việc của HĐND.

c. Một số lưu ý nên tránh trong thảo luận, tranh luận

- Đứng chống hai tay lên bàn (một số đại biểu HĐND có thói quen chống

hai tay lên bàn để tạo điểm tựa), khoanh tay trước ngực hay đút tay túi quần (một số đại biểu HĐND cảm thấy thừa tay khi phát biểu và có thói quen này). Đây là hình ảnh không đẹp, nhất là khi phóng viên chụp ảnh đại biểu đang phát biểu để đăng trên các báo.

- Đọc văn bản chuẩn bị sẵn: Khi phụ thuộc vào văn bản và đọc văn bản sẽ

làm cho bài phát biểu thiếu sức thuyết phục, khó sử dụng ngôn ngữ cơ thể và giọng nói để hấp dẫn người nghe.

- Quên kiểm soát thời gian: Do quá giờ nên Chủ tọa nhắc nhở hoặc đề nghị

dừng phát biểu, sẽ ảnh hưởng tới nội dung phát biểu, có nội dung đại biểu dự định phát biểu nhưng không kịp nói do hết giờ.

- Để tranh luận được thì cần phải hiểu thật kỹ về nội dung: Những vấn đề

tranh luận đại biểu không có thời gian đề tìm hiểu trước như bài thảo luận, do đó, hiểu về nội dung đó thì đại biểu mới nên tranh luận.

- Lựa chọn nội dung thảo luận: Trong một kỳ họp HĐND khoảng 2- 3 ngày

tùy từng địa phương, số lượng dự thảo nghị quyết, đề án thông qua nhiều, đại

119

biểu cần cân nhắc mình sẽ phát biểu thảo luận về nội dung nào bởi các lý do: thời gian dành cho thảo luận trong kỳ họp không nhiều, do vậy, đại biểu không

có điều kiện đăng ký phát biểu về tất cả các nội dung của kỳ họp HĐND; đại biểu nên lựa chọn 3-5 nội dung để tập trung nghiên cứu sâu, đáp ứng được khả năng của đại biểu.

2. Các bước thực hiện thảo luận, tranh luận của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

a. Các bước thực hiện thảo luận

(i) Chuẩn bị thảo luận

- Thu thập thông tin, xử lý thông tin

Các loại thông tin chủ yếu đại biểu HĐND cần thu thập, xử lý trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ gồm:

+ Thông tin về đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng: Đây là loại

"thông tin quan trọng mang tính định hướng. Nguồn dữ liệu ở cấp trung ương là nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, nghị quyết các hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Nguồn dữ liệu ở cấp địa phương là nghị quyết Đại hội Đảng bộ cấp tỉnh; nghị quyết các hội nghị của Ban Chấp hành đảng bộ cấp tỉnh; kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy. Ví dụ, HĐND tỉnh thông qua chủ trương về tinh giản biên chế, các văn bản của Đảng cần tham khảo là: Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Ban Chấp hành trung ương, Nghị quyết 18-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017, Kết luận của Bộ Chính trị (nếu có), nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh...

+ Thông tin về chính sách, pháp luật của Nhà nước: Đây là thông tin căn

bản, là cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND lấy làm căn cứ ban hành nghị quyết. Trong nội dung của Nghị quyết HĐND bao giờ cũng có phần "căn cứ pháp lý". Tiếp tục ví dụ về HĐND tỉnh thông qua chủ trương về tỉnh giản biên chế, thông tin về chính sách, pháp luật của Nhà nước cần thu thập là: Luật Tổ chức chính

120

quyền địa phương9, Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 113/2018/NĐ-CP)... Đây là những văn bản trực tiếp liên quan đến nội dung tinh giản biên chế, ngoài ra, còn cần tìm hiểu các văn bản khác có liên quan như vấn đề ngân sách (nếu có phần hỗ trợ từ NSNN): Luật Ngân sách nhà nước, nghị định và thông tư hướng dẫn thi hành Luật...

+ Thông tin về nghị quyết của HĐND đã ban hành có liên quan để so sánh,

đánh giá hiệu quả thi hành, tìm hiểu các chính sách đã được ban hành. Ví dụ HĐND tỉnh X trong năm 2021 dự kiến ban hành chính sách về tinh giản biên chế, đại biểu cần tìm hiểu trước đây HĐND tỉnh X đã ban hành nghị quyết nào có liên quan trực tiếp hay gián tiếp về nội dung này hay chưa hoặc so sánh với tỉnh khác.

+ Thông tin liên quan đến những vấn đề cử tri, nhân dân quan tâm: đại biểu

HĐND là người đại diện cho cử tri, do vậy, cần phải mang được tiếng nói, nguyện vọng của cử tri vào nghị trường vào nghị quyết của HĐND. Ý kiến của

cử tri còn mang hơi thở cuộc sống, có giá trị thực tiễn cao, giúp đại biểu đánh giá được dự thảo nghị quyết có hợp với thực tiễn không, có đáp ứng được yêu cầu phát triển của địa phương không, có hợp lòng dân không°.

+ Thông tin từ tài liệu kỳ họp HĐND: Đại biểu đọc tài liệu kỳ họp gửi trước để lựa chọn nội dung cần phát biểu. Nhanh nhất và dễ dàng nhất là xem trực tiếp vào những vấn đề trong tờ trình xin ý kiến, các phương án khác nhau trong tờ trình; xem gợi ý thảo luận của Thường trực HĐND (tùy địa phương có thể có văn bản này). Đại biểu cần nghiên cứu, phát hiện thêm những vấn đề

Quy định về thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong lĩnh vực biên chế (Điều 19 nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh; Điều 40 nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương). Ví dụ ý kiến cử tri tỉnh Yên Bái: Cử tri và nhân dân đồng tình về chủ trương tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhưng cho rằng việc thực hiện cần phải được đẩy mạnh hơn nữa. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo quyết liệt việc tinh giản biên chế đi đôi với đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công, cải cách tiền lương, cơ cấu lại tổ chức bộ máy đội ngũ cán bộ, công chức; đồng thời mong muốn việc tổ chức tuyển dụng và thi tuyển cần thực sự khách quan, công khai, minh bạch nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Trên thực tế đội ngũ công chức không giảm đi mà ngày càng tăng lên đối với các cấp(https://www.yenbai.gov.vn/noidung/tintuc/Pages/chi-tiet-tin

tuc.aspx?ItemID=17983&l=tintrongtinh&lv=11).

121

không nằm trong tờ trình của UBND (vấn đề mà UBND chủ động không đưa ra hoặc vấn đề mới).

Một nội dung phát biểu tại kỳ họp không chỉ đơn thuần là chuẩn bị trước 1

ngày, 1 tuần hay 1 tháng mà đại biểu cần chuẩn bị ngay từ khi trở thành đại biểu bằng cách ghi chép lại tất cả những vấn đề xảy ra ở địa phương, những vấn đề mà đại biểu suy nghĩ trong một cuốn sổ nhỏ. Điều này sẽ giúp ích rất nhiều cho đại biểu để có phát biểu sâu về nội dung, có minh chứng thực tế.

- Lựa chọn vấn đề

HĐND mỗi kỳ họp xem xét, thảo luận, quyết định nhiều vấn đề, thuộc

nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, xã hội. Do vậy, đại biểu HĐND khó có thể nghiên cứu hết tất cả nội dung trong kỳ họp HĐND để có ý kiến phát biểu. Thậm chí, đối với một dự thảo nghị quyết, đề án, báo cáo tại kỳ họp HĐND thì đại biểu cũng chỉ chọn một vài vấn đề trong dự thảo để nghiên cứu có ý kiến phát biểu.

1. Kỳ họp thứ 9 HĐND tỉnh Cà Mau (tháng 7/2014) đã thông qua 11 nghị quyết quy phạm pháp luật về các lĩnh vực: mức chi đảm bảo cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở; chế độ, chính sách đối với dân quân; mức phụ cấp hàng tháng đối với lực lượng Bảo vệ dân phố; danh mục tiêu chuẩn, định mức trang bị cho Công an xã; mức hỗ trợ đặc thù đối với công chức, viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở nuôi dạy trẻ khuyết tật, bảo trợ xã hội công lập và Làng trẻ em SOS; ban hành danh mục giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập; mức thu phí đào tạo trình độ cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập năm học 2014-2015; Lệ phí cấp giấy phép xây dựng; Phí sử dụng cảng cá, phí vệ sinh, phí qua cầu và 3 nghị quyết về công tác nhân sự.

122

2. Kỳ họp thứ 15 HĐND Thành phố Hồ Chí Minh (nhiệm kỳ 2016-2021) đã thông qua 24 nghị quyết về nhiều lĩnh vực như lĩnh vực ngân sách (quyết toán ngân sách, chế độ với người cai nghiện ma túy, chi quà tặng chúc thọ, chi các hội thi, chi giám sát và phản biện xã hội) đến chủ trương đầu tư công (đầu tư công nhóm B, kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016-2021), giá đất, thu hồi đất, tới nghị quyết chuyên đề về giảm ngập nước, quy hoạch, dự án giao thông, cải cách hành chính, chương trình giảm nghèo,

3. Kỳ họp thứ 6 HĐND tỉnh Hải Dương (nhiệm kỳ 2016-2021) ban hành 14 nghị quyết trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, chương trình phát triển nhà ở, quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp, sử dụng tài sản công, phí và lệ phí, hỗ trợ chi phí khuyến khích hỏa táng, công trình thu hồi đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chế độ với học sinh và giáo viên trường chuyên, hỗ trợ nhân rộng mô hình giảm nghèo, hỗ trợ mức đóng bảo hiểm y tế, chỉ tiêu kế hoạch giường bệnh, chương trình giám sát HĐND.

Điểm qua chương trình kỳ họp của HĐND ở ba địa phương trên để thấy số lượng nghị quyết được HĐND thông qua không có sự chênh lệch nhiều, khá tương đồng nhau. Kỳ họp HĐND thành phố Hồ Chí Minh dài hơn các địa phương khác do HĐND xem xét, thông qua nhiều nghị quyết.

- Kinh nghiệm hoạt động của HĐND cho thấy nên lựa chọn nhiều vấn đề

phát biểu. Nếu dự kiến có 5 nội dung (5 dự thảo nghị quyết) phát biểu tại kỳ họp HĐND thì đại biểu cần lựa chọn 8 nội dung phát biểu. Mỗi nội dung sẽ phát biểu 3 ý thì cần lựa chọn 5 ý để chuẩn bị ý kiến. Việc lựa chọn nhiều nội dung, nhiều ý trong mỗi nội dung để đề phòng nội dung/ý chuẩn bị phát biểu bị trùng với nội dung/ý của đại biểu khác đã phát biểu trước mình.

- Đại biểu có thế mạnh trong một vài lĩnh vực do chuyên môn đào tạo, kinh

nghiệm trong lĩnh vực công tác, tự tìm hiểu, hỗ trợ từ một số chuyên gia ... đem lại. Đại biểu nên chọn những lĩnh vực thuộc thế mạnh của mình để nghiên cứu ý

123

kiến phát biểu, thảo luận. Đồng thời cần lựa chọn vấn đề đang có nhiều ý kiến trong dư luận xã hội, vấn đề bức xúc của cử tri mà đại biểu tiếp thu được qua các cuộc tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, bởi đại biểu phải mang được "hơi thở cuộc sống vào nghị trường. Vấn đề nào đại biểu thấy cần phát biểu mà mình chưa rõ thì phải tìm hiểu từ chuyên gia, báo chí, từ thực tiễn cuộc sống, điều này sẽ giúp nghị quyết khi được ban hành đi vào cuộc sống của dân.

- Linh hoạt thay đổi chủ đề phát biểu thảo luận. Tại kỳ họp HĐND, qua lắng nghe ý kiến phát biểu của các vị đại biểu HĐND, đại biểu cần có đánh giá về nội dung mình chuẩn bị (có đúng chưa, có trùng ý kiến không, có cần thay đổi không), để từ đó có thể thay đổi chủ đề phát biểu hoặc thay đổi một vài nội dung trong phát biểu đã chuẩn bị sẵn.

- Xác định đối tượng nghe

Đại biểu cần trả lời câu hỏi: Bài thảo luận của mình để cho ai nghe?

Có 3 đối tượng mà lời nói đại biểu hướng tới, tùy nội dung, mục đích mà

mục tiêu của đại biểu khác nhau. Đó là:

+ Đại biểu HĐND: Nhằm thuyết phục đại biểu đồng ý với mình. Ngoài

việc tham gia ý kiến vào dự thảo nghị quyết, đề án, báo cáo thì trong các phiên thảo luận về kinh tế - xã hội, đại biểu cần quan tâm tới đối tượng này.

+ Cơ quan trình dự thảo (thường là UBND): Thuyết phục chỉnh sửa dự thảo

văn bản theo ý kiến của đại biểu (thường trong phiên thảo luận về dự thảo nghị quyết, đề án, ngân sách).

+ Cử tri: Thể hiện năng lực, trình độ để tạo uy tín trong nhân dân. Cần đặc

biệt lưu ý trong các phiên truyền hình trực tiếp của HĐND.

- Xây dựng bài thảo luận

Về kết cấu bài thảo luận

Dung lượng bài thảo luận phụ thuộc vào thời gian phát biểu được quy định tại nội quy kỳ họp HĐND. Với tốc độ đọc thông thường, 6 phút phát biểu (đại

biểu đọc toàn văn phát biểu) sẽ tương ứng với 2 trang A4 đánh máy cỡ chữ 14, giãn dòng 18pt.

124

Một bài phát biểu cần đủ 3 nội dung: Mở

Thân bài

bài - thân bài - kết luận. 75-80%

Mở bài ngắn gọn, đặc sắc, tác động mạnh

Kết

tới người nghe như mũi đinh.
Thân bài là phần chính, chiếm tỷ lệ lớn trong bài thảo luận. Phần thân bài, đại biểu cần
xác định có bao nhiêu ý để phân định dung lượng mỗi ý có độ dài khoảng bao nhiêu dòng.
luận
10%
Mở bài
10-
15%

Kết luận ngắn gọn, lắng đọng, mang tính tổng kết.

- Một số gợi ý về phần mở đầu

Hầu hết các đại biểu HĐND sẽ mở đầu bằng các câu quen thuộc, trùng nhau và không kém phần nhàm chán:

1) Kính thưa chủ tọa, kính thưa Hội đồng nhân dân

Tôi có 3 ý kiến phát biểu như sau

2) Kính thưa chủ tọa, kính thưa Hội đồng nhân dân

Tôi hoàn toàn nhất trí với các ý kiến phát biểu trước tôi, tôi xin tham gia

góp ý như sau (lời mở đầu này thậm chí còn không nêu được mình định nói mấy nội dung)

3) Kính thưa chủ tọa, kính thưa Hội đồng nhân dân

Tôi cơ bản thống nhất/nhất trí với Tờ trình của Ủy ban nhân dân/Báo cáo

của Ủy ban nhân dân về .... và báo cáo thẩm tra của Ban Pháp chế/Ban Kinh tế - Ngân sách/Ban Văn hóa - Xã hội/... Tôi xin phát biểu nhấn mạnh 3 nội dung sau.

4) Kính thưa Hội đồng nhân dân

Tôi đánh giá cao sự điều hành của Ủy ban nhân dân trong phát triển kinh tế

- xã hội, tôi đề xuất một số nội dung sau

5) Kính thưa chủ tọa, kính thưa Hội đồng nhân dân

Tại phiên thảo luận này, tôi chỉ tập trung vào vẫn đề lớn là.

Rõ ràng nếu một đại biểu phát biểu thì thấy bình thường, nhưng trong buổi

sáng, hơn 10 đại biểu phát biểu đều bắt đầu với những câu như trên thì người nghe sẽ cảm thấy nhàm chán.

125

Vậy phần mở đầu của bài thảo luận nên bắt đầu thế nào?

+ Mở đầu bằng cách đặt câu hỏi là tạo tính tò mò với người nghe để người

nghe phải suy nghĩ, kích thích trí tưởng tượng, khi đó người nghe đã bắt đầu tự tư duy vấn đề mà đại biểu dự định nói. Ví dụ, khi HĐND thảo luận về dự thảo nghị quyết tinh giản biên chế, đại biểu mở đầu thảo luận: "Liệu đã ai đặt ra câu hỏi: bao nhiêu phần trăm ngân sách của tỉnh là dành để trả lương cho cán bộ, công chức, viên chức?... (nghỉ)... một con số chắc chúng ta sẽ khó tưởng tượng nổi'.

+ Mở đầu hài hước nhưng rất ngắn và liên quan đến nội dung phát biểu, sẽ

làm không khí hội trường vui vẻ, đại biểu tập trung lắng nghe phát biểu. Sự hài hước có thể gắn với nội dung thảo luận.

+ Mở đầu bằng cách đưa ra những con số thống kê. Những con số thống kê

thường nhàm chán, nhưng nếu đại biểu biết nêu đúng lúc, đúng thời điểm thì sẽ gây tác động lớn tới người nghe vì tính thuyết phục của số liệu... Ví dụ, thảo luận về kinh tế - xã hội tại kỳ họp giữa năm của HĐND, phần mở đầu của đại biểu: Theo đánh giá của UBND và báo cáo thẩm tra của Ban Kinh tế - ngân sách, với tiến độ giải ngân hiện nay để hoàn thành mục tiêu giải ngân vốn đầu tư

công năm 2022 sẽ là thách thức rất lớn, mới chỉ giải ngân đạt 1.300 tỷ đồng bằng 18,98% kế hoạch năm.

+ Mở đầu theo lối tương phản. Việc nhấn mạnh sự tương phản, mâu thuẫn

là cách thu hút sự chú ý của đại biểu. Ví dụ như khi thảo luận về kinh tế - xã hội hay giám sát bồi thường khi thu hồi đất đai, đại biểu có thể tạo sự tương phản giữa giá đền bù đất nông nghiệp và giá trị nhà đất sau khi được đầu tư, sự chênh lệch lớn tạo tương phản rõ nét.

Ví dụ phần đầu đánh giá thành công của địa phương trong phòng chống

dịch COVID-19, phần sau đưa ra nhận định xấu: Tuy nhiên, do ảnh hưởng dịch COVID-19 nên mức tăng trưởng GDP những tháng đầu năm chỉ đạt khoảng 3,8%, mức thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây; du lịch, các dịch vụ khác sa sút nghiêm trọng; sản lượng công nghiệp giảm với tốc độ nhanh, nhiều doanh nghiệp ngưng hoạt động hoặc chỉ cầm chừng; công nhân thất nghiệp; tín dụng

126

tăng chậm; nguy cơ nợ xấu gia tăng; thu ngân sách năm 2021 của tỉnh/thành phố khó có khả năng đạt chỉ tiêu; bội chi NSNN dự báo tăng nhiều.

+ Cách mở đầu dẫn dắt. Cách mở đầu này không theo quy chuẩn tỷ lệ giữa

các phần mở đầu - thân bài - kết luận mà phần mở đầu có thể rất dài, chiếm 70% bài thảo luận, dẫn dắt người nghe đi tới phần thân bài đồng thời là kết luận. Ví dụ phần đầu kể câu chuyện cụ thể thương tâm, đưa ra những con số để tác động tới tâm lý đại biểu HĐND, để phần cuối chốt lại thật ngắn gọn: Chính vì những lý do nêu trên, tôi tha thiết đề nghị HĐND, UBND quan tâm bố trí thêm nguồn vốn 200 tỷ động để tạo việc làm cho thanh niên nông thôn.

- Một số gợi ý về phần kết luận

Kết luận phải nhắc lại, tóm tắt được nội dung mà đại biểu đã phát biểu. Nhiều đại biểu không quan tâm tới phần kết luận, cho rằng mình trình bày đầy đủ ở phần thân bài là đã đạt mục đích. Do vậy, phần kết không tạo được dấu ấn, lắng đọng. Một số kết của thảo luận mà đại biểu HĐND hay sử dụng là:

1) Tôi xin hết ý kiến. Xin trân trọng cảm ơn HĐND

2)Trên đây là một số nội dung liên quan đến thảo luận phát triển kinh tế -

xã hội những tháng đầu năm. Tôi xin hết ý kiến. Xin trân trọng cảm ơn HĐND.

Một số cách kết luận:

+ Kết luận từng phần: Với bài thảo luận có nhiều ý, các ý không liên quan

đến nhau, có thể kết ở từng ý. Ví dụ thảo luận về kinh tế - xã hội, đại biểu phát biểu 3 ý về giá nông, lâm, thủy sản; đường giao thông nông thôn; dự án điện gió/điện mặt trời ở địa phương. Với 3 nội dung này, đại biểu cần kết ở từng nội dung một cách rõ ràng. Cuối bài thảo luận có thể không cần có phần kết luận.

Đại biểu cũng có thể đưa thêm phần kết chung cho cả 3 vấn đề: Tôi cho

rằng nếu giải quyết được 3 vấn đề về giá nông sản, hoàn thiện đường giao thông nông thôn và giải quyết vướng mắc trong đầu tư dự án điện gió/điện mặt trời ở địa phương sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển, đặc biệt trong năm 2022.

+ Kết luận chung: Với bài thảo luận chỉ về một nội dung thì bắt buộc phải

có phần kết, đó là đại biểu kiến nghị gì, đề xuất gì. Ví dụ như trong bài phát biểu

127

của đại biểu HĐND về việc sửa đường nội tỉnh chạy qua 3 huyện, sau khi đại biểu phát biểu về nhu cầu cần thiết phải sửa, thực trạng tuyến đường, nguyện

vọng người dân... và đi đến phần kết: Tuy nhiên, đến nay việc khởi công nâng cấp tuyến đường vẫn chưa được thực hiện. Qua đây tôi xin đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh cho chủ trương cơ chế để tháo gỡ nút thắt bố trí vốn để triển khai thực hiện dự án sửa tuyến đường. Vừa qua, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Giao thông vận tải đã rất ủng hộ việc này, nhưng nay tôi chưa rõ vấn đề này đang mắc ở đâu? Tôi đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh sớm chỉ đạo rõ việc này. Xin trân trọng cảm ơn HĐND.

+ Kết luận có thể là một lời kêu gọi: Ví dụ, khi thảo luận về nghị quyết hỗ

trợ cho trẻ mầm non ở một tỉnh miền núi, nhiều đồng bào dân tộc thiểu số: Tôi tha thiết đề nghị các vị đại biểu HĐND quan tâm đưa chính sách hỗ trợ trẻ mầm non tới trường và hỗ trợ cô giáo dạy mầm non ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn. Trẻ em như búp trên cành, cần phải chăm lo cho các cháu.

- Chuẩn bị tâm lý

Phát biểu trước diễn đàn HĐND cấp tỉnh, một diễn đàn chính trị quan

trọng, có sự quan tâm của người dân ở địa phương, có sự tham dự của hầu hết lãnh đạo tỉnh, các huyện, thị xã, thành phố để bàn về những vấn đề quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Do vậy, áp lực lên đại biểu HĐND khi phát biểu tại diễn đàn này là không nhỏ, nhất là với đại biểu ít có cơ hội phát biểu trong các diễn đàn lớn. Đại biểu cần phải chuẩn bị tâm lý thật tốt. Tùy thuộc và năng lực của đại biểu mà có cách thức chuẩn bị tâm lý khác nhau, một số gợi ý là:

+ Đại biểu viết thành bài thảo luận đầy

đủ và đọc trước vài lần. Một số cách luyện

đọc là: Đọc trước gương, đọc trước người

khác (bạn bè, người thân), đọc và tự quay

phim/clip bằng điện thoại... việc quay clip có

tác dụng để đại biểu xem lại và chỉnh sửa

những điểm mà mình thấy chưa được (động

128

tác tay chưa phù hợp, vấp câu khi phát biểu... ).

+ Dự kiến các vấn đề mà đại biểu khác có thể nêu về dự thảo nghị quyết, đề

án, báo cáo mà mình dự định phát biểu ý kiến. Điều này giúp đại biểu tự tin khi bước vào thảo luận tại kỳ họp HĐND, tự tin trong điều chỉnh nội dung phát biểu khi thấy cần thiết, tự tin vì mọi tình huống mình đều dự đoán và thậm chí có giải pháp ứng phó.

+ Luyện tập nói trước đám đông bất kỳ khi nào có cơ hội để quen với áp

lực và quen với môi trường có đông người. Có diễn giả nổi tiếng đã từng nắm lấy cơ hội đứng trước bục phát biểu (chỉ vài giây để giúp diễn giả khác chuẩn bị thuyết trình) nhằm mục đích cảm nhận được không gian rộng và đông người nhìn vào người thuyết trình.

+ Trước khi đứng lên trình bày thảo luận, hãy hít thở sâu - buông lỏng cơ thể - nhấp ngụm nước nhỏ - cử chỉ hành động phải dứt khoát - đứng thẳng người

- hai chân vững vàng trên mặt đất - nở một nụ cười

- đọc phần "kính thưa' đã chuẩn bị sẵn. Những điều

này sẽ giúp đại biểu tự tin để phát biểu.

+ Không quá lo lắng rằng liệu phát biểu của

mình có đúng hay không. Thảo luận trong HĐND là

đưa ra quan điểm của đại biểu, do vậy không có

đúng - sai. Và ý kiến của đại biểu không được cơ quan Đừng quên cốc nước luôn có

sẵn trên bàn đại biểu

soạn thảo đề án, nghị quyết tiếp thu, không được

HĐND biểu quyết ủng hộ cũng là rất bình thường. Quyết định của HĐND không giống làm toán, mà dựa trên dữ kiện hiện có (mà dữ kiện có thể không đầy đủ hoặc không chính xác) để quyết định chính sách mà HĐND thấy rằng phù hợp với thực tiễn.

(ii) Tiến hành phát biểu thảo luận

- Đại biểu thể hiện thông điệp rõ ràng, mạnh mẽ, thuyết phục; trình bày những thông tin, thông điệp phức tạp một cách thu hút.

- Linh hoạt trong phát biểu: HĐND khi thảo luận về một vấn đề cụ thể, đương nhiên có nhiều đại biểu nghiên cứu đóng góp ý kiến, và ý kiến của không

129

ít đại biểu trùng nhau về nội dung, cách thức giải quyết vấn đề... Vì vậy, đại biểu khi phát biểu sau đại biểu khác cần linh hoạt xử lý bài tham luận đã chuẩn bị sẵn, lược bỏ ý trùng nhau, có phương án dự phòng nội dung phát biểu, nhanh chóng đưa ra phân tích thêm, sâu hơn vào nội dung HĐND đang bàn. Tránh việc các đại biểu đã phát biểu nhiều về một nội dung, nhưng do đại biểu đã đăng ký phát biểu từ trước nên vẫn đọc một bài chuẩn bị sẵn, trùng lặp, vừa làm mất thời gian của HĐND, vừa không thể hiện được trí tuệ trong bài phát biểu.

- Kiểm soát dung lượng phát biểu: Mặc dù bài phát biểu đã được chuẩn bị kỹ nhưng với đại biểu không đọc bài chuẩn bị sẵn mà dựa trên cơ sở bài để phát

biểu nên thường nói thêm, giải thích thêm làm cho bài phát biểu bị kéo dài thời gian. Vì vậy, rất cần thiết kiểm soát dung lượng ở mức vừa đủ để không bị nói quá thời gian cho phép, tránh lê thê, dài dòng. Một số gợi ý để kiểm soát thời gian phát biểu là: nhờ đại biểu bên cạnh bấm giờ và nhắc trước khi hết giờ 1 phút; sử dụng chế độ bấm giờ trong điện thoại di động; căn giờ trên đồng hồ đeo tay, đồng hồ treo tường ở Hội trường..

- Lấy ví dụ thực tế, hình ảnh minh họa nhấn mạnh luận điểm: Tùy thời

điểm, nội dung mà thực tiễn, hình ảnh có sức thuyết phục hơn rất nhiều lần luận điểm mà đại biểu muốn chứng minh. Trăm nghe không bằng một thấy, hiệu quả của hình ảnh tác động tới người nghe tức thời.

- Giọng nói: Cần thể hiện sự tự tin, nói rõ ràng, rành mạch, không nói quá

nhỏ/quá to, tránh nói nhanh, biết điểm nhấn, điểm dừng. Tránh phát biểu kiểu "ru ngủ đều đều, trong phát biểu cần thể hiện thái độ của đại biểu với vấn đề.

b. Các bước thực hiện tranh luận của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

(i) Chuẩn bị tranh luận

- Thu thập và xử lý thông tin

Xử lý thông tin trong tranh luận rất khác với xử lý thông tin trong phát biểu thảo luận. Điểm khác biệt lớn nhất đó là THỜI GIAN.

Trong thảo luận, đại biểu có rất nhiều thời gian để thu thập thông tin, xử lý

thông tin bằng nhiều phương pháp khác nhau để xây dựng bài phát biểu thảo luận. Ngược lại, trong tranh luận tại Hội trường, đại biểu HĐND không có nhiều

130

thời gian để xử lý thông tin (thường có 10-20 phút để quyết định việc tranh luận hay không); khó sử dụng nhiều phương pháp thu thập thông tin (tra cứu trên Internet, hỏi ý kiến chuyên gia, tra cứu văn bản pháp luật, tra cứu báo cáo của UBND ...).

Đại biểu HĐND tự mình phải thu thập và xử lý thông tin. Thông tin thu thập đầu tiên là từ bài phát biểu của đại biểu HĐND khác, của đại diện UBND mà mình muốn tranh luận. Có thể tra cứu rất nhanh từ tờ trình, báo cáo của UBND, báo cáo thẩm tra, sử dụng Internet.

Nền tảng để đại biểu tranh luận phải là kiến thức sẵn có của đại biểu về nội dung HĐND đang thảo luận. Đại biểu chỉ nên tranh luận khi nắm vững vấn đề, tự tin vào kiến thức có sẵn và ý kiến của bản thân.

Sơ đồ tranh luận của đại biểu trong phiên thảo luận tại HĐND

Điều hành của Chủ tọa phiên

họp

Đại biểu A Các đại biểu Cơ quan trình

phát biểu khác phát biểu NQ phát biểu

Đại biểu B tranh luận Đại biểu A tranh luận

Ý kiến tranh luận Tranh luận lại

Nghiên cứu và phân tích

Đại biểu cần nghiên cứu và phân tích ý kiến phát biểu, ý kiến tranh luận

của đại biểu khác để chuẩn bị ý kiến tranh luận của mình.

131

- Phát hiện điểm/ý chưa chính xác trong phát biểu: Về mặt kỹ thuật, có khi

chỉ cần chứng minh đại biểu khác phát biểu sai, dù chỉ là một điểm nhỏ, cũng sẽ tạo ra sự nghi ngờ của HĐND đối với toàn bộ phát biểu của đại biểu đó.

Ví dụ, đại biểu HĐND trong phát biểu của mình có đưa ra ý "Tôi nhận được rất nhiều tin nhắn điện thoại của người dân, họ nói chưa từng bao giờ thấy niềm tin đối với nền hành chính của tỉnh nhà thấp như bây giờ".

Trong phát biểu này, cần phân tích ý kiến của đại biểu đưa ra là "điện thoại

của người dân", ý kiến này không có cơ sở vững chắc, chỉ vài ý kiến mà quy nạp thành sự yếu kém của cả nền hành chính của tỉnh là chưa hợp lý.

Từ phân tích này, trong phát biểu tranh luận của đại biểu khác đã đặt câu

hỏi để tạo sự nghi ngờ về thông tin đưa ra: "Đại biểu có cho biết rằng nhận định đó đại biểu nhận được qua ý kiến của một số cá nhân qua điện thoại. Tôi thấy rằng bây giờ nên nhìn nhận như thế nào cho đúng? thông tin qua qua điện thoại thì có được coi là có cơ sở hay không?".

- Tìm ra điểm thiếu logic trong phát biểu: Phân tích nội dung phát biểu xem

có điểm nào không logic với nhau, luận điểm/dẫn chứng phần trên trái ngược với luận điểm/dẫn chứng phần dưới; thiếu logic trong giải quyết vấn đề. Ví dụ trong phát biểu của Giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn về giải pháp khắc phục giá thịt lợn cao (do tình hình dịch bệnh lợn trong tỉnh tăng), đã đưa ra giải pháp phát triển các loại thịt khác như cá, gà, vịt, bò, trâu... Đại biểu tranh luận đã đưa ra lập luận đòi hỏi phải có giải pháp lâu dài và đưa ra ví dụ minh họa: giá thịt lợn hiện nay cao do cung không đủ cầu thì có thể chuyển sang những thực phẩm khác, đó là một giải pháp tôi cho rằng rất hay. Nhưng tới đây nếu cung cầu lại ngược lại, giá thịt lợn lại giảm thì chúng ta giải quyết việc này như thế nào? Như vậy thì quay lại ăn thịt lợn là chính thì lại ảnh hưởng đến giá cả của các gia súc, gia cầm khác. Đại biểu muốn minh chứng giải pháp mà Giám đốc sở đưa ra là giải pháp vòng quanh kiểu "con gà - quả trứng.

- Tiếp cận vấn đề ở các góc độ khác nhau: Đại biểu đưa ra một góc nhìn khác

với góc nhìn của đại biểu khác, của cơ quan trình dự thảo nghị quyết để tranh luận về vấn đề. Ví dụ, một đại biểu đặt ra vấn đề phải dẹp chợ cóc để đảm bảo văn

132

minh đô thị. Đại biểu tranh luận có thể đưa ra góc nhìn bảo đảm cuộc sống của người dân nghèo vì hầu hết người buôn bán ở chợ cóc là người nghèo, không có

tiền vào thuê sạp hàng trong chợ. Vậy vấn đề là vừa đảm bảo văn minh đô thị - vừa đảm bảo đời sống người dân nghèo đã vô cùng khó khăn.

- Xây dựng phương án tranh luận

+ Đặc điểm của tranh luận là thời gian ngắn hơn thời gian cho thảo luận. Thời

gian cho thảo luận thường 5-10 phút tùy quy định của HĐND từng địa phương thì thời gian cho tranh luận khoảng 3 phút hoặc ngắn hơn. Do vậy, đại biểu đi trực diện vào vấn đề tranh luận, "tiết kiệm thời gian", đưa ra lập luận ngắn gọn, rõ ràng.

Không chỉ thời gian phát biểu ngắn mà thời gian chuẩn bị ý kiến tranh luận

cũng ngắn, đại biểu nên viết các ý định nói thật ngắn gọn, mỗi ý có lý lẽ bảo vệ, thuyết phục gì. Việc chuẩn bị ý kiến tranh luận như vậy mới kịp thời gian. Đại biểu không có thời gian chau chuốt dự thảo lời phát biểu tranh luận.

+ Căn cứ pháp lý minh chứng: Có hai căn cứ để bảo vệ luận điểm của đại

biểu, có tính thuyết phục cao, đó là căn cứ chính trị (từ nghị quyết, chính sách của

Đảng), căn cứ pháp lý (từ quy định của Hiến pháp, pháp luật, nghị quyết, pháp lệnh của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; nghị định của Chính phủ, thông tư của Bộ). Với viện dẫn văn bản quy phạm pháp luật trong đó có văn bản pháp lý cao nhất là Hiến pháp sẽ là một bảo đảm cho sự thành công trong tranh luận của đại biểu.

- Căn cứ thực tiễn, căn cứ khoa học minh chứng: Đại biểu có thể lấy các ví dụ trong thực tiễn đã xảy ra để minh chứng cho tranh luận sẽ có tính thuyết phục cao hơn những lập luận mang cảm tính (tôi cho rằng, nhiều cử tri nêu ý kiến rằng, trên diễn đàn báo chi thời gian gần đây cho thấy...). Ví dụ tranh luận về lợi ích của thủy điện nhỏ, đại biểu đưa ra lập luận về tác hại "Bình quân các nhà máy thủy điện loại nhỏ cứ 1 MW sẽ tiêu tốn từ 1 - 10 ha rừng, cụ thể dự án thủy điện A công suất 11MW, chiếm mất 10 ha rừng; dự án thủy điện B công suất 14 MW, chiếm mất 170 ha rừng bảo tồn thiên nhiên của tỉnh.

- Tôn trọng ý kiến trái chiều, đặt mình vào hoàn cảnh đại biểu khác: Đại biểu

HĐND trong tranh luận cần tôn trọng ý kiến trái với ý kiến của mình, đại biểu phát

133

biểu khác với ý kiến của mình không có nghĩa đại biểu đó "không thích mình, không thiện cảm với mình bởi đại biểu đứng trên quan điểm đại diện cho tiếng nói của cử tri để phát biểu.

- Biết thừa nhận sai lầm (không giữ định kiến): Thảo luận, tranh luận để tìm

ra giải pháp tốt nhất, vì mục tiêu chung của địa phương, diễn đàn HĐND không phải là nơi đại biểu chứng tỏ mình, thể hiện mình giỏi, hơn người khác, do vậy, đại biểu phải biết thừa nhận sai lầm.

- Biết điểm dừng: Nhiều trường hợp đại biểu phát biểu tranh luận 1-2 lần

(Đại biểu A tranh luận với đại biểu B, đại biểu B tranh luận lại đại biểu A, đại biểu A tiếp tục tranh luận với đại biểu B). Có những nội dung không có đúng sai như toán học 1+1 =2. Đưa ra chính sách của HĐND là một việc rất khác với toán học bởi đây là quá trình xử lý dữ kiện đầu vào vừa mang tính khoa học vừa mang tính chủ quan. Do vậy, đại biểu cần biết điểm dừng, để vừa tôn trọng đại biểu tranh luận với mình, vừa tôn trọng tập thể HĐND. Việc quyết định ý kiến nào là phù hợp sẽ thuộc quyền của HĐND.

- Giữ bình tĩnh: Tranh luận là đưa ra ý kiến trái chiều, thậm chí có phê bình

nhau giữa các đại biểu trước tập thể đông người - diễn đàn HĐND. Để có tranh luận lại mang tính khoa học, thuyết phục thì đại biểu cần giữ bình tĩnh trước tranh luận trái chiều của đại biểu khác.

- Cố gắng tìm ra một quan điểm chung với đại biểu mà mình tranh luận. Đây

là một kỹ năng nhỏ nhưng hiệu quả. Mục tiêu của nó là làm cho đại biểu thay đổi

quan điểm. Ví dụ, khi phát biểu tranh luận lại đại biểu khác, trong 3 ý mà đại biểu khác nêu có 2 ý mình đồng tình, 1 ý không đồng tình và có ý kiến tranh luận, đại biểu không nên bỏ qua 2 ý đồng tình để đi thẳng vào ý tranh luận, dễ tạo tâm lý phản ứng của đại biểu. Đại biểu khi phát biểu tranh luận có thể nêu: Thưa đại biểu

Nguyễn Văn A, tôi xin phát biểu trao đổi lại với ý kiến của đại biểu để HĐND và cử tri được rõ.

Tôi cũng đồng ý với đại biểu rằng (nêu 2 nội dung mà mình đồng tình với đại

biểu), (nếu cần có thể có lời khen).

134

Riêng ý kiến của đại biểu về vấn đề đầu tư cho các công trình thủy lợi thời

gian qua không hiệu quả, tôi cho rằng (nêu quan điểm, lý lẽ để bảo vệ quan điểm).

- Bản lĩnh tranh luận

Nếu như phát biểu thảo luận là đưa ra ý kiến của mình về nội dung trong dự

thảo nghị quyết, đề án, báo cáo để góp phần hoàn thiện dự thảo. Ý kiến của đại biểu góp ý với cơ quan trình (UBND, Thường trực HĐND) mà không hướng tới cá nhân cụ thể.

Ngược lại, trong tranh luận là đại biểu hướng phát biểu tới không đồng tình

với quan điểm, ý kiến của cá nhân cụ thể, có thể là đại biểu HĐND hoặc Chủ

tịch/Phó Chủ tịch UBND, Giám đốc Sở... Do vậy, khi tranh luận, đại biểu cần có bản lĩnh để dám tranh luận, dám đưa ra ý kiến trái chiều mà mình cho rằng đúng.

(ii) Phát biểu tranh luận

Phát biểu tranh luận khác tranh cãi/cãi nhau để thắng, phát biểu tranh luận

trên nghị trường HĐND lại càng khác biệt. Do vậy, đại biểu lưu ý một số điểm sau:

- Tranh luận đảm bảo theo sự điều hành của Chủ tọa phiên họp;

- Tranh luận có văn hóa nghị trường;

- Không nên có lời nói, phát biểu gay gắt;

- Không công kích cá nhân đại biểu, người mà mình tranh luận;

- Tuân thủ nguyên tắc tranh luận:

Để hiểu được nguyên tắc tranh luận, cần bắt đầu từ 3 nguyên tắc cơ bản

được quy định trong Luật tổ chức chính quyền địa phương:

+ HĐND làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số, điều đó

có nghĩa là quyết định đúng - sai không phải là việc của một vài đại biểu, được quyết định bởi một vài đại biểu, mà là quyết định của tập thể HĐND.

+ Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân

địa phương nên đại biểu phát biểu ngoài kiến thức cá nhân do đại biểu thu thập được thì quan trọng nhất, phát biểu của đại biểu mang tính đại diện, ý kiến phát

135

biểu đại diện cho cử tri của tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương. Do vậy, tranh luận giữa hai đại biểu không thuần túy là tranh luận của 2 cá nhân.

Mục đích phát biểu hướng tới lợi ích chung của cử tri trong tỉnh, thành phố,

giải pháp nào là tốt nhất với nhân dân, không phải tốt nhất với đại biểu.

+ Đại biểu HĐND bình đẳng trong thảo luận: Cá nhân dù có giữ chức vụ nào thì khi tranh luận với tư cách đại biểu HĐND cũng bình đẳng với nhau, ý kiến của đại biểu HĐND đồng thời là Giám đốc sở cũng bình đẳng với ý kiến của đại biểu HĐND đồng thời là giáo viên dạy tiểu học.

3. Giải quyết vấn đề phát sinh trong quá trình thảo luận, tranh luận

a. Giải quyết vấn đề phát sinh trong thảo luận

- Trường hợp đại biểu đăng ký phát biểu ở đầu cuộc họp và chủ tọa mời các

đại biểu lần lượt phát biểu theo thứ tự đăng ký, nhưng qua các ý kiến phát biểu trước thì nội dung đại biểu dự kiến phát biểu đã được các đại biểu khác nêu và giải quyết, thậm chí Chủ tọa có kết luận.

Đại biểu có thể nhanh chóng thay đổi nội dung phát biểu. Trường hợp

không kịp chuẩn bị nội dung mới, khi Chủ tọa mời phát biểu, đại biểu xin không phát biểu nữa vì các lý do: Nội dung đã được trao đổi, thảo luận, và để tiết kiệm thời gian cho HĐND.

- Đại biểu trong quá trình phát biểu, bị Chủ tọa nhắc nhở vì nội dung không phù hợp với chủ đề thảo luận.

Đại biểu bỏ qua ý phát biểu mà Chủ tọa nhắc nhở để chuyển sang ý phát

biểu tiếp theo. Trường hợp không có ý phát biểu tiếp theo trùng với nội dung, chủ đề đang thảo luận thì đại biểu xin phép dừng phát biểu hoặc tranh luận với Chủ tọa để minh chứng nội dung mình phát biểu gắn với chủ đề và xin tiếp tục phát biểu.

- Đại biểu trong quá trình phát biểu, bị Chủ tọa nhắc nhở vì vượt quá thời gian quy định.

Đại biểu xin phép Chủ tọa và HĐND được phát biểu thêm (thời gian phát

biểu thêm không nên quá 1 phút), đồng thời lược bớt nội dung để đi thẳng vào phần kiến nghị.

136

- Trường hợp đang phát biểu thảo luận, bỗng dưng các đại biểu trong Hội trường cười rộ lên, mặc dù bài phát biểu của đại biểu không có mục đích gây cười.

Đại biểu dừng phát biểu trong 10-15 giây, đợi hội trường lắng xuống tiếng

cười, đồng thời quan sát hội trường và hỏi đại biểu bên cạnh để tìm hiểu lý do gây cười (lý do có thể từ bài phát biểu của đại biểu hoặc tình huống bên ngoài mà đại biểu không quan sát được, ví dụ ai đó trong hội trường có hành động gây cười). Sau khi tiếng cười lắng xuống, đại biểu lấy bình tĩnh và tự tin để tiếp tục phát biểu.

b. Giải quyết vấn đề phát sinh trong tranh luận

- Trường hợp Chủ tọa nhắc đại biểu vì một trong các lý do: Vượt quá thời

gian tranh luận, nội dung tranh luận không theo chủ đề.

Đại biểu tiếp thu ý kiến Chủ tọa, nhanh chóng đi tới phần ý kiến chính trong tranh luận.

- Trường hợp đại biểu bị đại biểu khác tranh luận và phê bình, chê trước HĐND

Đại biểu cần giữ bình tĩnh, tìm lý lẽ để tranh luận, trao đổi lại. Việc trao đổi có thể thực hiện ngay tại phiên họp HĐND đó, trao đổi ngoài hành lang (nếu nội dung liên quan tới hai cá nhân) hoặc đợi phiên thảo luận của HĐND tiếp theo để phát biểu ý kiến.

137

CÂU HỎI THẢO LUẬN

1. Phân tích yêu cầu đối với hoạt động thuyết trình của đại biểu HĐND;

những khó khăn mà đại biểu HĐND có thể gặp phải khi thuyết trình? Biện pháp khắc phục? Liên hệ thực tế cá nhân đại biểu HĐND.

2. Phân tích những yêu cầu đối với hoạt động thảo luận, tranh luận của đại

biểu HĐND; những khó khăn mà đại biểu HĐND có thể gặp phải khi thảo luận, tranh luận? Biện pháp khắc phục? Liên hệ thực tế cá nhân đại biểu HĐND.

3. Để chuẩn bị cho thảo luận, tranh luận về Nghị quyết chứa/không chứa

quy phạm pháp luật, đại biểu HĐND cấp tỉnh cần chuẩn bị những nội dung gì?

4. Kinh nghiệm của cá nhân đại biểu HĐND trong thuyết trình, thảo luận,

tranh luận?

138

TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO HỌC VIÊN

1. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

2. Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương (nơi đại biểu HĐND công tác).

3. Lê Thị Bừng, (2014), Phương tiện giao tiếp trong hoạt động quản lý, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.N

4. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ban Công tác đại biểu - Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử (2020), Đại biểu Hội đồng nhân dân, những điều cần biết.

5. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ban Công tác đại biểu, 2021, Kiến thức và kỹ năng cơ bản dành cho đại biểu Hội đồng nhân dân, Hà Nội.

139

Chuyên đề 5

KỸ NĂNG TIẾP XÚC VÀ THAM VẤN Ý KIẾN CỬ TRI,

TIẾP CÔNG DÂN, TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CƠ QUAN BÁO CHÍ

CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH

I. Kỹ năng tiếp xúc và tham vấn ý kiến cử tri

1. Khái quát về tiếp xúc cử tri của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

a. Tiếp xúc cử tri - hoạt động quan trọng của đại biểu Hội đồng nhân dân

Trách nhiệm tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND được quy định cụ thể tại

Điều 94 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019):

"Trách nhiệm tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND:

1. Đại biểu HĐND phải liên hệ chặt chẽ với cử^tri nơi mình thực hiện

nhiệm vụ đại biểu, chịu sự giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc cử tri và ít nhất mỗi năm một lần báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của HĐND nơi mình là đại biểu, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri.

2. Sau mỗi kỳ họp HĐND, đại biểu HĐND có trách nhiệm báo cáo với cử

tri về kết quả của kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của HĐND, vận động và cùng với Nhân dân thực hiện các nghị quyết đó.

Như vậy, hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND được hiểu là việc

đại biểu HĐND thông qua các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tổ chức gặp gỡ cử tri nơi bầu ra mình để thu thập ý kiến, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của cử tri chuyển tải đến HĐND, đồng thời báo cáo với cử tri việc thực hiện nhiệm vụ của người đại biểu.

Tiếp xúc cử tri là một trong những nhiệm vụ quan trọng đối với người đại

biểu, là "cầu nối giúp đại biểu gắn bó mật thiết với cử tri, kịp thời nắm bắt những tâm tư, nguyện vọng chính đáng và các vấn đề bức xúc mà cử tri phản ánh để chuyển đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết; đồng thời, giúp việc ban

140

hành các chủ trương, cơ chế, chính sách của địa phương sát thực tiễn, hợp lòng dân. Làm tốt công tác tiếp xúc cử tri, giải quyết kịp thời các ý kiến, kiến nghị, nguyện vọng chính đáng và những bức xúc của cử tri sẽ góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, đồng thời nâng cao vai trò,

vị trí của người đại biểu, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND cấp tỉnh.

b. Các hình thức tiếp xúc cử tri

Pháp luật hiện nay quy định đại biểu có thể tiếp xúc cử tri bằng nhiều hình thức: Tiếp xúc cử tri thông qua các hội nghị tiếp xúc cử tri do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì tổ chức; tiếp xúc với cử tri nơi công tác, tiếp xúc với cử tri nơi cư trú... Tuy nhiên, thực tế hiện nay việc tiếp xúc cử tri của đại biểu chủ yếu được thực hiện thông qua hội nghị tiếp xúc cử tri do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì tổ chức trước và sau kỳ họp HĐND.

Tiếp xúc cử tri sau kỳ họp là bắt buộc, được quy định trong Luật Tổ chức

chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). Tuy nhiên, để tham gia ý kiến đóng góp tại kỳ họp HĐND, đại biểu còn cần phải tiếp xúc cử tri giữa hai kỳ họp và trước kỳ họp HĐND.

Trước và trong kỳ họp, đại biểu báo cáo với cử tri về tình hình kinh tế - xã

hội của địa phương, thông tin về nội dung, chương trình kỳ họp. Sau kỳ họp, đại

biểu phải báo cáo tóm tắt kết quả kỳ họp, thông báo và giải thích nghị quyết đã được ban hành tại kỳ họp.

Việc tiếp xúc cử tri trước khi diễn ra kỳ họp để lắng nghe ý kiến của cử tri

cần được tổ chức linh hoạt theo các hình thức: tiếp xúc cử tri nơi đại biểu cư trú, tiếp xúc cử tri nơi đại biểu làm việc, tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, xuất phát từ những vấn đề đang được nhân dân quan tâm, những vấn đề địa phương đang gặp nhiều khó khăn vướng mắc, những nội dung cần bàn sâu để có nghị quyết chuyên đề tại kỳ họp (như những vấn đề về phân cấp ngân sách; cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp ngoài nhà nước; công tác cải cách tư pháp; công tác xã hội hoá giáo dục...).

141

Tiếp xúc cử tri theo chuyên đề là hoạt động của đại biểu để tiếp thu ý kiến, kiến nghị góp ý, thảo luận của cử tri đối với các nội dung nghị quyết HĐND cấp

cấp tỉnh sắp ban hành hoặc đã ban hành được chọn để tổ chức tham vấn ý kiến nhân dân theo chương trình xây dựng nghị quyết hoặc chương trình hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh trong năm.

Tiếp xúc theo chuyên đề thì đối tượng cử tri là đồng nhất hơn (thường là

cùng công tác ở một lĩnh vực hoặc cùng làm ở một ngành nghề nhất định) và nhu cầu của buổi tiếp xúc là để đại biểu tìm hiểu thông tin về một vấn đề cụ thể (ví dụ: Tiếp xúc với đại biểu là công nhân ở khu công nghiệp nhằm tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri về chính sách đối với người lao động). Hay trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh COVID-19, Thường trực HĐND cấp tỉnh đã linh hoạt trong việc chỉ đạo tổ chức, thu thập ý kiến, kiến nghị cử tri, theo đó, các Tổ đại biểu HĐND cấp tỉnh, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh có thể lựa chọn hình thức tiếp xúc cử tri phù hợp nhằm hạn chế tập trung đông người, đồng thời, tăng cường sử dụng các phương tiện truyền thông để thông tin đến cử tri kết quả các kỳ họp và thu thập ý kiến cử tri.

Hình thức tiếp xúc cử tri này mang tính chuyên sâu hơn và có hiệu quả

trong việc xây dựng chính sách phù hợp với tình hình thực tiễn.

Như vậy, để hoạt động tiếp xúc cử tri đạt hiệu quả, đại biểu cần chủ động,

tích cực sử dụng nhiều hình thức tiếp xúc cử tri. Thay vì ngồi chờ cử tri tới bày tỏ ý kiến của mình, việc chủ động tiếp xúc cử tri tạo điều kiện cho đại biểu lấy ý kiến đóng góp của người dân nói chung hay của các nhóm cử tri cụ thể chịu tác động của một vấn đề hay một dự thảo văn bản.

Từ góc độ tiếp nhận và truyền đạt thông tin, tiếp xúc cử tri là hoạt động

giao tiếp hai chiều giữa đại biểu và cử tri, diễn ra trong môi trường có tính tương

tác cao giữa người nói và người nghe, trong đó cả đại biểu và cử tri đều có cả hai vai trò, vừa là người nói, vừa là người nghe.

Thứ nhất, nghe cử tri nói

Đại biểu HĐND có nhiều cách để tìm hiểu thực tiễn, thu thập thông tin về

sự vật, hiện tượng trong thực tiễn, như tự mình tìm hiểu, thông qua báo chí...

142

nhưng hình thức hiệu quả nhất là lắng nghe những ý kiến, kiến nghị phản ánh của cử tri và tổng hợp, tiếp thu có chọn lọc những ý kiến đó. Thực tiễn này, giúp

đại biểu thực hiện được nhiệm vụ của mình trong hoạt động thông qua nghị quyết của HĐND và hoạt động giám sát.

Thứ hai, nói cử tri nghe

Đại biểu là người có hiểu biết về pháp luật, nắm vững được nội dung HĐND quyết định tại kỳ họp, là người mà cử tri tin tưởng bầu ra, do đó, đại biểu có trách nhiệm tuyên truyền tới nhân dân chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước và vận động nhân dân thực hiện.

Có nhiều cách thức để chủ động tiếp xúc cử tri như:

- Gặp gỡ định kỳ với các nhóm trong xã hội;

- Tham vấn riêng (các cuộc tiếp xúc với các cá nhân hoặc các nhóm chịu

tác động trực tiếp của một quyết định);

- Các cuộc tiếp xúc cá nhân (các cuộc tiếp xúc để thu thập thông tin và các

bình luận, thường là từ các cơ quan hữu quan, hoặc các chuyên gia khác để có thể hiểu vấn đề rõ hơn);

- Tổ chức tiếp xúc các nhóm cử tri nhỏ tại địa điểm nơi họ sinh sống;

- Các cuộc tiếp xúc với cử tri ngay tại nơi họ làm việc.

2. Các bước tiếp xúc cử tri

a. Chuẩn bị cho buổi tiếp xúc cử tri

Trước khi tiếp xúc cử tri, đại biểu cần có sự chuẩn bị kỹ càng. Điều này không chỉ tạo niềm tin và sự tôn trọng của cử tri đối với đại biểu mà còn là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho hiệu quả của hoạt động tiếp xúc cử tri, tạo tiền đề để đại biểu hoàn thành nhiệm vụ. Do đó, đại biểu cần đầu tư thời gian và công sức để có sự chuẩn bị tốt trước khi diễn ra hoạt động tiếp xúc cử tri với các yêu cầu sau:

- Chủ động, tích cực nghiên cứu các chủ trương, chính sách, pháp luật, cập

nhật kịp thời thông tin về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và của đơn vị bầu cử.

143

- Tìm hiểu, thu thập thông tin đa chiều về những vấn đề bức xúc, nổi cộm tại địa phương, những vấn đề mà đa số cử tri quan tâm. Nắm vững những nội dung cử tri đã kiến nghị ở các kỳ họp trước để trả lời cho cử tri đúng trọng tâm, trọng điểm;

- Chú trọng việc lựa chọn hình thức tiếp xúc, nội dung báo cáo, cách thức

phổ biến đối với cử tri sao cho phù hợp; làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền hoạt động tiếp xúc cử tri để đảm bảo tính công khai, minh bạch và cũng để các tổ chức, nhân dân, cử tri cùng theo dõi giám sát việc thực hiện.

- Nắm vững kế hoạch tiếp xúc cử tri về thời gian, địa điểm, đối tượng tiếp

xúc (trí thức, công dân, nông dân, cử tri khu dân cư ...) để chuẩn bị nội dung tiếp xúc hợp với nhu cầu của cử tri. Ví dụ như tiếp xúc cử tri là nông dân thì mức độ quan tâm tới lĩnh vực thu hút nhân tài của địa phương không bằng lĩnh vực giá nông sản, tiếp xúc cử tri khu dân cư thì đa dạng về đối tượng, đa dạng về

nội dung kiến nghị, nhưng thường xoay quanh các vấn đề của địa phương (xã, phường, thị trấn, tổ dân phố, thôn, làng, ấp, bản, khiếu kiện cá nhân).

- Trên cơ sở các thông tin thu thập được về những vấn đề nổi cộm, bức xúc

tại địa bàn tiếp xúc cử tri, dự liệu những tình huống phức tạp có thể phát sinh và dự kiến mời đại diện các cơ quan hữu quan có thẩm quyền giải quyết đến tham dự tiếp xúc cử tri để hỗ trợ giải tỏa bức xúc của cử tri.

Đại biểu HĐND cấp tỉnh cần lưu ý tới tình hình của cấp huyện, cấp xã, nhất

là các vấn đề nóng, gây bức xúc trong dư luận. Ví dụ: Nếu như ở nơi tiếp xúc đang tiến hành giải phóng mặt bằng để làm công trình công cộng thì đại biểu cần quan tâm tìm hiểu các văn bản về đền bù, giải phóng mặt bằng, các văn bản quy hoạch con đường qua địa phương, tình hình khiếu nại của công dân về đền bù, giải tỏa...

- Thu thập tài liệu phục vụ cho tiếp xúc cử tri

Việc chuẩn bị tài liệu cần căn cứ vào mục đích của buổi tiếp xúc cử tri, đối

tượng cử tri và địa bàn tiếp xúc. Ví dụ như, nếu tiếp xúc cử tri trước kỳ họp, đại biểu cần chuẩn bị về chương trình kỳ họp, các nội dung kỳ họp HĐND sẽ bàn tới, thông qua; thông tin về tình hình kinh tế - xã hội...; nếu tiếp xúc cử tri sau

144

kỳ họp, đại biểu cần chuẩn bị báo cáo kết quả kỳ họp, nội dung các nghị quyết đã được HĐND thông qua, nội dung chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp, kết quả giải quyết các kiến nghị cử tri của các ngành...

- Xây dựng đề cương để báo cáo trước cử tri: sau khi xác định được những

thông tin cần thiết cho cuộc tiếp xúc cử tri, đại biểu phải xây dựng đề cương để đưa thông tin đến cử tri. Việc chuẩn bị đề cương để đại biểu nói trúng, đúng vấn đề cử tri cần nghe, tránh nói tràn lan, chung chung và kéo dài thời gian.

Đại biểu phải tự chuẩn bị để báo cáo ngắn gọn, mất ít thời gian - chuẩn bị thông tin, đề cương, thông điệp chính.

- Liên hệ chặt chẽ với đại diện Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc

Việt Nam - cơ quan chủ trì Hội nghị tiếp xúc cử tri và chính quyền, các đoàn thể tại địa bàn tiếp xúc cử tri để có những thông tin hữu ích phục vụ cho tiếp xúc cử tri;

- Chuẩn bị các yếu tố cá nhân: trang phục phù hợp, phương tiện đi lại (đi

bằng thuyền, đi phương tiện cơ giới, đi bộ...) để bố trí thời gian đi phù hợp, sổ sách ghi chép.

b. Thực hiện buổi tiếp xúc cử tri

Thông thường, buổi tiếp xúc cử tri chính thức do Mặt trận Tổ quốc tổ chức gồm các bước sau:

- Đại diện Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức tiếp

xúc cử tri, nếu là hội nghị tiếp xúc cử tri ở cơ quan thì đại diện Ban Chấp hành

Công đoàn cơ quan chủ trì hội nghị, tuyên bố lý do, giới thiệu thành phần đại biểu, chương trình, nội dung hội nghị và cử thư ký ghi biên bản hội nghị.

- Tùy vào hình thức tiếp xúc cử tri là trước hay sau kỳ họp, tiếp xúc cử tri

nơi cư trú, nơi công tác, tiếp xúc cử tri theo chuyên đề mà đại biểu HĐND lựa chọn để báo cáo với cử tri những vấn đề sau đây: dự kiến chương trình, nội dung kỳ họp (đối với hội nghị tiếp xúc cử tri trước kỳ họp); kết quả kỳ họp và kết quả giải quyết kiến nghị của cử tri (đối với hội nghị tiếp xúc cử tri sau kỳ họp); việc triển khai thực hiện nghị quyết của HĐND về nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương; hoạt động của đại biểu và của HĐND đối với hội nghị tiếp xúc cử tri sau kỳ họp cuối năm.

145

- Cử tri phát biểu ý kiến.

- Đại diện UBND, cơ quan, tổ chức hữu quan phát biểu, trả lời những vấn

đề cử tri nêu lên thuộc thẩm quyền giải quyết của mình.

- Đại biểu HĐND phát biểu, tiếp thu ý kiến, kiến nghị của cử tri.

- Đại diện Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát biểu kết thúc hội nghị, nếu là hội nghị tiếp xúc cử tri ở cơ quan thì đại diện Ban chấp hành Công đoàn cơ quan phát biểu ý kiến kết thúc hội nghị.

Rất ít trường hợp chỉ có một đại biểu tiếp xúc cử tri mà thường là một số

đại biểu tham gia tiếp xúc cử tri, vì vậy, cần có sự phân công trong các đại biểu về việc ai sẽ báo cáo với cử tri, ai sẽ tiếp thu ý kiến cử tri. Đại biểu nào có chức

vụ, có kinh nghiệm thường được phân công tiếp thu ý kiến của cử tri, đại biểu khác được phân công báo cáo vì việc báo cáo đã có chuẩn bị trước bằng văn bản.

Điều quan trọng nhất của đại biểu HĐND khi tiếp xúc cử tri là thể hiện chữ

tâm - tâm với công việc, tâm với cử tri. Cái tâm của đại biểu thể hiện ở sự sốt sắng với công việc chung, sự quan tâm đến đời sống, tâm tư, nguyện vọng của cử tri, coi khó khăn và lo lắng của cử tri như khó khăn và lo lắng của người thân mình, của bản thân mình. Có tâm thì đại biểu mới tìm ra nhiều biện pháp để giúp đỡ cử tri, để chuyển nguyện vọng chính đáng của cử tri thành chính sách.

c. Hoạt động sau khi tiếp xúc cử tri

Đại biểu HĐND cần tổng hợp hợp kiến nghị của cử tri. Ý kiến, kiến nghị

của cử tri ở địa phương phần lớn mang tính đơn lẻ, hoặc vụ việc, vì vậy, khi đại biểu tiếp xúc ở nhiều điểm trên địa bàn, cần tổng hợp các ý kiến đơn lẻ để đi tới cái tổng thể, khái quát. Tuy nhiên, cũng có thể có trường hợp chỉ có một ý kiến đơn lẻ nhưng lại quan trọng thì đại biểu cần nắm bắt và phản ánh kịp thời tới cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giải quyết.

Nếu đại biểu chỉ dừng ở việc tiếp xúc với cử tri thì chưa thực sự hoàn thành

nhiệm vụ của người đại biểu, qua cuộc tiếp xúc cử tri, đại biểu phải đưa được tiếng nói của cử tri tới diễn đàn HĐND, đưa được ý kiến cử tri vào trong nghị quyết của HĐND. Đại biểu phải thực sự quan tâm tới đời sống nhân dân, tới mong muốn của cử tri, phải trăn trở với đời sống của nhân dân, từ đó tìm ra biện

146

pháp, giải pháp giúp đỡ cử tri. Đại biểu cần phải theo đuổi kiến nghị của mình đến cùng để các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giải quyết.

3. Một số lưu ý trong quá trình tiếp xúc cử tri

a. Một số lưu ý khi trình bày nội dung

Trình bày nội dung là nội dung chính khi đại biểu tiếp xúc cử tri. Trình bày

nội dung thể hiện qua tiếng nói, cách nói, truyền đạt, nêu ý kiến, trình bày nhận

thức, quan điểm... của đại biểu, có tác động rất mạnh đến cử tri. Do đó, khi tiếp xúc cử tri cần chú ý:

Một là, chuẩn bị kỹ, tốt trước khi tiếp xúc. Chuẩn bị những nội dung chính,

quan trọng nhất mà mình trình bày thông qua một bản đề cương (để nói tóm tắt),

không nên đọc một bài đã chuẩn bị sẵn; đồng thời dự kiến những vấn đề khi cử tri có thể hỏi để có ý kiến trao đổi. Nếu không chuẩn bị tốt, nhất là những người mới hoặc ít tiếp xúc với công chúng dễ "mất điểm" trước cử tri.

Hai là, nội dung trình bày có trọng tâm, đi thẳng vào những vấn đề thiết

thực có liên quan đến địa phương, những vấn đề cử tri quan tâm để phổ biến sâu, giải thích cho cử tri hiểu. Nên nói những vấn đề mà mình biết, hiểu sâu, có kiến thức, kinh nghiệm. Trong tiếp xúc cử tri cần chú ý lắng nghe và trao đổi, giải

thích những điều cần thiết và nắm vững; không nên nói, trao đổi những vấn đề
mình còn mơ hồ, thiếu thông tin hoặc không thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình.
Ba là, có phương pháp trình bày khoa học, thuyết phục. Các vấn đề trình
bày cần rõ ràng, ngắn gọn, theo trình tự hợp lý; sử dụng ngôn ngữ phổ thông, dễ hiểu, phù hợp với đối tượng tiếp xúc cử tri, với với nhận thức của người nghe, với hoàn cảnh cụ thể của cuộc tiếp xúc và phù hợp với địa phương nơi tiếp xúc. Nếu là vùng dân tộc thiểu số mà hiểu, nói thông thạo tiếng địa phương thì nên trình bày bằng tiếng nói của họ. Âm lượng vừa phải, rõ tiếng, diễn đạt truyền cảm, thu hút; khắc phục nói ngọng, nói nhịu... Kết hợp được "ngôn ngữ cơ thể" (ánh mắt, nhún vai, động tác tay phụ họa cho lời nói...) trong quá trình diễn đạt càng thu hút người nghe. Trình bày ngắn gọn, ngôn ngữ sử dụng dễ hiểu, thái độ nghiêm túc, tôn trọng cử tri.
147

b. Một số lưu ý khi tiếp thu, nghe cử tri nói

Tuỳ tính phức tạp của vấn đề, trình độ nhận thức, tâm trạng, khả năng và

thói quen diễn đạt của mỗi người mà cử tri có những cách phát biểu khác nhau, không phải lúc nào cũng mạch lạc, súc tích, dễ hiểu. Đại biểu cần lắng nghe để hiểu rõ vấn đề và đánh giá được tình cảm cử tri gửi gắm trong ý kiến của mình. Không nên ngắt lời, chỉnh sửa hay tỏ ra khó chịu về cách nói của cử tri. Cũng không nên nói dài hoặc độc thoại suốt buổi tiếp xúc. Khi cần, đại biểu nên hỏi lại cử tri để hiểu rõ ý kiến của họ.

Đại biểu thể hiện sự tập trung vào cử tri khi cử tri phát biểu bằng ngôn ngữ,

bằng cử chỉ, hành động (gật đầu, ánh mắt chăm chú, ghi chép, tư thế ngồi ...). Việc thể hiện sự chú ý lắng nghe rất quan trọng vì tạo mối liên hệ thân thiết giữa đại biểu và cử tri, khuyến khích được cử tri phát biểu, đồng thời không tạo ra cảm giác cử tri bị coi thường dễ dẫn tới phản ứng tiêu cực của cử tri.

Đại biểu nên chú ý nghe, ghi chép đầy đủ, tổng hợp ý kiến của cử tri để

theo dõi, phân loại, xử lý. Nghe để hiểu ý của cử tri, nhất là khi cử tri diễn đạt chưa đầy đủ, logic... Đại biểu có thể biểu cảm bằng cử chỉ phù hợp để khích lệ cử tri trình bày vấn đề một cách thẳng thắn, chân thành nhưng đúng mực.

Đại biểu có thể khuyến khích, gợi mở, động viên cử tri bày tỏ ý kiến bằng

các kỹ thuật đặt câu hỏi như:

- Câu hỏi đóng: để định hướng cử tri đưa câu trả lời ngắn gọn, cụ thể, chi tiết: Ở đâu? Khi nào? Vấn đề gì?

- Câu hỏi mở: Gợi ý để cử tri chia sẻ, cung cấp thông tin, bày tỏ quan điểm

hoặc giải thích rõ hơn vấn đề: "Đề nghị cho biết rõ hơn về....", "Xin hãy mô tả

về...", "Vụ việc đã diễn ra như thế nào?"... => cử tri cảm thấy được tôn trọng, động viên.

Việc ghi chép cũng rất cần thiết, giúp đại biểu có tư liệu khi phát biểu tại

kỳ họp HĐND, trả lời ngay tại cuộc họp cử tri đầy đủ nội dung cử tri phản ánh; tổng hợp ý kiến cử tri để phản ánh tới cơ quan, tổ chức hữu quan.

c. Một số lưu ý khi phân loại ý kiến, kiến nghị của cử tri

148

Trong các cuộc tiếp xúc cử tri, thông thường cử tri nêu 02 dạng ý kiến: (i) Ý kiến đóng góp cho chương trình nghị sự của kỳ họp - những ý kiến này không

nhiều; (ii) Nêu ý kiến, kiến nghị và nguyện vọng liên quan trực tiếp thi hành chính sách, pháp luật ở địa phương, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Đại biểu cần phân loại ý kiến, kiến nghị của cử tri để chuyển đến cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết.

Đại biểu và Tổ đại biểu sau khi tổng hợp chung, phân loại ý kiến gửi đến Thường trực HĐND tổng hợp và chuyển đến UBND xem xét, giải quyết. Sau khi có ý kiến trả lời của UBND hoặc các cơ quan liên quan khác, Tổ đại biểu và đại biểu cần theo dõi, tổng hợp kịp thời và gửi ý kiến phản hồi cho cử tri. Nếu làm được như vậy ý kiến của cử tri sẽ được xem xét và trả lời trực tiếp hoặc bằng văn bản.

d. Một số lưu ý khi trao đổi với cử tri tại buổi Tiếp xúc cử tri

- Đại biểu trao đổi với cử tri xung quanh những nội dung cử tri kiến nghị, tiếp thu những ý kiến chính đáng, phù hợp, đồng thời giải thích cho cử tri những chủ trương, những khó khăn, những điều kiện thực tế của địa phương trong việc đáp ứng nguyện vọng của cử tri.

- Đại biểu cần có chính kiến, thái độ rõ ràng nhưng cần khéo léo xử lý xung

đột phát sinh (nếu có) giữa các cử tri hoặc giữa cử tri với đại diện UBND, đại diện các Sở, ngành tham gia Hội nghị tiếp xúc cử tri. Trong thực tế tiếp xúc cử tri, có những trường hợp cử tri không nêu ý kiến mà trực tiếp gửi đơn thư khiếu nại, tố cáo đến đại biểu HĐND. Trong tình huống này, thời gian tiếp xúc cử tri không nhiều nên đại biểu không thể giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo ngay tại buổi tiếp xúc cử tri mà cần thiết phải có trách nhiệm giải thích cho cử tri hiểu, tạo sự đồng thuận. Sau đó bố trí thời gian hợp lý tiếp công dân để lắng nghe những kiến nghị, bức xúc của họ để giảm tải những vấn đề "nóng" về khiếu nại, tố cáo tại điểm tiếp xúc cử tri.

đ. Một số lưu ý về giao tiếp, ứng xử với cử tri

149

Kỹ năng tiếp xúc cử tri thể hiện đậm nét dấu ấn cá nhân của đại biểu trên nhiều phương diện: thái độ, phong cách, trình độ, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực giao tiếp, ứng xử... Tính chất đặc biệt của hoạt động tiếp xúc cử tri thể

hiện ở chỗ đây là hoạt động giao tiếp giữa cử tri(người gửi gắm sự tín nhiệm) với đại biểu (người được tín nhiệm). Do đó, người đại biểu phải có kỹ năng để tạo ra môi trường giao tiếp cởi mở, gần gũi trên cơ sở ý thức gắn bó, chia sẻ. Cử tri sẽ đánh giá về đại biểu từ những chi tiết nhỏ nhất như trang phục, trang điểm, cách đi đứng, cách trình bày vấn đề cho đến những vấn đề lớn như trình độ, năng lực đại diện. Do đó, sẽ là sai lầm nếu quan niệm hoạt động tiếp

xúc cử tri là hoạt động "đến hẹn lại lên", chỉ cần thực hiện theo kế hoạch, đại biểu đến chỉ cần đọc báo cáo đã chuẩn bị sẵn và cầu thị ngồi nghe, ghi chép ý kiến phát biểu của cử tri.

Khi thực hiện các hoạt động tiếp xúc cử tri, các đại biểu cần tuân thủ nguyên tắc 4T, đó là: Tươm tất - Thân thiện - Thời gian - Trí tuệ.

Đại biểu cần chú ý tới trang phục nghiêm túc, lịch sự, đầu tóc gọn gàng,

không mặc cẩu thả hay quá cầu kỳ, phù hợp với các nhóm đối tượng cử tri, phù khoảng cách giữa đại biểu và cử tri và thể hiện sự tôn trọng cử tri. Ví dụ: khi hợp với mức sống và phong tục, tập quán địa bàn ứng cử để không nên tạo tiếp xúc với cử tri là cán bộ ở các cơ quan, tổ chức hay khu vực đô thị, có thể sử dụng trang phục công sở, nhưng khi tiếp xúc với cử tri là người lao động hay ở khu vực nông thôn lại cần trang phục giản dị hơn. Với đại biểu nữ, trang phục kín đáo nhưng vẫn thể hiện được vẻ đẹp người phụ nữ, không nên dùng son môi, kẻ mắt quá đậm.

Đại biểu thân thiện, cởi mở với cử tri, từ chuẩn bị một gương mặt tươi vui,

mắt luôn nhìn thẳng, chân thành, thân thiện, quan tâm. Cách cư xử không quá hạ thấp vai trò người đại biểu, đại diện cho dân nhưng cũng không quan cách, xa rời dân.

Từ cách xưng hô đến cách trình bày ý kiến, giải thích vấn đề, đại biểu cần thể hiện được sự trân trọng đối với cử tri. Gặp những vấn đề bức xúc, cử tri có thể to tiếng, gay gắt. Đại biểu thông cảm với cử tri, luôn luôn giữ thái độ bình

150

tĩnh, đúng mực và tìm cách hạ nhiệt cho cử tri. Tránh áp đặt ý kiến hoặc tranh cãi với cử tri.

Đại biểu cần thể hiện có một tác phong nhanh nhẹn, hoạt bát, gần gũi, cởi

mở, không quá suồng sã, cũng không quá lạnh nhạt. Những cái bắt tay, chào hỏi

cũng cần chú ý "tay bắt mặt mừng", không siết tay quá chặt cũng không quá lỏng lẻo và chú ý dành cái nhìn thân thiện, vui mừng với người bắt tay, hỏi thăm xã giao.

Tiếp xúc với cử tri, dù trong hội nghị hay trong cuộc gặp riêng, với người dân bình thường hay với chuyên gia, đại biểu cũng cần khiêm tốn học hỏi. Nếu

có những vấn đề chưa biết, chưa hiểu, đại biểu hãy thành thực hỏi cử tri để hiểu cho đúng, cho tường tận.

Đại biểu lưu ý tới một số hành động KHÔNG: mím môi, nhắm mắt, chỉ trỏ,

đút tay túi quần, khoanh tay trước ngực; điện thoại (nghe điện thoại, nhắn tin, đọc báo, vào facebook trên điện thoại); nói đều đều dễ làm người nghe không tập trung, nói quá nhanh hay quá chậm; chỉ nhìn giấy đọc; hướng ánh mắt tới một cá nhân cụ thể, nhìn trần nhà.

Đại biểu cần đến dự tiếp xúc cử tri đúng giờ và tốt nhất là nên đến sớm hơn

để chuyện trò, trao đổi với cử tri để xây dựng mối quan hệ thân thiện, gần gũi với cử tri, đồng thời hiểu thêm tình hình của địa phương, nhất là vấn đề nóng. Trong quá trình tiếp xúc cần lưu ý đến thời gian, đại biểu tránh phát biểu dài làm mất nhiều thời gian của buổi tiếp xúc, làm cho cử tri không còn thời gian phát biểu. Việc kết thúc đúng giờ hay kéo dài hơn còn tùy thuộc vào buổi tiếp xúc cử tri, nói chung là nên kết thúc đúng giờ đã quy định, trường hợp cử tri bức xúc muốn trao đổi thêm thì đại biểu cần kéo dài thời gian hơn.

Trong một số cuộc tiếp xúc, cử tri nêu khó khăn ở địa phương mình, đề

nghị chính quyền đầu tư nhiều hơn, vì vậy, đại biểu cần lưu ý việc của cấp nào thì đề nghị đại diện chính quyền cấp đó trả lời; tiếp thu, ghi nhận để kiến nghị các cơ quan thực hiện, điều gì khó có thể đáp ứng thì cần trình bày để cử tri hiểu; việc gì làm được thì mới hứa, cam kết; đã hứa thì phải cố gắng thực hiện. Biết cách tránh trả lời trực diện những câu hỏi ít mang tính xây dựng. Có những

151

câu hỏi, nếu đại biểu trả lời trực diện dù cách này hay cách khác đều ít mang lại hiệu quả, có tác dụng tiêu cực, do vậy, cần có cách trả lời thông minh sao cho người nghe vẫn thấy hài lòng. Việc gì đại biểu biết thì trả lời, nếu không biết thì

ghi nhận và hẹn sẽ trả lời sau; việc gì của địa phương thì yêu cầu lãnh đạo địa phương trình bày, trả lời cử tri.

4. Tham vấn ý kiến cử tri

a. Khái niệm, mục đích tham vấn ý kiến cử tri

Tham vấn ý kiến cử tri là hoạt động của đại biểu HĐND nhằm thông báo,

hỏi và lắng nghe, thảo luận với những người chịu ảnh hưởng bởi một quyết định, một giải pháp nào đó hoặc những người có liên quan, có quan tâm đến chính sách, giải pháp sắp được ban hành hoặc đã được ban hành. Thông qua đó, các nhóm người trong xã hội có cơ hội để bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình, tạo điều kiện để HĐND ra quyết định có cơ sở xem xét và cân nhắc trước khi quyết định ban hành hoặc sửa đổi chính sách.

Tham vấn tập trung vào việc thu thập và cung cấp đầy đủ những thông tin

cần thiết cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ ra quyết định về chính sách và pháp luật có thể lựa chọn việc nên làm và việc không nên làm. Chính vì vậy, tùy theo mục đích của tham vấn và đối tượng tham vấn, HĐND cần xác định rõ nội dung tham vấn phù hợp... Điều cần hỏi người dân là chính sách sẽ hoặc đã tác động ra sao đến lợi ích của họ. Do đó, cần phải lựa chọn các vấn đề thiết thực, liên quan trực tiếp tới quyền lợi, nghĩa vụ của người dân hoặc của cơ quan, tổ chức để tham vấn hoặc những vấn đề có tính chất chính sách, liên quan đến những lợi ích điển hình của từng nhóm, từng giới hoặc lợi ích chung.

Tham vấn cử tri cần phải đạt tới các mục đích sau đây:

- Thu thập và lựa chọn các ý kiến hay, những đóng góp có tính chất hiến kế

của cử tri;

- Nghe ý kiến của cử tri phản hồi về tác động của chính sách và khả năng

chấp hành chính sách trong thực tế;

- Đánh giá mức độ đạt được mục đích của chính sách khi thi hành;

152

- Có thông tin phục vụ xây dựng chính sách phù hợp thực tiễn, bền vững, đáp ứng được các quyền lợi, nhu cầu và mong muốn của người dân; đảm bảo các ý kiến của cử tri đều được phản ánh trong pháp luật và chính sách;

- Tạo sự đồng thuận và chấp hành chính sách tốt hơn;

- Tạo sự chuyển biến về ý thức của cử tri trong việc tham gia quản lý nhà

nước và xã hội.

b. Vai trò của tham vấn ý kiến cử tri

Các hoạt động tham vấn công chúng nói chung và tham vấn ý kiến cử tri

nói riêng có ý nghĩa then chốt đối với việc ban hành chính sách và giám sát thực hiện chính sách.

Một là, sự tham gia của cử tri góp phần rất lớn trong việc nhận ra các vấn

đề trong xã hội, mang lại nhiều phương án về chính sách hơn cho sự lựa chọn, tạo cơ sở để xây dựng chính sách, pháp luật có tính thực tiễn, khả thi cao. Sự tham gia này cũng chứng tỏ quyền của người dân được lắng nghe và quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước phải công khai và có trách nhiệm. Đồng thời, tham vấn sẽ làm cho chính quyền quan tâm hơn đến nhu cầu, lợi ích của cử tri. Khi dự thảo các chính sách, chính quyền sẽ phải chuẩn bị kỹ lưỡng, thận trọng, tính toán tới quyền, lợi ích của người dân.

Hai là, tham vấn là nguồn thu thập thông tin kiểm chứng, bổ khuyết việc

thiết kế chính sách, giám sát việc thực thi chính sách ở các giai đoạn. Từ đó, các cơ quan dân cử có thêm nhiều căn cứ, lý lẽ và thông tin hơn từ cử tri, từ xã hội trước khi quyết định các chính sách và giám sát hoạt động của UBND. Tham vấn giúp cho chính sách sát gần với thực tiễn hơn, đồng thời, nâng chính sách lên tầm nhìn cao hơn, rộng hơn, bao quát hơn.

Ba là, tham vấn tạo điều kiện cho HĐND và UBND hợp tác sớm lúc xây

dựng chính sách. Trên thực tế đã thấy, họp HĐND sẽ bớt "nóng" vì đã có giải pháp được tìm ra trong khi tham vấn; có đủ thời gian hiệu chỉnh dự thảo; UBND được giải trình, HĐND nghe, chứng kiến, bàn và quyết.

Bốn là, tham vấn giúp cho việc lựa chọn chính sách, quyết định ban hành

chính sách được minh bạch hơn; tạo cho người dân và kể cả các cơ quan chính

153

quyền hiểu rõ hơn về chính sách sẽ được ban hành, tạo sự ủng hộ đối với chính

sách, pháp luật sau khi được ban hành, thúc đẩy dự tuân thủ trong việc thực thi pháp luật.

c. Các hình thức tham vấn cử tri

Pháp luật đã có quy định về tham vấn nhân dân được thực hiện thông qua

tổ chức lấy ý kiến người dân đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, các quyết định, chương trình, đề án tác động trực tiếp đến nguời dân

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (được sửa đổi, bổ

sung năm 2020) quy định: Dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh do UBND cùng cấp trình; UBND căn cứ vào tính chất và nội dung tổ chức lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản nghị quyết. Hoạt động này thể hiện không chỉ là việc cơ quan nhà nước gửi văn bản hay tổ chức các hoạt động thông tin mà cần cả cơ chế tiếp nhận, tiếp thu và giải trình tiếp thu ý kiến.

Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 quy định

những vấn đề phải được người dân cấp cơ sở bàn, tham gia khi chính quyền

quyết định. Bên cạnh đó, nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật, để có quy trình, thủ tục chi tiết hơn, một số HĐND tỉnh/thành đã ban hành riêng Nghị quyết của HĐND về hoạt động tham vấn, hoặc Quy chế phối hợp hoạt động giữa HĐND với Đoàn Đại biểu quốc hội tỉnh, UBND, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Tổ chức tham vấn ý kiến cử tri có thể được thực hiện theo các hình thức như:

- Hội nghị tham vấn tại địa bàn rộng;

- Thảo luận nhóm nhỏ theo trọng tâm;

- Họp các hộ dân một khu dân cư;

- Khảo sát thực địa, thị sát;

- Phỏng vân sâu từng cá nhân.;

- Tiếp nhận ý kiến qua báo chí, Internet, các phương tiện liên lạc;

- Tọa đàm với các nhóm đối tượng hẹp;

- Điều tra dư luận xã hội; phát phiếu hỏi;

154

b. Quy trình tham vấn cử tri

Bước 1: Lựa chọn nội dung và các vấn đề trọng tâm cần tham vấn

Các nội dung chính sách, các vấn đề của cuộc sống cần đưa vào chương

trình nghị sự rất nhiều, trong khi đó các nguồn lực của HĐND có hạn. Chính vì vậy, trước hết cần biết sắp xếp ưu tiên, lựa chọn chính sách và xác định các vấn đề trọng tâm cần tham vấn. Nội dung được lựa chọn để tiến hành tham vấn thường liên quan đến chính sách kinh tế - xã hội mà HĐND cần thẩm tra, giám sát, quyết định theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Việc chọn nội dung đưa ra tham vấn thường dựa vào các căn cứ sau đây:

- Phù hợp với thẩm quyền quyết định của HĐND cấp tỉnh;

- Chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND cấp tỉnh; kế hoạch giám sát

của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban;

- Nội dung nằm trong kế hoạch phối hợp giữa HĐND với UBND;

- Nội dung tham vấn tác động trực tiếp đến lợi ích, đời sống của người dân;

- Phù hợp với khả năng tổ chức thực hiện;

- Nội dung gây bức xúc rộng rãi trong cộng đồng hoặc cản trở việc thực thi

pháp luật;

- Nội dung đặc thù của một số ngành và địa phương nhưng chưa được quan

tâm đúng mức khi quyết định chính sách;

- Những nội dung mới; chưa có thông lệ cần tham vấn ý kiến cử tri và

nghiên cứu kinh nghiệm nơi khác, kể cả nước ngoài.

Nội dung trọng tâm để tham vấn thường tập trung vào những tác động của

chính sách trên các lĩnh vực khác nhau:

- Về kinh tế: chính sách có tác động về kinh tế hay không, ví dụ có thể góp

phần vào tăng trưởng GDP; xuất nhập khẩu; thu NSNN không.

- Về văn hoá - xã hội: Chính sách đó có thể cải thiện đời sống nhân dân

không; giải quyết việc làm; đảm bảo công bằng; phúc lợi xã hội, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.

- Về môi trường, sinh thái: Chính sách đó có bảo vệ môi trường; hệ sinh

thái đặc thù; tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo chất lượng sống.

155

- Tính toán chi phí - lợi ích: Chi phí của bộ máy nhà nước để tổ chức thực hiện chính sách; chi phí của doanh nghiệp và của dân cư để thực thi quyền lợi và nghĩa vụ của mình v.v...

- Tác động đến các chính sách kinh tế - xã hội khác: Chính sách đó có ảnh

hưởng, tác động đến các chính sách liên quan như thế nào.

Sau khi HĐND đã chọn nội dung cần tham vấn (ví dụ, xóa đói giảm

nghèo), tiếp theo cần xác định đúng và trúng các vấn đề trọng tâm thuộc nội dung đó (ví dụ, sự công bằng trong hỗ trợ các hộ nghèo). Chỉ khi xác định được các vấn đề này, việc thu thập, xử lý thông tin sau đó mới chính xác, đầy đủ, việc ban hành chính sách mới giải quyết được vấn đề đang tồn tại.

Bước 2: Lập kế hoạch tham vấn

Lập kế hoạch tham vấn là xây dựng kịch bản/phương án chung và chi tiết

cho các hoạt động tham vấn với những hình thức; nguồn lực; bước đi thích hợp.

Lập kế hoạch tham vấn bao gồm cả kế hoạch chung và kế hoạch chi tiết

cho từng hoạt động cụ thể. Kế hoạch chung là kế hoạch cho toàn bộ quá trình tham vấn về nội dung chính sách đã lựa chọn. Từ kế hoạch chung, các kế hoạch chi tiết được soạn thảo gồm kế hoạch tập huấn, kế hoạch truyền thông, kế hoạch thực hiện từng công cụ tham vấn đã chọn, kế hoạch tổng kết quá trình tham vẫn.

Nội dung của kế hoạch tham vấn bao gồm: Xác định chủ đề và mục đích

tham vấn; làm rõ danh sách các đối tượng cần tham vấn; xác định cơ quan/người chủ trì thực hiện và lực lượng phối hợp; các hình thức tham vấn được lựa chọn; các bước tiến hành; hoạt động truyền thông để triển khai kế hoạch tham vấn; thời gian khởi đầu, kết thúc và các bước thực hiện; nguồn lực huy động phục vụ tham vấn: nhân lực, phương tiện, kinh phí...; kết quả dự kiến đạt được.

Bước 3: Tiến hành tham vấn

Việc tiến hành tham vấn chủ yếu dựa trên kế hoạch đã được xây dựng và

phê duyệt, nhưng có sự điều chỉnh khi cần thiết. Trong khi tiến hành tham vấn, cần chú ý một số vấn đề sau đây:

- Điều phối, phối hợp các hoạt động tham vấn

Việc điều phối, tổ chức sự phối hợp trong quá trình thực hiện kế hoạch tham

156

vấn được thể hiện qua việc lựa chọn mô hình tổ chức chỉ đạo, điều hành; bố trí lực

lượng đảm nhiệm các hoạt động tham vấn; xây dựng và thực hiện quy chế làm

việc trong phạm vi từng tổ chức và mối quan hệ với các lực lượng phối hợp.

- Điều hành hội nghị; ghi chép thông tin trong khi tham vấn

Điều hành hội nghị, cuộc họp của đại biểu là kỹ năng không thể thiếu của

đại biểu HĐND, từ kiểm tra công tác chuẩn bị; rà soát các thủ tục; phân công

điều hành và công tác phục vụ v.v... nhằm đảm bảo đạt mục đích, yêu cầu đề ra.

- Tiến hành truyền thông trong quá trình tham vấn

Kỹ năng truyền thông là kỹ năng phổ biến, truyền đạt thông tin, thiết lập

kênh thông tin hai chiều giữa cơ quan và đại biểu dân cử với các đối tượng tham

vấn và các bên liên quan trong quá trình triển khai các hoạt động tham vấn theo

kế hoạch đã định.

Bước 4: Thông tin và phản hồi

- Thu nhận thông tin

Sau khi tiến hành tham vấn, đại biểu HĐND thu nhận các thông tin khác

nhau liên quan đến nội dung cần tham vấn. Lúc này, đại biểu HĐND sẽ phải xử

lý, phân tích thông tin; chuyển tải thông tin thành báo cáo tham vấn; phản hồi

@

các bên liên quan về các nội dung chính sách.

Đại biểu HĐND cần thông tin kết hợp những yếu tố sau: những khía cạnh

cụ thể của chính sách (cần làm những gì?), những hệ quả của nó (ai sẽ được lợi,

ai sẽ chịu thiệt) và viễn cảnh thực hiện chính sách (những cơ hội nào? thách thức

nào?). Đối với những lĩnh vực không chuyên, các đại biểu cần đến loại thông tin

kết hợp được cả sự đánh giá tầm quan trọng của vấn đề, cả nội dung của nó,

phạm vi phổ biến và mối quan hệ với những vấn đề khác. Kiến thức tiết kiệm

thời gian, công sức cho đại biểu là loại kiến thức trả lời trực tiếp vào câu hỏi

"có" hay "không" khi biểu quyết.

- Tổng hợp thông tin

Sau các hoạt động tham vấn tại cơ sở, đại biểu, các nhóm công tác cần tổng

hợp, xử lý các thông tin và thực hiện báo cáo theo địa bàn và nội dung tham vấn.

Cách xử lý thông tin theo hướng: tất cả các thông tin được thu thập, tổng hợp đầy

157

đủ theo đối tượng, công cụ và nội dung tham vấn; sau đó xem xét đánh giá thông tin khách quan, chủ quan; thông tin chủ yếu, mức độ quan trọng; làm rõ hơn những thông tin về cơ sở pháp lý, về mức độ chuẩn xác... Thông tin được tổng hợp từ một đơn vị phân tích nhỏ lên một đơn vị phân tích lớn hơn. Ví dụ, tập hợp các phỏng vấn cá nhân để xây dựng nên một bức tranh tổng thể hoặc tập hợp các thông tin của thôn bản để phân tích bức tranh của cả huyện; tổng hợp các dữ liệu từ các Hội nghị, khảo sát, phiếu hỏi để có thông tin của cả quá trình tham vấn.

- Phân tích thông tin

Đối với các thông tin thu thập, tổng hợp được trong quá trình tham vấn, đại

biểu HĐND phải tiếp tục phân tích, sàng lọc được thông tin hữu ích, chuẩn xác

qua đó nắm được mấu chốt của vấn đề. Để phân tích thông tin, cần sàng lọc những thông tin nhận được dựa trên tính chất của thông tin mà HĐND cần đến;

xác minh, kiểm chứng lại các dữ liệu, phân tích thông tin định tính và định lượng.

- Tham gia xây dựng báo cáo tham vấn

Sau khi thu thập, tổng hợp, phân tích thông tin, khâu tiếp theo là xây dựng báo cáo kết quả tham vấn.

Thông tin thu thập được từ quá trình tham vấn, sau khi đã được phân tích,

thể hiện trong các dạng báo cáo và các tài liệu kèm theo, được gửi đến HĐND và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.

- Phản hồi

HĐND cần phản hồi về kết quả tham vấn cho các nhóm người khác nhau, vì

đây là cuộc đối thoại hai chiều, dòng chảy thông tin diễn ra hai chiều. Các cơ quan ban hành chính sách có quyền không làm theo ý kiến cử tri. Tuy nhiên, cần phải giải thích rõ tại sao có, tại sao không tiếp thu các ý kiến đóng góp của nhân dân.

Thông qua sự phản hồi, HĐND thể hiện cho người dân thái độ trân trọng,

cho người dân thấy rằng, những vấn đề mà người dân nêu ra thực sự cần thiết cho việc ra quyết sách; nếu không, người dân sẽ không còn hứng thú tham gia lần sau. Thông qua sự phản hồi, HĐND cho thấy mình đã cam kết. Những việc làm trên thực tế sau khi cuộc tham vấn diễn ra mới là yếu tố dẫn đến sự thành công của tương tác. Người dân biết rõ hơn về những việc HĐND đã làm qua sự

158

phản hồi đó.

Nội dung cần phản hồi gồm: tóm tắt quá trình tham vấn (nội dung chính

sách đã được tham vấn, thời gian, các hoạt động chính, các nhóm đối tượng đã

tham vấn, các nhóm ý kiến đã thu nhận); nêu bật việc sử dụng thông tin từ tham

vấn phục vụ HĐND và các đại biểu HĐND quyết định hoặc giám sát thực thi

chính sách. Văn bản này cũng cần ghi nhận sự đóng góp quý báu của các nhóm

đối tượng đối với chu trình chính sách của HĐND, kêu gọi sự tham gia trong

những lần sau. Nếu có phản hồi cho cá nhân hoặc tổ chức riêng lẻ, tùy theo từng

trường hợp, cần giải thích về việc tiếp thu ý kiến đóng góp một cách rõ ràng, cụ

thể đã tiếp thu như thế nào, tại sao có, tại sao không, ghi nhận sự đóng góp và

kêu gọi sự tham gia lần sau.

Báo cáo tổng kết tham vấn của Thường trực HĐND là một trong những căn

cứ để chỉ đạo việc nghiên cứu tiếp thu và phản hồi ý kiến tới những người được

tham vấn và cử tri. Báo cáo này nên được gửi đến các cơ quan, đoàn thể, một số

cá nhân liên quan. Bên cạnh đó, Thường trực HĐND cần chỉ đạo Văn phòng

Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND soạn thông cáo báo chí khoảng 1 - 2 trang về

kết quả tham vấn, việc tiếp thu các ý kiến góp ý. Thường trực HĐND tỉnh/thành

phố quyết định nội dung phản hồi ý kiến qua tham vấn về những ý kiến đã được

nghiên cứu để tiếp thu, những ý kiến không được tiếp thu, lý do không tiếp thu.

II. Kỹ năng tiếp công dân

1. Khái quát về tiếp công dân của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

a. Khái niệm tiếp công dân của đại biểu Hội đồng nhân dân

Điều 2, Luật Tiếp công dân năm 2013 quy định: "Tiếp công dân là việc cơ

quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân theo quy định của pháp luật tiếp công dân có

trách nhiệm tiếp công dân để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,

phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện

khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật".

Điều 4, Luật Tiếp công dân năm 2013 quy định các cơ quan, tổ chức, cá

nhân trách nhiệm tiếp công dân: Chính phủ; Bộ, cơ quan ngang bộ; tổng cục và

tổ chức tương đương; cục; UBND các cấp; Cơ quan chuyên môn thuộc UBND

159

tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Các cơ quan của Quốc hội; HĐND

các cấp; Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán nhà nước; Đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp. Đối với các cơ quan, tổ chức: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan thuộc Chính phủ, đơn vị sự nghiệp công lập tổ chức việc tiếp công dân phù hợp với yêu cầu, quy mô, tính chất hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình.

Tiếp công dân của đại biểu HĐND là việc đại biểu HĐND đón tiếp để lắng

nghe, thu thập ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của công dân; giải thích, tuyên truyền chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho công dân; hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và nhận đơn thư của công dân để chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

Hoạt động tiếp công dân của đại biểu HĐND và tiếp xúc cử tri có những điểm giống và khác nhau.

Tiếp xúc cử tri và tiếp công dân đều nhằm thu thập ý kiến, nguyện vọng,

kiến nghị của công dân, nhưng cách thức tổ chức khác nhau, mục đích khác nhau. Nếu như tiếp xúc cử tri là đại biểu tìm đến dân (xuống đến tận địa bàn, mời cử tri đến dự) thì tiếp công dân là người dân tìm đến đại biểu (đại biểu có địa điểm tiếp công dân để những người dân có nhu cầu tìm gặp). Tiếp xúc cử tri

là thu thập ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri chủ yếu về nội dung, chương trình sẽ thông qua tại kỳ họp HĐND (nhưng thực tế thì cử tri phát biểu cả những vấn đề không liên quan đến kỳ họp, những vấn đề dân sinh ở địa phương), tiếp công dân là lắng nghe mọi ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri.

Mục đích chung của công tác tiếp công dân là:

- Tiếp nhận và xử lý kịp thời khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; giúp

các cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền có thông tin phản hồi về những vấn đề liên quan đến chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật và công tác quản

160

lý nhà nước để nghiên cứu, tiếp thu, xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Hướng dẫn công dân thực hiện việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh

theo quy định của pháp luật; tuyên truyền, giải thích để công dân thực hiện đúng chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật.

- Củng cố và tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.

Bên cạnh đó, với mỗi hệ thống cơ quan khác nhau, với chức năng, nhiệm

vụ riêng có, mục đích tiếp công dân cũng có sự khác biệt. Đối với cơ quan

quyền lực nhà nước: Quốc hội, HĐND các cấp, tiếp công dân nhằm mục đích tăng cường vai trò giám sát của các cơ quan quyền lực đối với hoạt động của các

cơ quan, tổ chức, tăng cường mối quan hệ giữa cử tri với cơ quan dân cử. Hoạt động tiếp công dân trong cơ quan quyền lực nhằm hiểu được tâm tư nguyện vọng của nhân dân trong việc thực hiện chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Thông qua hoạt động tiếp công dân, các cơ quan quyền lực thu thập được ý kiến đóng góp của nhân dân để ban hành chính sách, pháp luật cho phù hợp yêu cầu thực tiễn.

b. Nội dung tiếp công dân

Nội dung tiếp công dân của đại biểu gồm:

- Thu thập ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị, phản ánh của công dân;

- Giải thích, tuyên truyền chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tới

công dân;

- Tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân;

- Hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo. Đại biểu

hướng dẫn công dân gửi đơn đến đúng cơ quan có quyền giải quyết, giải thích cho công dân hiểu nội dung khiếu nại, tố cáo của họ xem có đúng không;

- Xử lý đơn, thư khiểu nại, tố cáo. Đại biểu không có quyền giải quyết đơn

thư khiếu nại, tố cáo của công dân vì đại biểu không có trách nhiệm và quyền hạn làm việc này, trừ một số đại biểu là lãnh đạo UBND nhận đơn, thư và giải quyết không phải với vai trò đại biểu mà là vai trò lãnh đạo chính quyền. Đại

161

biểu chỉ có quyền xử lý đơn, thư bằng hình thức chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

c. Thời gian, địa điểm tiếp công dân

- Về thời gian, đại biểu HĐND cấp tỉnh thực hiện tiếp công dân định kỳ

hoặc đột xuất

Đại biểu HĐND cấp tỉnh thực hiện việc tiếp công dân theo lịch tiếp công

dân đã được công bố. Trường hợp không thể thực hiện được việc tiếp công dân theo lịch tiếp công dân đã được công bố do có lý do chính đáng thì đại biểu HĐND có trách nhiệm thông báo đến Thường trực HĐND cấp tỉnh để điều chỉnh lịch; đồng thời dự kiến thời gian cụ thể thực hiện việc tiếp công dân.

Thường trực HĐND cấp tỉnh phân công các đại biểu HĐND luân phiên tiếp công dân định kỳ theo thời gian nhất định.

Thành phần tiếp công dân định kỳ gồm: Đại diện Thường trực HĐND cấp

tỉnh, đại biểu HĐND cấp tỉnh, Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và HĐND cấp tỉnh, Văn phòng UBND cấp tỉnh và các sở, ban, ngành liên quan.

- Về địa điểm tiếp công dân, theo quy định, đối với đại biểu HĐND cấp

tỉnh, việc tiếp công dân ở 2 địa điểm gồm: Trụ sở tiếp công dân cùng cấp; Tại nơi tiếp công dân ở địa phương mà đại biểu ứng cử theo sự bố trí của Thường trực HĐND cùng cấp.

Trường hợp đại biểu HĐND chuyển sinh hoạt đến địa phương khác trong

cùng đơn vị hành chính cấp đại biểu được bầu thì thực hiện việc tiếp công dân ở nơi chuyển đến.

d. Quyền và trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh khi tiếp

công dân

Luật Tiếp công dân năm 2013 đã dành một chương (chương 5) quy định cụ

thể hoạt động tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, của HĐND và đại biểu HĐND các cấp. Theo đó, Thường trực HĐND cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức để đại biểu HĐND cấp tỉnh tiếp công dân; sắp xếp lịch tiếp công dân của đại biểu HĐND; cử công chức tiếp công dân thường xuyên tại

Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh; tổ chức để đại biểu HĐND tiếp công dân tại nơi

162

tiếp công dân ở địa phương mà đại biểu ứng cử. Đại biểu HĐND thực hiện tiếp công dân theo lịch đã được phân công. Khi nhận được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân, đại biểu HĐND có trách nhiệm nghiên cứu, hướng dẫn công dân gửi khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến đúng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết. Trong trường hợp cần thiết, đại biểu HĐND trực tiếp hoặc thông qua Thường trực HĐND cùng cấp chuyển đơn đến

cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết và theo dõi, đôn đốc việc giải quyết.

Trong việc tổ chức để đại biểu HĐND cấp mình tiếp công dân, Thường trực HĐND cấp tỉnh, có trách nhiệm sau đây:

- Sắp xếp lịch tiếp công dân cho đại biểu HĐND cùng cấp và thông báo cho

đại biểu biết. Lịch tiếp công dân phải được niêm yết công khai tại nơi tiếp công dân, đồng thời công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương;

- Bố trí nơi tiếp công dân để đại biểu HĐND tiếp công dân;

- Đề nghị đại diện các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tại địa

phương cùng tham dự tiếp công dân để tiếp nhận, xử lý những vấn đề liên quan khi cần thiết.

2. Các bước tiếp công dân

a. Chuẩn bị cho buổi tiếp

Để buổi tiếp công dân được diễn ra thuận lợi thì công tác chuẩn bị cần phải

được thực hiện chu đáo. Công tác này bao gồm việc chuẩn bị phòng tiếp dân và bố trí các trang thiết bị phù hợp tại phòng tiếp dân.

Đại biểu HĐND cấp tỉnh phối hợp với Ban tiếp công dân cấp tỉnh để nắm

bắt tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân, những trường hợp khiếu nại, tố cáo nhiều lần; đề nghị Ban tiếp công dân hỗ trợ trong hoạt động của đại biểu, nắm rõ trước về tình hình cử tri đến khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị.

b. Thực hiện tiếp công dân

Khi thực hiện tiếp công dân, đại biểu HĐND cấp tỉnh cần đảm bảo các yêu

cầu sau:

163

- Đảo đảm trang phục chỉnh tề, có đeo thẻ đại biểu HĐND hoặc phù hiệu theo quy định.

- Yêu cầu người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh nêu rõ họ tên,

địa chỉ hoặc xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền (nếu có); có đơn hoặc trình bày rõ ràng nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc tiếp nhận, thụ lý vụ việc.

- Có thái độ đúng mực, tôn trọng công dân, lắng nghe, tiếp nhận đơn khiếu

nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh hoặc ghi chép đầy đủ, chính xác nội dung mà người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trình bày.

- Giải thích, hướng dẫn cho người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản

ánh chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, kết luận, quyết định giải quyết đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền; hướng dẫn người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến đúng cơ quan hoặc người có thẩm quyền giải quyết.

- Trực tiếp xử lý hoặc phân loại, chuyển đơn, trình người có thẩm quyền xử

lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.

Thường trực HĐND cấp tỉnh, đại biểu HĐND cấp tỉnh thực hiện việc tiếp

nhận, xử lý, thông báo về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo quy định tại Điều 25, Điều 26 và Điều 28 của Luật Tiếp công dân năm 2013.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đại biểu HĐND cấp tỉnh có

trách nhiệm tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; tổ chức nghiên cứu; chuyển đơn đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền giải quyết; theo dõi, đôn đốc, giám sát việc giải quyết theo quy định của pháp luật.

Việc tiếp nhận, xử lý bước đầu, phân loại, chuyển nội dung khiếu nại, tố

cáo, kiến nghị, phản ánh đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền thụ lý, giải quyết của các cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ

Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, HĐND và đại biểu HĐND các cấp được thực hiện theo quy định tại Điều 25 và Điều 26 của Luật Tiếp công dân năm 2013.

164

Khi thực hiện tiếp công dân, người tiếp công dân được từ chối tiếp người

đến nơi tiếp công dân trong các trường hợp theo quy định tại Điều 9 Luật Tiếp công dân năm 2013, cụ thể:

- Người trong tình trạng say do dùng chất kích thích, người mắc bệnh tâm

thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển

hành vi của mình;

- Người có hành vi đe dọa, xúc phạm cơ quan, tổ chức, đơn vị, người tiếp

công dân, người thi hành công vụ hoặc có hành vi khác vi phạm nội quy nơi tiếp công dân;

- Người khiếu nại, tố cáo về vụ việc đã giải quyết đúng chính sách, pháp

luật, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, rà soát, thông báo bằng văn bản và đã được tiếp, giải thích, hướng dẫn nhưng vẫn cố tình khiếu nại, tố cáo kéo dài;

- Những trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

c. Hoạt động sau khi tiếp công dân

- Thông báo về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh

Đại biểu HĐND cấp tỉnh thông báo việc tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến

nghị, phản ánh do cơ quan, đại biểu quy định tại khoản này chuyển đến trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được.

- Thông báo kết quả xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến người

đã khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.

- Đại biểu HĐND cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có

quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân và giám sát theo quy định của pháp luật

- Trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết của cấp trên, của người

đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền thì đại biểu HĐND báo cáo với HĐND cùng cấp để thực hiện việc giám sát theo quy định của pháp luật.

3. Một số lưu ý trong quá trình tiếp công dân

165

Trong quá trình tiếp công dân, đại biểu HĐND cấp tỉnh nên chú ý những

vấn đề sau:

- Đại biểu tiếp công dân đón tiếp, xác định nhân thân của người đến khiếu

nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; xác định tính hợp pháp của người đại diện, người được ủy quyền theo quy định của pháp luật; người tiếp công dân tiếp nhận thông tin, tài liệu do công dân trình bày, cung cấp.

- Đại biểu HĐND cấp tỉnh là người chủ trì buổi tiếp công dân, do vậy nên

định hướng và điều khiển cuộc tiếp công dân. Đại biểu chủ yếu là lắng nghe công dân trình bày nhưng có sự định hướng để công dân trình bày đúng thực tế nhưng đầy đủ thông tin dưới góc độ pháp lý.

Đọc nhanh nắm thông tin. Đối với công dân đã chuẩn bị sẵn đơn, đại biểu

dành vài phút, xin phép công dân để đại biểu đọc nhanh, đọc lướt nắm bắt nội dung mà công dân muốn khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị.

- Trong tiếp công dân, đại biểu nên vận dụng nguyên tắc "4N" để thể hiện

sự tôn trọng công dân thông qua 4 hành vi Nói - Nghe - Nhìn - Nhận. Nói khi nào, nói những gì để động viên và khuyến khích công dân nói, cách nói ra sao, âm lượng vừa phải, không nói to cũng không nói nhỏ quá, ngôn từ lịch sự, thể hiện rõ vị thế của đại biểu được pháp luật quy định, cử tri bầu ra. Nghe, thể hiện với công dân là đại biểu đang chú ý lắng nghe thông qua các biểu hiện trên khuôn mặt, gật đầu (biểu lộ sự đồng tình với ý kiến nào đó của công dân), tư thế ngồi nghiêm chỉnh, hơi cúi về phía người nói. Nhìn, ánh mắt thể hiện được rất nhiều điều, vừa thể hiện sự chú ý lắng nghe của đại biểu (không lơ đăng, nhìn xung quanh; tập trung ánh mắt vào người nói), vừa thể hiện uy quyền khi công dân có thái độ thiếu tôn trọng đại biểu. Nhận, đại biểu thể hiện với người dân là mình đang nhận những gì người dân nói thông qua hành vi ghi chép, dù có thể là những ghi chép không cần thiết nhưng nếu trong quá trình tiếp xúc cử tri đại

biểu không ghi chép sẽ làm cho cử tri thấy đại biểu không quan tâm.

- Tránh tâm lý đối đầu mà cần chuyển sang đối thoại. Về khiếu nại, tố cáo, phản ánh của công dân thường là công dân bức xúc với cơ quan công quyền, công dân hoàn toàn không có mâu thuẫn, bức xúc với đại biểu, công dân muốn

166

dựa vào đại biểu để đạt được mong muốn, mục đích của mình, vì thế, khi gặp gỡ, giữa công dân và đại biểu không có sự đối đầu mà là hợp tác. Nếu tạo ra tâm lý đối đầu giữa đại biểu và công dân thì buổi tiếp công dân không đạt yêu cầu.

- Có khả năng làm giảm bức xúc của cử tri, hạ nhiệt cử tri.

Cử tri có sẵn trong người nỗi niềm, bức xúc và họ mang tới gặp đại biểu, vì

vậy, đại biểu cần có kỹ năng cần thiết khi tiếp công dân. Nguyên tắc xử lý tình huống là chân thật, cởi mở. Đại biểu thể hiện sự chân thật, chân thành và cởi mở với người dân, cùng trao đổi, nói chân thành những nội dung thông tin mình nắm bắt chắc chắn; động viên, khích lệ, có thể nêu lên các biện pháp, kế hoạch hành động cụ thể để người dân lựa chọn. Cảm thông với công dân, đại biểu nên cảm thông, đặt vị trí của mình về phía người dân để cảm thông với họ, có như vậy người dân mới tin tưởng vào đại biểu.

Một số kinh nghiệm để "hạ nhiệt" tức thời: khi công dân nói to, sự việc

căng thẳng, đại biểu tỏ thái độ nhẹ nhàng, mềm mỏng, mời công dân uống nước (để ngắt mạch của cử tri). Chuyển hướng câu chuyện, lái câu chuyện khỏi vấn đề bức xúc mà công dân đang trình bày. Nếu đại biểu ngắt lời cử tri sẽ gây tâm lý đối đầu giữa 2 bên, việc mời cử tri uống nước cũng là để cử tri dừng lời tạo cơ hội để đại biểu được nói một cách hợp lý và chuyển hướng câu chuyện. Trong quá trình lắng nghe, đại biểu cần hỏi thêm để làm rõ vấn đề, khi hỏi, đại biểu khéo léo hỏi dẫn dắt cử tri sang câu chuyện khác. Chẳng hạn, khi cử tri trình bày về gia cảnh khó khăn do bị giải phóng mặt bằng, đại biểu nên hỏi cử tri về gia đình, về con cái mấy tuổi, về những cuộc sống thường nhật mà cử tri đang sống và làm việc, thể hiện sự quan tâm và cũng là để hiểu rõ hơn người dân, từ đó có

sự cảm thông, chia sẻ với họ.

- Trong tiếp công dân, đại biểu cần nghe và tìm hiểu xem họ là đối tượng

nào: là người khiếu nại hay tố cáo - khiếu nại lần đầu hay nhiều lần - là người có quyền và lợi ích trực tiếp bị xâm hại hay chỉ là người đại diện đến gửi đơn... để có cách tiếp cận nội dung, vấn đề khiếu nại, tố cáo phù hợp.

- Cử tri khi trình bày thường có xu hướng kể lể dài dòng, nhiều thông tin

không phù hợp, thông tin không có trọng tâm, trọng điểm vào vấn đề mà cử tri

167

đang bức xúc. Đại biểu cần nắm bắt được thông tin chính mà cử tri trình bày, từ đó tìm hiểu, hỏi thêm những thông tin liên quan, hỏi để định hướng cử tri trình

bày đúng vào trọng tâm vấn đề, tránh nói dài mà không có nội dung, nội dung thông tin không có tính thuyết phục. Đại biểu cần có khả năng phân tích, tổng hợp thông tin ngay trong quá trình nghe để nắm nội dung vấn đề mà cử tri muốn trình bày. Sử dụng khả năng phán đoán để xác định tính trung thực trong sự việc trình bày, của người trình bày. Trong quá trình lắng nghe, đại biểu cũng cần sử dụng kỹ năng đọc lướt để biết được họ tên người khiếu nại, tố cáo; các dữ liệu về người khiếu nại, tố cáo; nội dung đơn về vấn đề gì. Công dân có nhu cầu khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh mang theo các giấy tờ nhân thân và hồ sơ

liên quan đến việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh (nếu có) đến nơi tiếp công dân.

III. Kỹ năng trả lời phỏng vấn cơ quan báo chí

1. Khái quát về quan hệ với truyền thông của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

a. Khái niệm và mục đích quan hệ với truyền thông của đại biểu Hội đồng

nhân dân

Truyền thông (communication) theo nghĩa chung nhất là quá trình chia sẻ,

trao đổi thông tin từ người gửi đến người nhận thông qua các phương tiện truyền thông. Quan hệ với truyền thông gắn với cung cấp, phản hồi thông tin tới đông đảo người dân thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng (media) như báo chí (báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử); sách, tạp chí; internet, mạng xã hội và truyền thông đa phương tiện (Multimedia). Với tính chất lan toả thông tin hướng tới đại chúng và tốc độ truyền tải thông tin rất nhanh chóng hiện nay,

truyền thông, báo chí có tác động, ảnh hưởng rất lớn trong đời sống chính trị xã hội, đặc biệt tới nhận thức của công chúng.

Đối với đại biểu HĐND cấp tỉnh, mục đích quan hệ với truyền thông nhằm

hướng đến:

- Thiết lập, củng cố và duy trì mối quan hệ giữa tổ chức với truyền thông.

168

- Cung cấp thông tin, bảo đảm tính công khai, minh bạch trong hoạt động

của HĐND và đại biểu HĐND.

- Định hướng dư luận xã hội hiểu đúng về hoạt động của HĐND và đại

biểu HĐND.

- Tạo dựng uy tín, hình ảnh của người đại biểu của nhân dân.

Quan hệ với truyền thông bao gồm:

- Quan hệ với cơ quan báo chí mà đại diện là nhà báo và tổ chức, cá nhân

tham gia hoạt động báo chí.

Báo giới cũng được xem là một nhóm cử tri, đồng thời cũng là những

người cung cấp thông tin cho đại biểu HĐND và đóng vai trò cầu nối giữa đại biểu HĐND với cử tri.

- Quan hệ với cơ quan, tổ chức khác tham gia hoạt động truyền thông

(Trang thông tin, Cổng thông tin điện tử của các cơ quan thuộc hệ thống chính trị).

- Thiết lập quan hệ, truyền thông trên môi trường mạng.

Ngoài việc tiếp xúc trực tiếp, đại biểu HĐND có thể tiếp xúc cử tri thông

qua các phương tiện như điện thoại, thư từ, email...

- Về thông tin: Báo chí, truyền thông thường quan tâm những thông tin

mang một số thuộc tính sau:

Thứ nhất, những thông tin mang tính bất ngờ. Càng bất ngờ càng tốt. Báo

chí sẽ coi đó như một tiêu chí nổi bật cho một thông tin ưu tiên.

Thứ hai, những thông tin mang tính thời sự nóng hổi, những sự kiện đang diễn ra hoặc sẽ xảy ra trong một tương lai gần. Tính thời sự cũng có thể là về các nội dung trong lịch làm việc thực tế trong ngày. Bởi công chúng thường quan tâm tới những vấn đề mới mẻ.

Thứ ba, tính thiết thực của thông tin, thông tin này có ý nghĩa như thế nào?

Ý nghĩa với ai? Tầm ảnh hưởng của thông tin này đến đâu? Mức độ ảnh hưởng

của thông tin càng lớn, đối tượng bị ảnh hưởng bởi ý nghĩa của thông tin càng rộng thì mức quan tâm của báo giới càng sâu.

169

Thứ tư, tính xung đột - mâu thuẫn, xung đột về quyền lợi luôn là những đặc điểm dành được quyền ưu tiên cao đối với mọi phương tiện truyền thông.

Những nội dung khái quát trên giúp đại biểu HĐND cấp tỉnh xác định vai

trò, mục đích và đặc trưng của quan hệ với truyền thông để có ý thức coi trọng, chủ động cung cấp thông tin và thiết lập quan hệ với truyền thông nói chung. Tuy nhiên, phạm vi của chuyên đề này tập trung vào các nội dung liên quan đến phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí và một số lưu ý của đại biểu HĐND

khi trả lời phỏng vấn báo chí.

b. Quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin trên báo chí

Đối với đại biểu HĐND cấp tỉnh giữ chức vụ trong cơ cấu là người đứng

đầu UBND, người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh theo sự phân công có trách nhiệm cung cấp thông tin báo chí. Trong trường hợp này, thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước còn được quy định tại Nghị định số 09/2017/NĐ-CP của Chính phủ.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 41 Luật Báo chí năm 2016 về họp báo:

*Người phát ngôn hoặc người chịu trách nhiệm cung cấp thông tin của tổ chức

tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương và cấp tỉnh; các bộ, cơ quan ngang bộ; chính trị, Quốc hội, Chính phủ, Chủ tịch nước; các cơ quan của tổ chức chính trị, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm họp báo định kỳ và đột xuất để cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí.

Đại biểu HĐND khi được phân công cung cấp thông tin cho cơ quan báo

chí có trách nhiệm cung cấp thông tin theo quy định, thể hiện quan điểm chính thức của HĐND về các vấn đề mà cơ quan báo chí quan tâm.

2. Các bước thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho cơ quan

báo chí

Đại biểu HĐND theo phân công, theo vị trí công tác có thể thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí thông qua các hình thức: Tổ

○ Nội dung này có tính chất tham khảo đối với đại biểu HĐND giữ chức vụ trong các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, đại biểu HĐND khi được phân công phát ngôn, cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí.

170

chức họp báo; đăng tải nội dung phát ngôn và cung cấp thông tin trên cổng thông tin điện tử, trang tin điện tử hoặc trang mạng xã hội chính thức của HĐND cấp tỉnh; phát ngôn trực tiếp hoặc trả lời phỏng vấn của nhà báo, phóng viên; gửi thông cáo báo chí, nội dung trả lời cho cơ quan báo chí, nhà báo,

phóng viên bằng văn bản hoặc qua thư điện tử; cung cấp thông tin trực tiếp tại các cuộc giao ban báo chí do địa phương tổ chức; ban hành hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền văn bản đề nghị cơ quan báo chí đăng, phát phản hồi, cải chính, xin lỗi nội dung thông tin trên báo chí.

Việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí thường bao gồm các bước cơ bản:

- Tiếp nhận thông tin ban đầu:

Thông tin ban đầu có thể từ các nguồn khác nhau như từ công văn, phản

hồi, câu hỏi của cơ quan báo chí, đề nghị làm việc trực tiếp từ cơ quan báo chí. Theo sự phân công về việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, đại biểu HĐND cấp tỉnh cần chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan đề xuất với Thường trực HĐND cấp tỉnh và các cấp có thẩm quyền về phương án xử lý và phát ngôn.

- Chuẩn bị phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí:

Đại biểu được phân công, đại biểu HĐND ở vị trí có trách nhiệm phát

ngôn và cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí cần thống nhất với các cơ quan

liên quan và cấp có thẩm quyền về nội dung phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí.

- Thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí:

Việc phát ngôn và cung cấp thông tin báo chí được thực hiện theo các đúng

hình thức căn cứ vào quy định của pháp luật. Các nội dung phát ngôn và thông tin cung cấp cho cơ quan báo chí là nội dung chính thống, thể hiện quan điểm của cơ quan, đơn vị.

- Phản hồi thông tin sau phát ngôn và cung cấp thông tin cho cơ quan báo

chí: Đối với các thông tin đã được phát ngôn và cung cấp nhưng chưa được phản ánh đúng, đầy đủ, đại biểu HĐND được phân công nhiệm vụ phát ngôn, cung

171

cấp thông tin báo chí đề nghị HĐND cấp tỉnh cần có văn bản đề nghị cơ quan

báo chí có thông tin cải chính, đảm bảo tính chính xác của thông điệp trên báo chí.

a. Tiếp nhận thông tin ban đầu

Đại biểu HĐND cấp tỉnh có thể trực tiếp hoặc phân công bộ phận tiếp nhận thông tin ban đầu tiếp nhà báo, phóng viên.

Khi có người giới thiệu là nhà báo, phóng viên đến đăng ký làm việc, cần kiểm tra giấy tờ theo quy định:

- Đề nghị xuất trình Thẻ Nhà báo còn thời hạn do Bộ Thông tin và Truyền

thông cấp. Không chấp nhận Thẻ Phóng viên, Thẻ Công tác hoặc Thẻ Tác nghiệp của cơ quan báo chí thay cho Thẻ Nhà báo.

- Trường hợp phóng viên chưa có Thẻ Nhà báo: Đề nghị xuất trình Giấy giới thiệu của cơ quan báo chí cử đến làm việc do lãnh đạo cơ quan báo chí ký, kèm theo Chứng minh thư nhân dân/Thẻ căn cước công dân để xác minh.

Giấy giới thiệu hợp lệ phải ghi rõ: Họ và tên phóng viên; làm việc với cơ

quan, tổ chức nào; nội dung, thời gian làm việc cụ thể. Giấy giới thiệu phải đang trong thời gian còn hiệu lực.

- Trường hợp không xuất trình được một trong hai loại giấy tờ trên, các cơ quan, đơn vị được phép từ chối làm việc và cung cấp thông tin. Đối với giấy

Giới thiệu không đúng tôn chỉ, mục đích được phép từ chối làm việc và cung cấp thông tin.

b. Đăng ký, sắp xếp lịch làm việc

- Trường hợp nhà báo, phóng viên đã đăng ký lịch làm việc từ trước (qua

điện thoại, qua thư, fax...): Đại biểu cần thông báo cho bộ phận tiếp nhận thông tin ban đầu để đón tiếp nhà báo, phóng viên.

- Trường hợp nhà báo, phóng viên chưa có lịch hẹn trước: Bộ phận tiếp

nhận thông tin ban đầu sau khi kiểm tra Thẻ Nhà báo hoặc Giấy giới thiệu, đề nghị nhà báo, phóng viên đăng ký lịch làm việc, nội dung làm việc. Khi đã có đầy đủ thông tin, kịp thời xin ý kiến Thường trực HĐND về lịch tiếp nhà báo, phóng viên. Bộ phận tiếp nhận thông tin ban đầu phải thông báo rõ thời gian, địa

172

điểm tiếp nhà báo, phóng viên để làm việc trực tiếp hoặc cung cấp thông tin theo hình thức quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật Báo chí năm 2016.

- Đại biểu HĐND cấp tỉnh cùng các bộ phận liên quan chuẩn bị nội dung trả

lời phỏng vấn, thống nhất thời gian trả lời phỏng vấn của nhà báo, phóng viên. Trường hợp nhà báo, phóng viên không đăng ký lịch làm việc hoặc không thông báo cụ thể nội dung làm việc, cơ quan, đơn vị có thể từ chối trả lời phỏng vấn.

c. Làm việc với nhà báo, phóng viên

- Trường hợp nhà báo, phóng viên đến đề nghị cung cấp thông tin phục vụ hoạt động tác nghiệp báo chí, khoản 1 Điều 38 Luật Báo chí năm 2016 quy định: Trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình, các cơ quan, tổ chức, người có trách nhiệm có quyền và nghĩa vụ cung cấp thông tin cho báo chí và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin đã cung cấp. Việc cung cấp thông tin cho báo chí có thể bằng văn bản, trên trang thông tin điện tử tổng hợp, họp báo, trả lời phỏng vấn và các hình thức khác. Cơ quan báo chí phải sử dụng chuẩn xác nội dung thông tin được cung cấp và phải nêu rõ xuất xứ nguồn tin.

- Trường hợp nhà báo, phóng viên đến để phỏng vấn, việc trả lời phỏng vấn trên báo chí thực hiện theo Điều 40, Luật Báo chí năm 2016, cụ thể:

+ Người phỏng vấn phải thông báo trước cho người được phỏng vấn biết

mục đích, yêu cầu và câu hỏi phỏng vấn; trường hợp cần phỏng vấn trực tiếp, không có sự thông báo trước thì phải được người trả lời phỏng vấn đồng ý.

+ Sau khi phỏng vấn, trên cơ sở thông tin, tài liệu của người trả lời cung cấp,

người phỏng vấn có quyền thể hiện bằng các hình thức phù hợp. Người phỏng vấn phải thể hiện chính xác, trung thực nội dung trả lời của người được phỏng

vấn. Người được phỏng vấn có quyền yêu cầu xem lại nội dung trả lời trước khi đăng, phát. Cơ quan báo chí và người phỏng vấn phải thực hiện yêu cầu đó.

+ Nhà báo không được dùng những ý kiến phát biểu tại hội nghị, hội thảo,

các cuộc gặp gỡ, trao đổi, nói chuyện có nhà báo tham dự để chuyển thành bài phỏng vấn nếu không được sự đồng ý của người phát biểu.

+ Cơ quan báo chí, người phỏng vấn và người trả lời phỏng vấn phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin đăng, phát trên báo chí.

173

- Đại biểu HĐND cấp tỉnh nên và cần hạn chế tối đa việc trả lời phỏng vấn qua điện thoại khi chưa biết rõ người gọi đến để đề phòng các trường hợp giả

danh nhà báo, phóng viên. Trường hợp khẩn cấp, nếu cần phải trả lời ngay qua điện thoại các câu hỏi của cơ quan báo chí, nhà báo, phóng viên thì cần đề nghị nhà báo, phóng viên xưng danh, tên cơ quan báo chí để biết và kiểm soát thông tin. Trong quá trình trả lời phỏng vấn, cung cấp thông tin cho nhà báo, phóng viên qua điện thoại, cơ quan, đơn vị cần ghi âm toàn bộ nội dung cuộc điện thoại, quá trình cung cấp thông tin để đối chiếu với bài viết của nhà báo, phóng viên, bảo đảm nội dung thông tin đăng trên báo chí đúng với nội dung được cung cấp.

d. Phản hồi thông tin

Điều 39 Luật Báo chí năm 2016 quy định về việc trả lời trên báo chí:

- Người đứng đầu cơ quan báo chí có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá

nhân có thẩm quyền trả lời vấn đề mà công dân nêu ra trên báo chí. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của người đứng đầu cơ quan báo chí, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trả lời trên báo chí.

- Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được ý kiến, kiến nghị, phê bình,

khiếu nại của tổ chức, công dân và tố cáo của công dân do cơ quan báo chí chuyển đến, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thông báo cho cơ quan báo chí biết biện pháp giải quyết... Cùng với đó, Luật Tiếp cận thông tin cũng quy định rất rõ về việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân; trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân.

- Theo Điều 43 Luật Báo chí năm 2016 quy định: Khi cơ quan, tổ chức, cá

nhân có căn cứ cho rằng cơ quan báo chí thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của mình hoặc gây hiểu lầm làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của mình thì có quyền nêu ý kiến phản hồi bằng văn bản đến cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản báo chí, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí hoặc khởi kiện tại Tòa án.

174

3. Một số lưu ý khi phát ngôn và trả lời phỏng vấn cơ quan báo chí

Phát ngôn và trả lời phỏng vấn là một trong những hình thức tiếp xúc báo

chí mà nhiều người còn e ngại. Nhiều người cho rằng, phóng viên là những

người luôn đi "soi người khác; nhiều người trả lời với ý tứ và lời lẽ vừa phải nhưng ngay ngày hôm sau báo giật tít "nóng" làm ảnh hưởng đến cá nhân; có người sợ trả lời "hớ"..

Những kỹ năng sau đây sẽ giúp đại biểu có được sự tự tin khi đứng trước micro của phóng viên báo chí.

a. Một số lưu ý khi chuẩn bị cho cuộc phỏng vấn

Thông thường trước một cuộc phỏng vấn, bao giờ phóng viên cũng liên hệ

trước với cá nhân được phỏng vấn để lên lịch hẹn. Rất ít những trường hợp phỏng vấn đột xuất, bất ngờ. Khi phóng viên gọi điện liên hệ cần hỏi rõ thông tin về phóng viên, mục đích và vấn đề phóng viên quan tâm. Khi xác định vấn đề thuộc trong phạm vi, chức năng, quyền hạn của mình thì tùy theo công việc cụ thể để sắp xếp cuộc hẹn với phóng viên. Lưu ý, trước mỗi cuộc hẹn kiểu này, đại biểu nên có sự chuẩn bị.

Trước tiên, đại biểu cần hệ thống lại thông tin liên quan đến vấn đề để

chuẩn bị tốt nhất cho cuộc phỏng vấn. Phần thông tin nào còn thiếu nên tìm để bổ sung.

Thứ hai, cũng nên dự liệu trước những câu hỏi mà phóng viên có thể hỏi.

Tất nhiên cuộc phỏng vấn sẽ không giống hoàn toàn với những gì mà người trả lời phỏng vấn đã dự liệu. Ngoài ra cũng nên chuẩn bị sẵn một số câu hỏi khó, hóc búa và chuẩn bị săn sàng trả lời cho những tình huống đó.

Thứ ba, đại biểu nên xem lại những quy định về chức năng, nhiệm vụ của

mình đang nắm giữ để chủ động điều tiết phạm vi các vấn đề được phỏng vấn; cần xác định khi trả lời phỏng vấn nghĩa là đại biểu đang trả lời với tư cách của vị trí chức danh đang nắm giữ.

Thứ tư, nắm bắt quy chế phỏng vấn: Đối với những đại biểu đã quen với những việc trả lời phỏng vấn thì có lẽ điều này không còn quá quan trọng. Nhưng đối với những đại biểu chưa hoặc ít trả lời phỏng vấn thì việc tìm hiểu

175

nắm bắt những quy định về việc phỏng vấn và trả lời phỏng vấn là một việc làm cần thiết. Bởi khi hiểu được những quy định này, đại biểu biết được những điều gì được phép - không được phép trong phỏng vấn và đưa tin phỏng vấn°.

Cuối cùng, trong công việc chuẩn bị cho một cuộc phỏng vấn là vấn đề

ngoại hình, ăn mặc (đặc biệt đối với truyền hình): Đại biểu nên để ý đầu tóc gọn gàng, quần áo lịch sự. Đối với phụ nữ, nếu trang điểm hãy trang điểm đậm hơn thường ngày để lên hình không bị nhợt nhạt nhưng cũng không nên quá đậm.

- Đối với trường hợp trả lời phỏng vấn đột xuất. Ví dụ: trong giờ giải lao tại

một Hội nghị, Hội thảo hay phiên họp, sự sẵn sàng về thông tin, về tâm thế sẽ giúp đại biểu chủ động, tự tin hơn. Chẳng hạn, nếu đại biểu có chuyên môn về lĩnh vực chính sách an sinh xã hội, đã phát biểu tại Hội thảo về chính sách an sinh xã hội, và Hội thảo đang thảo luận về chính sách an sinh xã hội, thì hãy chuẩn bị sẵn sàng đón nhận sự "theo đuổi" của phóng viên trong giờ giải lao. Những nội dung gợi ý về mối quan tâm của báo chí đã nêu ở trên sẽ giúp đại biểu trong những trường hợp như vậy.

b. Một số lưu ý khi trả lời phỏng vấn

- Khi phóng viên đặt câu hỏi đóng, đó là câu hỏi đặc trưng như "... phải

không, hay không?". Ví dụ: "Ông/Bà là người có định kiến giới phải không?" Hay "Có phải ông/bà là không quan tâm đến vấn đề này không?" Những câu hỏi này đại biểu có thể chỉ cần trả lời có hoặc không.

- Trường hợp phóng viên đưa ra hai câu hỏi, đại biểu có quyền lựa chọn

một vấn đề để trả lời. Ví dụ: "Ông/Bà có quan hệ thế nào với Giám đốc doanh nghiệp A và theo ông/bà, ông ta có làm sai không?. Đại biểu nên chọn lấy một câu nào mà mình chắc chắn nhất để trả lời.

62 Đại biểu có thể tìm hiểu quy tắc này trong các văn bản pháp luật như: Luật Báo chí năm 2016; Nghị định số 43/2011/NĐ-CP quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước; Nghị định số 09/2017/NĐ-CP quy định chi tiết việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước; Nghị định số 119/2020/NĐ- CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, hoạt động xuất bản, trong đó quy định mức phạt đối với vi phạm quy định về cung cấp thông tin cho báo chí và sử dụng thông tin của cơ quan báo chí.

176

- Trong buổi phỏng vấn nếu phóng viên im lặng sau khi người trả lời đã kết thúc, điều đó có nghĩa họ chờ đợi xem người trả lời có nói gì thêm không. Nếu tiếp tục trả lời nghĩa là đã rơi vào chiến thuật của họ. Như vậy, nếu thấy không nhất thiết phải nói thêm người trả lời hoàn toàn có thể im lặng, phóng viên sẽ phải là người khỏa lấp khoảng im lặng đó.

- Sau mỗi cuộc phỏng vấn, người trả lời nên yêu cầu xem lại bài hoặc phóng sự trước khi phát hành.

c. Một số lưu ý về ứng xử trong phỏng vấn

- Thái độ khi trả lời phỏng vấn: Có thể nói, phỏng vấn là cuộc trò chuyện

giữa đại biểu và phóng viên nhằm trao đổi về vấn đề phóng viên quan tâm. Đại biểu nên xem phóng viên như một người bạn, người cộng sự của mình. Có thái độ cởi mở, thân thiện với phóng viên; nồng nhiệt, tâm huyết với nội dung cuộc phỏng vấn. Hãy thể hiện cho phóng viên biết mình là người có lập trường, có sự đam mê với vấn đề.

- Phong cách trả lời: hãy tỏ ra tự tin, thoải mái, không ngại ngần tiếp xúc

với phóng viên báo chí. Hãy nghĩ rằng phỏng vấn, đưa tin là công việc thường ngày của họ, việc của mình là chia sẻ "công việc với phóng viên. Nếu phỏng vẫn trên truyền hình, đại biểu lưu ý cần ngồi thẳng hoặc đứng thẳng với tư thế thoải mái, không gò ép. Sử dụng cử chỉ tay tự nhiên, không đưa tay quá màn hình máy quay. Không nhìn chăm chăm vào camera, chỉ nên nhìn vào máy quay với một thời gian nhỏ để như đang giao lưu với khán giả. Nếu nhìn chằm chằm vào máy quay sẽ giống như đang tuyên bố một điều gì đó chứ không phải đang trò chuyện cùng phóng viên và khán giả. Chú ý đến âm lượng của giọng nói, tốc

độ nói, ngữ điệu và cách dùng từ...

- Kỹ thuật trả lời phỏng vấn: Trong cuộc phỏng vấn, nên trả lời một cách

ngắn gọn, có trọng tâm, đi thẳng vào vấn đề, không nói vòng vo. Những câu trả lời phải có thông điệp chuẩn, tức là đưa ra được thông tin cốt lõi về vấn đề đang đề cập. Sử dụng từ ngữ đơn giản, tránh dùng những ngôn từ hoa mỹ, bởi lẽ khi trả lời báo chí chính là trả lời người dân, phóng viên chỉ là người trung gian.

Người trả lời phỏng vấn có thể sử dụng hình ảnh để diễn tả những khái niệm

177

khó, trừu tượng; sử dụng những câu chuyện đời thường liên quan để minh họa cho câu trả lời, phản ứng linh hoạt vào thực tế cuộc đối thoại không phụ thuộc vào kịch bản đã chuẩn bị trước.

Quan trọng nhất trong việc trả lời phỏng vẫn đó chính là tính trung thực,

thành thật. Hãy trung thực thể hiện mình, trung thực chia sẻ chính kiến bao gồm cả những mặt tốt và mặt chưa tốt. Không nên cố tỏ ra là một người khác. Thể hiện trung thực chính kiến của mình là cách thiết lập niềm tin cho người phỏng

vấn. Khi không trả lời được, cho dù bất cứ lý do nào, do không thuộc lĩnh vực chuyên môn, do không đủ dữ liệu..., không bao giờ được đoán câu trả lời mà hãy thành thật nói rằng ta không thể trả lời được câu hỏi đó.

Trong một số trường hợp, khi trả lời phỏng vấn, phóng viên muốn "thử

thách thường đưa ra những câu hỏi khó, hoặc với thái độ "gai góc". Lúc ngày, người trả lời phỏng vấn cần phải bình tĩnh, để giữ vững thái độ thân thiện. Hãy

vui vẻ trả lời câu hỏi gai góc này một cách hài hước nhất có thể.

- Lắng nghe: Đây cũng là một trong những phần tạo dựng hình ảnh tốt đẹp

của người trả lời phỏng vấn với phóng viên, nói khác đi là với công chúng. trả lời không liên quan gì đến câu hỏi. Điều này không nên xảy ra vì nó cho thấy Trong nhiều trường hợp, người trả lời nghe không rõ hay không hiểu câu hỏi nên người trả lời quá hời hợt, không tập trung vào cuộc phỏng vấn. Người phỏng vấn

sẽ cho rằng mình và cuộc phỏng vấn không được xem trọng, đại biểu có thể hỏi lại câu hỏi nếu nghe không rõ.

Có một số phóng viên có thói quen "nói thay người khác hoặc cố tình chuyển ý câu trả lời phỏng vấn sang một nghĩa khác. Ví dụ như: "Ý của ông

là...; "Hay nói cách khác...."' Tất nhiên, không phải ai hỏi như thế đều có ý tốt. Có những người hỏi chỉ để chắc chắn về câu trả lời. Trong trường hợp như thế, nếu câu hỏi của phóng viên nói không hết hoặc không đúng cần đính chính lại ngay.

d. Một số điều cần lưu ý và cần tránh khi tiếp xúc với báo chí

- Có thái độ coi thường hoặc e ngại tiếp xúc với báo chí, sợ báo chí.

- Tiếp xúc với báo chí mà không có sự chuẩn bị chu đáo.

178

- Muốn lợi dụng báo chí để đề cao cá nhân hoặc muốn tác động dư luận

theo chính kiến của mình.

- Cần tránh sử dụng biệt ngữ hoặc những từ ngữ quá chuyên môn, thay vào

đó hãy nói bằng ngôn ngữ thông thường dễ hiểu.

- Nếu đại biểu chưa có câu trả lời ngay thì không nên nói mà hãy hẹn lại và

phản hồi sớm nhất có thể.

- Không nên đưa ra lời bình luận "đây là tiết lộ riêng" một khi đại biểu đã

nói ra điều đó.

- Chịu sự tác động từ bên ngoài hoặc từ các cơ quan báo chí để vội vàng

bày tỏ chính kiến về những vấn đề phức tạp; tính chính xác của thông tin chưa được thẩm định. Không vội vàng đưa tin cho đến khi đã có trong tay những thông tin đầy đủ.

179

CÂU HỎI THẢO LUẬN

1. Phân tích đặc điểm, vai trò của tiếp xúc cử tri, tham vấn ý kiến cử tri, tiếp

công dân; những thuận lợi, khó khăn trong tiếp xúc cử tri, tham vấn cử tri, tiếp công dân ở tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương (nơi đại biểu HĐND công tác)?

2. Phân tích những yếu tố tác động đến hiệu quả của tiếp xúc cử tri, tham vấn

ý kiến cử tri, tiếp công dân của đại biểu HĐND;

3. Kinh nghiệm của cá nhân đại biểu HĐND trong việc tiếp xúc cử tri, tham

vấn ý kiến cử tri, tiếp công dân?

4. Kinh nghiệm của cá nhân đại biểu HĐND trong việc trả lời phỏng vấn cơ

quan báo chí?

180

TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO HỌC VIÊN

1. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

2. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

3. Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương (nơi đại biểu HĐND công tác).

4. Luật Khiếu nại năm 2011.

5. Luật Tiếp công dân năm 2013.

6. Luật Báo chí năm 2016.

7. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

8. Luật Tố cáo năm 2018.

9. Ban Dân nguyện, "Cẩm nang về công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân", Hà Nội, 2015.

10. Văn phòng Quốc hội, Chương trình phát triển Liên hợp quốc, Hướng dẫn tham vấn công chúng của Hội đồng nhân dân, Hà Nội, năm 2012.

181

Chuyên đề 6

KỸ NĂNG GIÁM SÁT

CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH

I. Giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

1. Khái niệm, mục đích giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

a. Giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Theo khoản 1 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng

nhân dân năm 2015: Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý.

Khoản 2 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân

dân năm 2015 quy định: Chủ thể giám sát bao gồm Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc

hội, đại biểu Quốc hội và HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐND, đại biểu HĐND.

Giám sát của HĐND cấp tỉnh là việc HĐND, Thường trực HĐND, các Ban

của HĐND, Tổ Đại biểu HĐND và đại biểu HĐND cấp tỉnh theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý.

Giám sát của HĐND bao gồm giám sát của HĐND tại kỳ họp, giám sát của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐND và các đại biểu HĐND.

Hoạt động giám sát của HĐND có: (i) Giám sát tại kỳ họp (như giám sát các báo cáo, đề án, chương trình, nghị quyết của HĐND, thông qua các hình thức như: Thẩm tra của các Ban HĐND, thảo luận, xem xét của các đại biểu HĐND, chất vấn của đại biểu HĐND tại kỳ họp, bỏ phiếu tín nhiệm...); (ii) Giám sát giữa hai kỳ họp (là việc giám sát chấp hành Hiến pháp, pháp luật, nghị

182

quyết của HĐND của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân, thông qua các hình

thức như: giám sát chuyên đề, giám sát vụ việc, giải trình hoặc chất vấn giữa hai kỳ họp...).

Nội dung giám sát của HĐND được thực hiện theo đề nghị của Thường

trực HĐND trình trên cơ sở các kiến nghị của Ban của HĐND, Tổ Đại biểu HĐND, Đại biểu HĐND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và ý kiến, kiến nghị của cử tri°ω.

HĐND cấp tỉnh thực hiện quyền giám sát thông qua các hoạt động sau:

- Xem xét báo cáo công tác của Thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân

dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và các báo cáo khác theo quy định.

- Xem xét trả lời chất vấn của Chủ tịch UBND, thành viên khác của

UBND, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Thủ trưởng cơ quan thuộc UBND cùng cấp; trong phạm vi nhiệm vụ của mình giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân ở địa phương.

- Xem xét quyết định của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới

trực tiếp có dấu hiệu trái với Hiến pháp và pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp.

- Giám sát chuyên đề.

- Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do

HĐND bầu.

Căn cứ vào kết quả giám sát, HĐND có các quyền sau°:

- Yêu cầu UBND, Chủ tịch UBND ban hành văn bản để thi hành Hiến

pháp, pháp luật và nghị quyết của HĐND.

- Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản của UBND, Chủ tịch UBND trái

với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND.

63 Khoản 2, Điều 87, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

Điều 57, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

Khoản 4, Điều 87, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

183

- Ra nghị quyết về trả lời chất vấn và trách nhiệm của người trả lời chất vấn khi xét thấy cần thiết.

- Miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch HĐND, Trưởng

ban, Phó Trưởng ban của HĐND, Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND và Ủy viên UBND.

b. Giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Giám sát của đại biểu HĐND cấp tỉnh là việc đại biểu HĐND cấp tỉnh theo

dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý thông qua các hoạt động:

- Chất vấn Chủ tịch UBND, thành viên khác của UBND, Chánh án Tòa án

nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Thủ trưởng cơ quan thuộc UBND cùng cấp.

- Giám sát quyết định của UBND cùng cấp và nghị quyết của HĐND cấp

dưới trực tiếp.

- Giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương.

- Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân.

c. Mục đích giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Mục đích chung của giám sát là để đảm bảo rằng các hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát tuân thủ đúng các nguyên tắc, thủ tục do pháp luật quy định, đảm bảo được những lợi ích chung của quốc gia, của xã hội, quyền và lợi ích chính đáng của tổ chức, của công dân.

Giám sát của đại biểu HĐND là hoạt động có mục đích: (i) Giúp HĐND,

đại biểu HĐND nằm bắt được tình tình thực tiễn của địa phương, thông qua đó, có thêm những căn cứ để HĐND thực hiện chức năng quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền; (ii) Kịp thời phát hiện những gương tốt, điển hình tiên tiến hoặc những vấn đề mới hoặc sai lệch (nếu có) để có những biện pháp xử lý phù

66 Khoản 1 Điều 83, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

184

hợp, đảm bảo cho những quy định của pháp luật được thực hiện đúng và có hiệu quả.

2. Yêu cầu đối với hoạt động giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Hoạt động giám sát của đại biểu HĐND phải đảm bảo các yêu cầu sau7:

Một là, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật

Yêu cầu này đòi hỏi đại biểu HĐND thực hiện thẩm quyền, nội dung giám

sát chỉ trong phạm vi được pháp luật cho phép để tránh hiện tượng lạm quyền, đi chệch mục đích của giám sát.

Để thực hiện tốt yêu cầu này, đại biểu HĐND cần phải nghiên cứu kỹ các

quy định của pháp luật về thẩm quyền, nội dung giám sát của HĐND nói chung và của đại biểu HĐND nói riêng và tuân thủ nghiêm các quy định này trong hoạt động của mình.

Hai là, đảm bảo khách quan, công khai, minh bạch, hiệu quả

Việc giám sát nhằm xác định những hạn chế, tồn tại trong hoạt động của cơ

quan hành chính nhà nước để từ đó có những đề xuất, kiến nghị nhằm khắc phục những hạn chế này. Do đó, muốn phát hiện, xác định được đúng những hạn chế, tồn tại thì các đại biểu HĐND phải khách quan trong nhìn nhận, đánh giá thực tiễn.

Bên cạnh đó, hoạt động giám sát của đại biểu HĐND cần phải được công

khai, minh bạch để mọi chủ thể liên quan và người dân đều được biết. Đảm bảo

yêu cầu này là tạo ra một cơ chế kiểm soát từ phía các chủ thể trong xã hội đối với chính hoạt động giám sát của đại biểu HĐND nhằm bảo đảm cho việc thực hiện hoạt động giám sát tuân thủ đúng quy định của pháp luật và tăng tính trách nhiệm của chính đại biểu HĐND.

Yêu cầu về tính hiệu quả trong hoạt động giám sát đòi hỏi quá trình thực

hiện hoạt động này luôn phải được đặt trong mối quan hệ so sánh giữa kết quả và chi phí cho hoạt động, điều này có nghĩa là các đại biểu HĐND phải cân nhắc về cách thức và phương pháp thực hiện hoạt đông giám sát trong phạm vi nhiệm

67 Điều 3, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

185

vụ, thẩm quyền của mình sao cho đạt được mục tiêu với chi phí thấp nhất có thể và phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương trong từng thời kỳ.

Ba là, không làm cản trở đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát

Từ mục đích giám sát của đại biểu HĐND có thể thấy rằng đây chính là

hoạt động có vai trò hỗ trợ, củng cố hoạt động của các cơ quan, đơn vị chịu sự giám sát chứ không phải gây khó khăn cho hoạt động của các cơ quan, đơn vị. Yêu cầu này đòi hỏi đại biểu HĐND chỉ thực hiện những nội dung, thẩm quyền giám sát theo quy định và quá trình thực hiện giám sát phải diễn ra theo các bước luật định. Đồng thời, trong quá trình thực hiện, đại biểu HĐND nhận thấy có những quy định của pháp luật còn chưa hoàn thiện, gây cản trở tới hoạt động

của cơ quan, đơn vị chịu sự giám sát thì cũng có trách nhiệm kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi.

3. Đối tượng, nội dung, hình thức giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

a. Đối tượng, nội dung giám sát

Đối tượng, nội dung giám sát là trả lời câu hỏi: Giám sát ai? Giám sát về

cái gì? Đối tượng và nội dung giám sát của đại biểu HĐND cấp tỉnh như sau:

- Tiến hành chất vấn đối với Chủ tịch UBND, ủy viên của UBND (là người

đứng đầu cơ quan thuộc UBND), Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp bằng cách gửi văn bản chất vấn đến các đối tượng này.

- Giám sát quyết định của UBND cùng cấp và nghị quyết của HĐND

huyện. Trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp thì đại biểu HĐND có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, đình chỉ việc thi hành bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật.

- Giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương (tỉnh/thành phố trực thuộc

trung ương).

186

- Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân. Khi nhận được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân, đại biểu HĐND có trách nhiệm nghiên cứu và chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để

xem xét, giải quyết; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết, đồng thời thông báo cho người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị biết. Trong thời hạn do pháp luật quy định, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết và thông báo bằng văn bản cho đại biểu HĐND biết kết quả giải quyết; trường hợp không đồng ý với việc giải quyết, đại biểu HĐND có quyền gặp người có thẩm quyền giải quyết hoặc người đứng đầu cơ quan tổ chức cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết để yêu cầu giải quyết hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo thẩm quyền.

b. Hình thức giám sát

Đại biểu HĐND tự mình thực hiện hoạt động giám sát hoặc tham gia hoạt

động giám sát do HĐND, Thường trực HĐND, Ban của HĐND, Tổ Đại biểu HĐND tổ chức.

Đại biểu HĐND cấp tỉnh tham gia các hoạt động giám sát:

- Tham gia các đoàn giám sát chuyên đề của HĐND, Thường trực HĐND,

Ban của HĐND. Các cơ quan này sẽ ra quyết định thành lập đoàn giám sát, trong đó có danh sách đại biểu là thành viên đoàn giám sát. Căn cứ quyết định giám sát, đại biểu là thành viên đoàn giám sát sẽ tham gia giám sát. Đại biểu không phải là thành viên đoàn giám sát có thể đề nghị với cơ quan thành lập đoàn giám sát bổ sung hoặc mời mình tham gia đoàn giám sát.

- Tham gia phiên chất vấn, phiên giải trình do Thường trực HĐND tổ chức.

Tham gia hoạt động giám sát và giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc giải quyết kiến nghị của cử tri khi được Thường trực HĐND mời.

- Đại biểu HĐND là thành viên Ban của HĐND có trách hiệm tham gia

hoạt động thẩm tra báo cáo, phiên họp của Ban giám sát quyết định của UBND cùng cấp và nghị quyết của HĐND cấp dưới; phiên họp của Ban giám sát việc giải quyết tố cáo, kiến nghị của công dân; phiên họp của Ban xem xét báo cáo

187

của đoàn giám sát do Ban thành lập. Đại biểu không phải là thành viên của Ban có thể đề nghị với Trưởng ban được tham gia các hoạt động giám sát của Ban.

- Đại biểu HĐND tham gia các hoạt động giám sát của Tổ Đại biểu HĐND mà mình là thành viên. Tổ Đại biểu HĐND tổ chức để đại biểu HĐND giám sát việc thi hành pháp luật trên địa bàn nơi Đại biểu ứng cử.

Bảng 1: Các hình thức giám sát

STT
Hình thức giám sát
Đại biểu/
cơ quan tổ chức
giám sát
Thời điểm
1
Xem xét báo cáo công tác củat Thường trực HĐND, UBND , Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và các báo cáo khác
HĐND
Kỳ họp HĐND
2
Xem xét việc trả lời chất vấn
HĐND, Thường trực HĐND
Kỳ họp HĐND, phiên họp
Thường trực
HĐND
3
Xem xét quyết định của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp
Đại biểu, HĐND, Thường trực, Ban của HĐND, Tổ Đại biểu
Trong kỳ họp HĐND,
giữa
hai kỳ họp
4
5
6
Giám sát chuyên đề
sát
Đoàn giám
của HĐND,
Thường trực,
Ban, HĐND
Giữa hai kỳ họp HĐND
4
5
6
Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu
HĐND
Kỳ họp HĐND
Tổ chức hoạt động giải trình
Thường trực
HĐND
Phiên họp
Thường trực
HĐND

188

7
Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân
Đại biểu, Đoàn giám sát, Thường trực, Ban của HĐND
Giữa hai kỳ họp, phiên họp trực,
Thường 1
Ban của HĐND
8
Giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri
Đại biểu, Đoàn giám sát, Thường trực, Ban của
HĐND
Giữa hai kỳ họp, phiên họp Thường
trực,
Ban của HĐND
9
Thẩm tra các báo cáo
Ban của HĐND
Phiên họp Ban của HĐND
10
Giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương
Đại biểu
Giữa hai kỳ họp

II. Một số kỹ năng trong thực hiện nhiệm vụ giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

1. Kỹ năng chất vấn

a. Khái niệm chất vấn

Chất vấn là một trong những hoạt động giám sát quan trọng, thể hiện vai trò của cá nhân đại biểu HĐND.

Chất vấn là việc đại biểu HĐND nêu vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ

tịch UBND, thành viên khác của UBND, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Thủ trưởng cơ quan thuộc UBND cùng cấp và yêu cầu những người này trả lời về trách nhiệm của mình đối với vấn đề được nêu.

Về mặt hình thức, chất vấn là việc đại biểu đặt câu hỏi, nhưng câu hỏi chất

vấn khác với câu hỏi thông thường, câu hỏi để biết thông tin. Câu hỏi chất vấn cũng có thể hỏi để biết thông tin, nhưng mở rộng hơn là để từ đó làm rõ trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý của người bị trả lời chất vấn.

Hoạt động chất vấn có thể được thực hiện thông qua một trong hai hình thức: văn bản hoặc chất vấn trực tiếp tại phiên họp HĐND.

189

Chất vấn bằng văn bản là việc đại biểu HĐND viết phiếu chất vấn và gửi trước tới Thường trực HĐND để gửi tới người bị chất vấn. Thời điểm gửi là giữa hai kỳ họp hoặc ngay trước kỳ họp. Nếu gửi ngay trước kỳ họp thì câu hỏi phải phù hợp với nội dung của kỳ họp.

Chất vấn trực tiếp tại phiên họp HĐND là việc đại biểu HĐND đặt câu hỏi

trực tiếp cho người bị chất vấn trong phiên họp. Trong thực hiện hình thức này, cần tránh trường hợp lấy câu hỏi bằng văn bản gửi trước để làm câu hỏi chất vấn trực tiếp vì như vậy sẽ là tạo điều kiện để người bị chất vấn được chuẩn bị trước.

Thường câu hỏi chất vấn chứa các nội dung sau°:

- Nêu vấn đề cần hỏi, yêu cầu người bị chất vấn làm rõ;

- Nêu thực trạng, vụ việc xảy ra, yêu cầu người bị chất vấn cho biết có biết

việc đó hay không, trách nhiệm của người bị chất vấn để việc đó xảy ra;

- Yêu cầu người bị chất vấn đưa ra hướng xử lý vấn đề; tự mình hoặc yêu

cầu người bị chất vấn xác định chế độ trách nhiệm;

- Yêu cầu người bị chất vấn giải trình về trách nhiệm của mình đối với vấn

đề được nêu ra.

Hoạt động chất vấn có những mục đích sau:

- Để làm rõ trách nhiệm của người bị chất vấn trong việc điều hành, thực

hiện nhiệm vụ chưa tốt, còn có sai sót, hiệu quả chưa cao.

- Kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động và trách nhiệm của người bị chất

vấn trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Uy tín của người bị chất vấn nhanh chóng được đánh giá qua việc trả lời chất vấn.

- Sự khuyến nghị của HĐND giúp người bị chất vấn có cơ hội tự rà soát lại

việc thực hiện nhiệm vụ của mình.

Đại biểu biết khéo léo sử dụng chất vấn còn thúc đẩy cơ quan nhà nước

trong giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền, nhất là những vấn đề cụ thể.

b. Các bước của quá trình chất vấn

68 Ban Công tác đại biểu - Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử (2013), HĐND trong tổ chức bộ máy nhà nước, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội.

190

Để thực hiện tốt hoạt động chất vấn, đại biểu HĐND cấp tỉnh nên thực hiện theo các bước sau°:

Bước 1: Chuẩn bị chất vấn

Trong bước này, đại biểu HĐND cấp tỉnh phải chuẩn bị kỹ cho câu hỏi chất

vấn. Muốn vậy, đại biểu cần thực hiện những nội dung sau đây:

- Lựa chọn vấn đề chất vấn

Đại biểu HĐND cấp tỉnh nên lựa chọn vấn đề chất vấn trên cơ sở: sự hiểu

biết sâu của đại biểu về nội dung chất vấn, vấn đề có tính thời sự được nhiều người quan tâm, vấn đề đang gây bức xúc trong xã hội mà trách nhiệm từ cơ

quan nhà nước; ý kiến của cử tri, cử tri nêu việc cụ thể. Đại biểu cần có sự nhạy cảm, hiểu biết để tìm hiểu, khái quát lên thành vấn đề có tính thường xuyên, lặp lại, trên diện rộng.

- Hiểu sâu về nội dung chất vấn

Để có thể hiểu sâu về nội dung chất vấn, đại biểu cần phải có số liệu, tư

liệu đầy đủ từ nguồn đáng tin cậy để tìm hiểu về bản chất vấn đề, từ đó giúp cho

đặt câu hỏi chính xác, quy đúng trách nhiệm; đồng thời đại biểu có khả năng truy vấn khi người chất vấn trả lời.

Thông tin đại biểu HĐND cấp tỉnh cần thu thập từ rất nhiều nguồn nhưng

những nguồn đó phải là nguồn thông tin chính thức như: báo cáo của UBND cùng cấp, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, báo cáo thẩm tra, báo cáo giám sát của HĐND, báo cáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,... Bên cạnh đó, các thông tin đại biểu HĐND cấp tỉnh có thể thu thập từ các phương tiện thông tin đại chúng, từ tiếp xúc cử tri, đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Tuy nhiên, cần phải lưu ý là thông tin từ tiếp xúc cử tri, đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân cần phải được kiểm tra kỹ. Các thông tin mà đại biểu đã thu thập cần được xử lý chuyên sâu hơn bằng cách tham vấn ý kiến của các chuyên gia.

- Xác định người bị chất vấn và trách nhiệm người bị chất vấn

Trên thực tế, có những nội dung rõ người bị chất vấn nhưng cũng có những nội dung rất khó xác định người bị chất vấn, do vậy, chất vấn cần phải đúng đối

Nguyễn Hải Long (2021), 8 chìa khóa thành công dành cho đại biểu HĐND, NXB Lao động, Hà Nội.

191

tượng. Muốn vậy, đại biểu HĐND cấp tỉnh cần tìm hiểu trách nhiệm của từng cá nhân bị chất vấn được quy định trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), nghị định của Chính phủ về cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh° và các các quy định về phân quyền, phân cấp, ủy quyền, giữa các cấp hành chính, các cơ quan nhà nước, thẩm quyền của từng vị trí dự kiến bị chất vấn.

- Chuẩn bị câu hỏi chất vấn

Thời gian dành cho câu hỏi chất vấn ngắn (khoảng 03 phút), vì vậy, đại biểu phải quyết định đặt bao nhiêu câu hỏi (không nên quá 03 câu - dung lượng khoảng 01 trang giấy A4 đánh máy), sắp xếp câu hỏi mạch lạc về ý, đầy đủ về nội dung, không nên diễn giải quá nhiều để tập trung vào câu hỏi rõ ràng. Đối với cấp tỉnh, câu hỏi cần có tính khái quát, không nên hỏi vấn đề quá cụ thể. Câu

hỏi chất vấn cần đảm bảo các yêu cầu (Hình 1):

Cụ thể

Có liên CÂU HỎI Rõ ràng

quan CHẤT VẤN,

GIẢI TRÌNH

Có căn cứ

Hình 1: Yêu cầu đối với câu hỏi chất vấn

Nguồn: Nguyễn Hải Long (2021), 8 chìa khóa thành công dành cho

đại biểu HĐND, NXB Lao động, Hà Nội, trang 179

Nghị định số 24/2014/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Nghị định số 107/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ- CP.

192

+ Cụ thể: Bằng chứng cụ thể, ví dụ cụ thể;

+ Rõ ràng: Người bị chất vấn hiểu được câu hỏi, mong muốn của đại biểu;

+ Có căn cứ: Thông tin chính xác, đáng tin cậy;

+ Có liên quan: Liên quan tới trách nhiệm của người bị chất vấn.

Đại biểu có thể chuẩn bị trước 05 câu hỏi và đánh số theo thứ tự ưu tiên để trong trường hợp câu hỏi đã chuẩn bị trùng với câu hỏi của các đại biểu đã đặt câu hỏi trước đó thì vẫn còn số lượng câu hỏi cần thiết để nêu ra đối với đối tượng bị chất vấn.

- Dự báo câu trả lời của người bị chất vấn.

Đại biểu cần dự báo câu trả lời của người bị chất vấn để từ đó tìm thêm thông tin nhằm có thể truy vấn thêm.

Bước 2: Trình bày chất vấn tại phiên họp

Khi thực hiện trình bày chất vấn tại phiên họp, đại biểu HĐND cần chú ý một số điểm sau:

- Đặt câu hỏi chất vấn phù hợp với nội dung chất vấn mà HĐND đã quyết định.

- Đảm bảo thời gian đặt câu hỏi chất vấn đã được quy định. Đại biểu nên

đặt câu hỏi ngắn gọn, tránh giải thích dài dòng. Theo vấn đề đến cùng, tiếp tục

truy vấn nếu câu trả lời chưa làm đại biểu thỏa mãn. Đại biểu có thể tiếp tục truy
vấn theo câu hỏi của mình đã đặt ra hoặc câu hỏi của đại biểu khác đặt ra.
- Thể hiện thái độ: đại biểu cần thể hiện thái độ của mình với nội dung chất
vấn không chỉ qua nội dung câu từ mà còn thông qua sử dụng các kỹ năng về ngôn từ, âm điệu, điệu bộ, cử chỉ như trong kỹ năng thuyết trình. Việc tỏ thái độ
là rất có ý nghĩa, để người bị chất vấn biết rằng đây là vấn đề đại biểu rất quan tâm, có tầm quan trọng. Tuy nhiên, cần tránh có thái độ gay gắt, bực tức.
- Dùng phép so sánh, tương phản để làm nổi bật vấn đề chất vấn. Ví dụ, đại
biểu có thể mở đầu bài tham luận bằng phương pháp tương phản giữa giá đền bù
đất nông nghiệp và đất xây dựng trên cùng một mảnh đất để chất vấn việc đền bù đất, mở khu công nghiệp, xây nhà trên đất nông nghiệp.
193
A

Chất vấn được đưa tin rộng rãi, nhân dân quan tâm, việc trả lời chất vấn

ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín người trả lời. Do đó, đại biểu cần biết sử dụng sức mạnh của công luận để đạt được mục tiêu của mình.

- Lựa chọn cách thức đưa ra chất vấn phù hợp. Đại biểu lựa chọn một trong

hai hình thức chất vấn: Bằng giấy hoặc chất vấn trực tiếp tại phiên họp. Hình

thức chất vấn trực tiếp tại phiên họp thường đem lại hiệu quả cao hơn, do đại biểu được nghe đầy đủ thông tin từ người hỏi và trả lời; cách thức trả lời - hỏi bằng lời nói tác động tới người nghe hơn; cử tri thường chỉ tiếp cận với câu hỏi trực tiếp thông qua truyền hình trực tiếp hoặc phản ánh của báo chí. Vì vậy, đại biểu cần lựa chọn hình thức chất vấn phù hợp với câu hỏi. Với vấn đề chi tiết, cụ thể thì cần hỏi bằng giấy, khi đó thông tin mới chính xác và đầy đủ.

Chú ý lắng nghe câu trả lời, nhanh chóng phân tích, đánh giá câu trả lời có

đáp ứng câu hỏi không, cần làm rõ thêm ý nào, người trả lời đã làm rõ nguyên nhân, giải pháp, trách nhiệm hay chưa... để tiếp tục có câu hỏi truy vấn.

Bước 3: Hoạt động sau phiên chất vấn

Chất vấn tại Hội trường mới chỉ đem lại tác động bước đầu tới người có

trách nhiệm, người trả lời chất vấn có thể hứa, nhưng từ lời hứa đến hành động

là cả quãng đường dài. Ngôn ngữ Việt rất phong phú và đa dạng, khó phân biệt thế nào là lời hứa với các từ ngữ thể hiện tư tưởng là lời hứa nhưng nếu căn cứ vào câu chữ thì lại không phải là lời hứa như: "Sẽ xem xét giải quyết", "Ghi nhận và nghiên cứu trong thời gian tới,... Để người trả lời chất vấn thực hiện lời hứa trước HĐND, đại biểu cần sử dụng nhiều biện pháp một cách linh hoạt như quyền của đại biểu đã được pháp luật ghi nhận (gặp gỡ trực tiếp, yêu cầu trả

lời, tiếp tục chất vấn ở kỳ họp sau, đề nghị Thường trực HĐND có ý kiến, HĐND thảo luận tại kỳ họp ...); sử dụng phương tiện báo chí như một kênh gây sức ép.

2. Kỹ năng giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp và nghị

quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp

a. Khái niệm

194

Giám sát quyết định của UBND cùng cấp và nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp (ở đây là cấp huyện) là việc xem xét các văn bản này khi phát hiện

có dấu hiệu trái với Hiến pháp, Luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp.

Trong thẩm quyền của mình, phạm vi giám sát văn bản quy phạm pháp luật

của đại biểu HĐND cấp tỉnh gồm giám sát quyết định của UBND cấp tỉnh và nghị quyết của HĐND cấp huyện7.

b. Mục đích của giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện

Hoạt động giám sát quyết định của UBND cấp tỉnh và nghị quyết của

HĐND cấp huyện (gọi chung là văn bản thuộc thẩm quyền giám sát của HĐND cấp tỉnh) có những mục đích sau:

- Qua giám sát để kịp thời pháp hiện những nội dung sai trái của văn bản thuộc thẩm quyền giám sát của HĐND cấp tỉnh để yêu cầu xử lý và kiến nghị về trách nhiệm đối với việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật có vi phạm.

- Giám sát để phát hiện những nội dung của văn bản thuộc thẩm quyền

giám sát của HĐND cấp tỉnh không còn phù hợp, phát hiện những điểm trùng lặp, chồng chéo để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ, hủy bỏ.

- Giám sát để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ

thống pháp luật, qua đó đánh giá hiệu lực, hiệu quả của chính quyền cấp tỉnh và cấp huyện trong quản lý, điều hành.

c. Nội dung giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện

- Sự phù hợp của văn bản với Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cấp tỉnh.

71 Điều 83, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

195

Đại biểu HĐND nghiên cứu, xem xét và đánh giá tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền giám sát theo luật định với các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.

- Sự phù hợp của hình thức văn bản với nội dung văn bản đó, đảm bảo

đúng quy trình soạn thảo văn bản.

- Sự phù hợp của nội dung văn bản với thẩm quyền của cơ quan ban hành

văn bản.

- Sự phù hợp tình hình thực tế địa phương và tính khả thi thi của văn bản,

chính sách ban hành.

Trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật được giám sát có dấu

hiệu trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên thì đại biểu HĐND có quyền kiến nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật đó.

d. Trình tự thực hiện giám sát quyết định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện

Quy trình chung thực hiện giám sát quyết định UBND cấp tỉnh và nghị quyết của HĐND cấp huyện gồm 2 bước cơ bản:

Bước 1: Chuẩn bị

Đây là bước chuẩn bị nội dung, kế hoạch và thủ tục cho hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật với các nội dung:

- Thu thập thông tin, nội dung, xác định địa bàn cần giám sát;

- Xây dựng kế hoạch giám sát;

- Quyết định thành lập Đoàn giám sát;

- Phổ biến kế hoạch giám sát.

Bước 2: Triển khai các hoạt động giám sát

Bước này bao gồm các nội dung:

- Xem xét, đánh giá báo cáo;

- Yêu cầu đối tượng giám sát giải trình;

- Đi thực tế tại cơ sở;

196

Theo luật định, các bước trên được cụ thể hóa đối với việc xem xét văn bản

thuộc thẩm quyền giám sát của HĐND cấp tỉnh và thực hiện theo trình tự sau7:

- Đại diện Thường trực HĐND trình bày tờ trình;

- HĐND thảo luận;

- Người đứng đầu cơ quan đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật trình

bày bổ sung những vấn đề có liên quan;

- HĐND ra nghị quyết về việc xem xét văn bản.

đ. Một số kỹ năng phục vụ cho giám sát quyết định Ủy ban nhân dân cấp

tỉnh và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Việc thực hành kỹ năng giám sát quyết định UBND cấp tỉnh và nghị quyết

của HĐND cấp huyện của đại biểu HĐND thể hiện mức độ am hiểu pháp luật, khả năng so sánh giữa quy định của pháp luật với việc thực thi pháp luật, khả năng phát hiện những sai phạm trong văn bản quy phạm pháp luật, khả năng đề xuất khắc phục những sai phạm của văn bản quy phạm pháp luật và yêu cầu khắc phục sai phạm của đại biểu HĐND.

- Kỹ năng thu thập và xử lý thông tin

Các thông tin cần thu thập bao gồm thông tin chính thức và thông tin bổ

sung về văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với quy định của pháp luật.

- Phân tích chính sách, giải pháp

Phân tích chính sách, giải pháp với lập luận logic, có căn cứ, phân tích về

tác động của văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật đối với đời sống xã hội, đối với sự điều hành, quản lý của Nhà nước,.

- Chọn lựa phương pháp, hình thức giám sát phù hợp

- Biết sử dụng các công cụ hỗ trợ trong hoạt động giám sát văn bản quy

phạm pháp luật như hoạt động thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chức năng.

3. Kỹ năng giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương

a. Khái niệm

72 Khoản 2, Điều 61, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

197

Giám sát việc thi hành pháp luật là việc xem xét, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật nhằm kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật ở địa phương.

Hoạt động giám sát thi hành pháp luật đã và đang là một yêu cầu cấp bách và

là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, mang tính chiến lược trước yêu cầu hội nhập kinh tế - quốc tế, đẩy mạnh cải cách tư pháp, cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng

đến năm 2020 đã chỉ rõ: "Xây dựng và hoàn thiện pháp luật phải gắn với tổ chức thi hành pháp luật củng cố các thiết chế thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật vừa là công cụ quản lý xã hội, vừa là công cụ để nhân dân kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật". Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng

sản Việt Nam định hướng: "Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững>73.

Ở nước ta, pháp luật được thực hiện thông qua các hình thức chủ yếu là

tuân thủ pháp luật, sử dụng pháp luật, chấp hành pháp luật và áp dụng pháp luật, trong đó:

- Tuân thủ pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật mà chủ thể quan hệ pháp luật kiềm chế, giữ mình không làm những gì mà pháp luật cấm.

- Sử dụng pháp luật là hình thức mà chủ thể thực hiện pháp luật thực hiện quyền được pháp luật quy định.

- Chấp hành pháp luật là hình thức mà chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luật.

73 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tập 1, trang 175.

198

- Áp dụng pháp luật là hình thức mà chủ thể là các cơ quan nhà nước có

thẩm quyền áp dụng các quy phạm pháp luật vào trường hợp cụ thể đối với cá nhân, tổ chức để giải quyết quyền, nghĩa vụ cho họ hoặc xác định trách nhiệm pháp lý đối với họ.

Thi hành pháp luật là tổng thể các biện pháp, phương thức mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng để các chủ thể thực hiện pháp luật đưa các quy định của pháp luật vào cuộc sống. Các biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật gồm:

- Biện pháp pháp lý: Là các biện pháp từ việc tạo ra cơ sở pháp lý cụ thể

(ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản cá biệt) để thi hành pháp luật đến các biện pháp cưỡng chế (hành chính hoặc tư pháp);

- Biện pháp kinh tế - xã hội (ổn định và phát triển cơ sở vật chất, đời sống, điều kiện phương thức kỹ thuật... );

- Biện pháp hành chính điều hành bảo đảm để các chủ thể quan hệ pháp luật thực hiện các hành vi hợp pháp.

Ở địa phương, CQĐP và các cơ quan nhà nước khác thực hiện pháp luật với trách nhiệm như sau:

- CQĐP có trách nhiệm: Quyết định việc thực hiện các biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp

pháp của cơ quan, tổ chức và công dân; áp dụng các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật.

- Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân địa phương: Là những cơ

quan bảo vệ pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương.

b. Nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong giám sát thi hành pháp luật ở địa phương

Đại biểu HĐND cấp tỉnh có trách nhiệm thường xuyên theo dõi, xem xét việc thi hành pháp luật tại địa phương (tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương).

Trong việc thực hiện hoạt động giám sát thi hành pháp luật ở địa phương, đại biểu HĐND cần nắm vững những nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định74:

74 Xem thêm: khoản 4 Điều 86, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

199

- Thực hiện đúng nội dung, kế hoạch giám sát.

- Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của

Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì đại biểu HĐND có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và khôi phục lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị vi phạm; trường hợp cơ quan, tổ chức không thực hiện hoặc đại biểu HĐND không đồng ý với việc giải quyết thì đại biểu HĐND có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết.

- Chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày kết thúc hoạt động giám sát, đại biểu HĐND báo cáo kết quả giám sát với Thường trực HĐND cùng cấp.

4. Kỹ năng giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân

a. Một số khái niệm liên quan tới giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân

Trước khi tìm hiểu khái niệm giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân thì đại biểu HĐND nên nắm được một số khái niệm liên quan bao gồm: Khiếu nại, giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết tố cáo, kiến nghị, giải quyết kiến nghị.

(i) Khái niệm khiếu nại, giải quyết khiếu nại

- Khiếu nại

Khiếu nại theo nghĩa chung nhất là việc cá nhân, tổ chức yêu cầu hay đề nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền sửa chữa một việc làm mà họ cho là không đúng gây thiệt hại đến quyền, lợi ích chính đáng của họ và đòi bồi thường thiệt hại do việc làm không đúng gây ra∂.

- Giải quyết khiếu nại "là việc xác minh, kết luận và ra quyết định giải

quyết của người giải quyết khiếu nại (khoản 11, Điều 2, Luật Khiếu nại năm 2011).

75 Khoản 1 Điều 2 Luật khiếu nại năm 2011 quy định: "Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình".

200

(ii) Tố cáo, giải quyết tố cáo

- Tố cáo là việc công dân thực hiện việc trình báo cho cơ quan, tổ chức

hoặc cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của các cá nhân, cơ quan, tổ chức gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân công dân, cơ quan, tổ chức theo thủ tục luật định. Việc tố cáo bao gồm: Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ; tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực7.

- Giải quyết tố cáo là việc "thụ lý, xác minh, kết luận nội dung tố cáo và xử

lý kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo". (khoản 7, Điều 2, Luật Tố cáo năm 2018).

(iii) Kiến nghị, giải quyết kiến nghị

- Kiến nghị là việc công dân cung cấp thông tin, trình bày ý kiến, nguyện

vọng, đề xuất giải pháp với các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền về những vấn đề liên quan đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, công tác quản lý trong các lĩnh vực đời sống xã hội thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân đó7.

- Giải quyết kiến nghị là việc các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có trách

nhiệm thực hiện việc tiếp nhận các kiến nghị của công dân, xem xét và xử lý các vấn đề nêu trong nội dung kiến nghị theo đúng quy định của pháp luật và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

76 Khoản 1, 2, 3 Điều 2, Luật Tố cáo năm 2018, Điều 2 quy định:

"1. Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm:

a) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ;

b) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.

2. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của các đối tượng sau đây:

a) Cán bộ, công chức, viên chức; người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ;

b) Người không còn là cán bộ, công chức, viên chức nhưng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian là cán bộ, công chức, viên chức; người không còn được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhưng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ;

c) Cơ quan, tổ chức.

3. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực là tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào về việc chấp hành quy định của pháp luật, trừ hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ".

7 Khoản 2, Điều 2, Luật Tiếp công dân năm 2013.

201

(iv) Khái niệm giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân

Giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo kiến nghị của công dân là theo dõi,

xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm

trong ban hành văn bản quản lý nhà nước về khiếu nại, tố cáo; trong tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị; trong kiểm tra, xác minh, kết luận nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo thẩm quyền.

Đối tượng của giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân

có thể phân chia thành 2 nhóm: Nhóm các hoạt động quản lý nhà nước về giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân; nhóm các hoạt động giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị cụ thể.

Mục đích của việc giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công

dân là để nhận xét, đánh giá hiệu lực, hiệu quả của việc thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân, từ đó đưa ra đề xuất để tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về khiếu nại, tố cáo; đề xuất giải pháp nhằm khắc phục những yếu kém, hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tổ cáo, kiến nghị của công dân.

Hoạt động giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân có

vai trò như là một phương thức kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo góp phần thúc đẩy việc bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; tăng cường tiếng nói, sự tham gia của công dân trong việc bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của tập thể và của Nhà nước. Thêm vào đó, việc giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân cũng là một phương thức bảo đảm tính pháp quyền, dân chủ trong đời sống xã hội.

b. Nội dung giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân

(i) Giám sát việc tuân thủ thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị

Đại biểu HĐND cấp tỉnh cần nắm rõ quy định về thời hạn giải quyết khiếu

nại được quy định trong Luật Khiếu nại năm 2011, thời hạn giải quyết tố cáo được quy định trong Luật Tố cáo năm 2018:

202

- Đối với khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với

vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45

ngày, kể từ ngày thụ lý. Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải

quyết khiếu nại không quá 45 ngày kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp

thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày kể từ ngày

thụ lý. (Điều 28, Luật Khiếu nại năm 2011)

- Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ

lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn

nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý.

Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không

quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết

khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý. (Điều

37, Luật Khiếu nại năm 2011).

- Thời hạn giải quyết tố cáo là không quá 30 ngày kể từ ngày thụ lý tố cáo.

Đối với vụ việc phức tạp thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo một lần nhưng không

quá 30 ngày. Đối với vụ việc đặc biệt phức tạp thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo

hai lần, mỗi lần không quá 30 ngày. Người giải quyết tố cáo quyết định bằng văn

bản việc gia hạn giải quyết tố cáo và thông báo đến người tố cáo, người bị tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. (Điều 30 Luật Tố cáo năm 2018).
- Đối với kiến nghị, trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận
nội dung kiến nghị, người tiếp công dân có trách nhiệm trả lời trực tiếp hoặc thông báo bằng văn bản đến người đã đến kiến nghị về việc kiến nghị đã được thụ lý để giải quyết hoặc nội dung kiến nghị đã được chuyển đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền giải quyết.
(ii) Giám sát việc thực hiện thẩm quyền giải quyết khiếu nại
Xem thêm: Nghị định số 20/2008/NĐ-CP của Chính phủ về tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính (được sửa đổi, bổ sung bởi: Nghị định số 48/2013/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính; Nghị định số 150/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ; Nghị định số 92/2017/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính).
Xem thêm: Điều 28, Khoản 1, Luật Tiếp công dân năm 2013.
203
÷

Thẩm quyền giải quyết khiếu nại của các cá nhân thuộc phạm vi giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo của đại biểu HĐND như sau°:

- Chủ tịch UBND cấp xã, Thủ trưởng cơ quan thuộc UBND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp.

- Thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện:

+ Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình.

+ Giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành

chính của Chủ tịch UBND cấp xã, Thủ trưởng cơ quan thuộc UBND cấp huyện đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết.

- Thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương

Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương có thẩm quyền giải quyết

khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp.

- Thẩm quyền của Giám đốc sở và cấp tương đương:

+ Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành

chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp.

+ Giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành

chính của Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết.

- Thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp tỉnh:

+ Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành

chính của mình.

+ Giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành

chính của Chủ tịch UBND cấp huyện, Giám đốc sở và cấp tương đương đã giải 80 Xêm thêm: Điều 17- 21, Luật Khiếu nại năm 2011.

204

quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết.

+ Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình.

(iii) Giám sát việc thực hiện thẩm quyền giải quyết tố cáo

Tùy thuộc vào lĩnh vực của nội dung tố cáo mà xem xét thẩm quyền giải quyết, trong phạm vi hoạt động của đại biểu HĐND, các thẩm quyền giải quyết được xem xét theo các phạm vi sau:

Một là, xem xét về thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong cơ quan hành chính nhà nước

Để có cơ sở xem xét về thẩm quyền giải quyết tố cáo, đại biểu HĐND cần nắm rõ thẩm quyền giải quyết tố cáo của người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp, cụ thể như sau81:

- Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện công vụ của công chức do mình quản lý trực tiếp.

- Chủ tịch UBND cấp huyện có thẩm quyền sau đây:

+ Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm

vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp xã, cán bộ, công chức, viên chức khác do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.

+ Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cơ quan, tổ chức do UBND cấp huyện quản lý trực tiếp.

- Người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh có thẩm quyền sau đây:

+ Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm

vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trực thuộc cơ quan mình, công chức, viên chức khác do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.

+ Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cơ quan, tổ chức do mình quản lý trực tiếp. 81 Điều 13, Luật Tố cáo năm 2018.

205

- Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thẩm quyền sau đây:

+ Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm

vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp huyện, người đứng đầu, cấp

phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, công chức, viên chức khác do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.

+ Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cơ quan, tổ chức do UBND cấp tỉnh quản lý trực tiếp.

Hai là, xem xét thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong Tòa án nhân dân.

Thẩm quyền này được quy định cho Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện và Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh như sau:

- Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện công vụ của công chức do mình quản lý trực tiếp.

- Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền sau đây:

+ Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện công vụ

của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, công chức khác do mình quản lý trực tiếp.

+ Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện công vụ của Tòa án nhân dân cấp huyện.

Ba là, xem xét thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong Viện kiểm sát nhân dân

Thẩm quyền này được quy định cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh như sau°:

- Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện công vụ của công chức do mình quản lý trực tiếp.

- Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền sau đây:

82 Điều 14, Luật Tố cáo năm 2018.

83 Điều 15, Luật Tố cáo năm 2018.

206

+ Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện công vụ

của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, công chức khác do mình quản lý trực tiếp.

+ Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện công vụ của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện.

Bốn là, xem xét thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật

trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập.

Thẩm quyền giải quyết tổ cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực

hiện nhiệm vụ, công vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập được pháp luật quy định như sau84:

- Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền sau đây:

+ Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm

vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu tổ chức, đơn vị trực thuộc, công chức, viên chức do mình tuyển dụng, bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.

+ Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ của tổ chức, đơn vị do mình quản lý trực tiếp.

- Người đứng đầu cơ quan nhà nước quản lý đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền sau đây:

+ Giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập, công chức, viên chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.

+ Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của đơn vị sự nghiệp công lập do mình quản lý trực tiếp.

(iv) Giám việc thực hiện thẩm quyền giải quyết kiến nghị của công dân

Thẩm quyền giải quyết kiến nghị phụ thuộc vào nội dung của kiến nghị.

Căn cứ vào nội dung kiến nghị để xác định cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm giải quyết°.

84 Điều 18, Luật Tố cáo năm 2018.

Xem thêm: Luật Tiếp công dân năm 2013; Nghị định số 20/2008/NĐ-CP của Chính phủ về tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính (được sửa đổi, bổ sung bởi: Nghị định số 48/2013/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính; Nghị định số 150/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu

207

(v) Giám sát việc thực hiện trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có

thẩm quyền trong việc tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân

- Về trách nhiệm giải quyết khiếu nại và phối hợp giải quyết khiếu nại

+ Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

của mình có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm cho quyết định giải quyết khiếu nại được thi hành nghiêm chỉnh và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

+ Cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức,

cá nhân có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại; cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến việc khiếu nại theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó.

+ Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm kiểm tra, xem xét lại quyết

định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật của mình; nếu trái pháp luật phải kịp thời sửa chữa, khắc phục, tránh phát sinh khiếu nại.

- Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc tiếp nhận và giải quyết tố cáo như sau87:

+ Tổ chức việc tiếp nhận và giải quyết tố cáo theo đúng quy định của pháp

luật; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm an toàn cho người tố cáo; xử lý nghiêm minh người có hành vi vi phạm pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

+ Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo khi chưa có kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo.

- Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc tiếp nhận và giải quyết kiến nghị như sau:

tổ chức của Văn phòng Chính phủ; Nghị định số 92/2017/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính).

Điều 5, Luật Khiếu nại năm 2011.

Điều 5, Luật Tố cáo năm 2018.

208

+ Bố trí cán bộ, công chức hoặc bộ phận thực hiện tiếp nhận phản ánh, kiến nghị; Lắp đặt số điện thoại chuyên dùng, xây dựng chức năng tiếp nhận phản ánh, kiến nghị trên Cổng Thông tin điện tử của các Bộ, ngành, địa phương; công bố công khai địa chỉ cơ quan, địa chỉ thư tín, số điện thoại chuyên dùng, địa chỉ email, địa chỉ Cổng thông tin điện tử, địa chỉ Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị theo quy định tại Điều 13 Nghị định này; Tổ chức thực hiện việc tiếp nhận các phản ánh, kiến nghị theo đúng quy trình quy định.

+ Giải quyết kiến nghị theo đúng quy định của pháp luật; áp dụng biện

pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan đến kiến nghị.

(vi) Giám sát việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị

Đại biểu HĐND giám sát người giải quyết khiếu nại, tố cáo có thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ mà của họ được quy định trong Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2018, Luật Tiếp công dân năm 2013 và các quy định khác của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân.

(vii) Giám sát việc bảo đảm các nguyên tắc giải quyết khiếu nại, tố cáo

Để có thể giám sát được việc đảm bảo các nguyên tắc giải quyết khiếu nại,

tố cáo, đại biểu HĐND cần phải nắm được các nguyên tắc này theo luật định.

Giải quyết khiếu nại phải đảm bảo nguyên tắc sau: "Việc khiếu nại và giải

quyết khiếu nại phải được thực hiện theo quy định của pháp luật; bảo đảm khách quan, công khai, dân chủ và kịp thời"8.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc giải quyết tố cáo phải đảm bảo các nguyên tắc sau°:

- Việc giải quyết tố cáo phải kịp thời, chính xác, khách quan, đúng thẩm

quyền, trình tự, thủ tục và thời hạn theo quy định của pháp luật.

88 Điều 4, Luật Khiếu nại năm 2011.

Điều 4, Luật Tố cáo năm 2018.

209

- Việc giải quyết tố cáo phải đảm bảo an toàn cho người tố cáo; đảm bảo

quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo trong quá trình giải quyết tố cáo.

c. Một số hoạt động cần chú ý trong giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo

của công dân

- Tiếp nhận và phân loại đơn, thư: Để thuận tiện cho việc xử lý đơn, thư,

khi tiếp nhận xong, đại biểu cần phân loại đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị thành các loại: Đơn khiếu nại hay đơn tố cáo, đơn, thư trùng lắp, đơn, thư khiếu nại tập thể, nội dung tố cáo (về đất đai, về hành chính, về hình sự...), đối tượng khiếu nại, tố cáo..., nội dung kiến nghị... Từ việc phân loại này, đại biểu lựa chọn phương án xử lý đơn, thư sao cho phù hợp, hiệu quả.

- Xử lý đơn, thư: Trên cơ sở đơn, thư đã phân loại, đại biểu tiến hành xử lý đơn theo nguyên tắc: Nắm rõ chức năng, nhiệm vụ của đại biểu được pháp luật quy định (chuyển đơn, đôn đốc và theo dõi việc xử lý, gặp người đứng đầu cơ quan để tìm hiểu và yêu cầu xem xét lại, yêu cầu cấp trên của cơ quan, đơn vị đó giải quyết); nắm rõ trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của từng cơ quan (được quy định trong Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2018, quy định trong chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan); xác định các yếu tố pháp lý liên quan tới nội dung đơn (nội dung vụ việc, bằng chứng, căn cứ pháp lý, cần tìm hiểu hay xác minh thêm nội dung gì,...); tập hợp tài liệu, các văn bản có liên quan, phục vụ cho việc giám sát giải quyết vụ việc (pháp luật, các văn bản hướng dẫn...). Đại biểu có thể phải tìm hiểu, xác minh thực tế. Đại biểu HĐND gửi yêu cầu theo mẫu chuyển đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị hoặc thông qua Thường trực HĐND cấp tỉnh để chuyển đơn. Đại biểu không chuyển khiểu nại, tố cáo trong những trường hợp sau: Khiếu nại, tố cáo nhiều lần đã được hướng dẫn giải quyết hoặc chuyển đơn; nội dung không rõ ràng; không rõ tên, địa chỉ của người gửi (với đơn, thư nhận qua đường bưu điện); khiếu nại đã có quyết định giải quyết cuối cùng của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền mà đại biểu xét thấy việc giải quyết đó là đúng pháp luật.

- Đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị

210

Để làm hết trách nhiệm của mình, đại biểu không chỉ dừng ở việc chuyển đơn mà còn phải theo dõi việc cơ quan, tổ chức, cá nhân xử lý đơn thư như thế

nào. Đại biểu nên lập sổ theo dõi đơn, thư đã được gửi đến cơ quan, tổ chức, cá

nhân nào, gửi ngày nào. Trên cơ sở quy định của pháp luật về thời hạn trả lời đơn thư, đại biểu đôn đốc người có trách nhiệm giải quyết thông qua hình thức gặp gỡ trực tiếp hoặc tiếp tục gửi công văn, thư để nhắc về thời hạn giải quyết. Trong trường hợp đơn, thư được giải quyết nhưng đại biểu xét thấy việc giải quyết không thỏa đáng, đại biểu gặp người đứng đầu cơ quan, tổ chức để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại; khi cần thiết, đại biểu yêu cầu cơ quan, tổ chức cấp trên của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó giải quyết.

211

CÂU HỎI THẢO LUẬN

1. Phân tích những khó khăn, vướng mắc trong thực hiện hoạt động giám

sát của HĐND tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác) và đề xuất những giải pháp để khắc phục những khó khăn, vướng mắc.

2. Thực tế hiện nay của tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương (nơi cá nhân

đại biểu HĐND công tác) đòi hỏi cần tập trung giám sát những lĩnh vực nào? Đại biểu HĐND cấp tỉnh cần làm gì giám sát có hiệu quả những nội dung này?

3. Nêu những hạn chế trong thực hiện hoạt động chất vấn của đại biểu

HĐND tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác) đề xuất giải pháp để khắc phục.

4. Kinh nghiệm của cá nhân đại biểu HĐND trong thực hiện giám sát?

5. Kinh nghiệm của cá nhân đại biểu HĐND trong giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân?

212

TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO HỌC VIÊN

1. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2019).

2. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

3. Luật Khiếu nại năm 2011.

4. Luật Tiếp công dân năm 2013.

5. Luật Tố cáo năm 2018.

6. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

7. Chương trình hoạt động giám sát toàn khóa/năm của HĐND tỉnh/thành

phố trực thuộc trung ương (nơi đại biểu HĐND công tác).

213

BỘ NỘI VỤ

TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN

BỒI DƯỠNG ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

ẤP HUVỆN, CẤP XÃ NHIỆM KỲ 2021- 2026

Ba kè he Quyết định số 846 /QĐ-BNV ngày 08 tháng 08 năm 2021

của Bộ trưởng Bộ Nội vụ)

HÀ NỘI, THÁNG 8 NĂM 2021

BAN CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN

1. Đồng chí Phạm Thị Thanh Trà, Bộ trưởng Bộ Nội vụ- Trưởng ban.

2. Đồng chí Triệu Văn Cường, Thứ trưởng Bộ Nội vụ- Phó trưởng ban.

3. Đồng chí Lại Đức Vượng, Vụ trưởng Vụ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, Bộ Nội vụ- Ủy viên.

4. Đồng chí Đặng Xuân Hoan, Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia-

Ủy viên.

THƯỜNG TRỰC BIÊN SOẠN

1. PGS.TS. Triệu Văn Cường, Thứ trưởng Bộ Nội vụ- Trưởng ban;

2. TS. Đặng Xuân Hoan, Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia- Phó

Trưởng ban;

3. TS. Lại Đức Vượng, Vụ trưởng Vụ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công

chức, viên chức, Bộ Nội vụ- Phó Trưởng ban;

4. GS.TS. Phùng Hữu Phú, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung

ương- Chuyên gia;

5. GS.TS. Vũ Văn Hiền, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương-

Chuyên gia;

6. PGS.TS. Lương Thanh Cường, Phó Giám đốc Học viện Hành chính

Quốc gia- Thư ký.

NHÓM BIÊN SOẠN

CHUYÊN ĐỀ 1

1. TS. Đỗ Thị Kim Tiên, Học viện Hành chính Quốc gia;

2. TS. Bùi Thị Thùy Nhi, Học viện Hành chính Quốc gia.

CHUYÊN ĐỀ 2

1. PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Học viện Hành chính Quốc gia;

2. TS. Đàm Bích Hiên, Học viện Hành chính Quốc gia.

CHUYÊN ĐỀ 3

1. TS. Nguyễn Thị Hà, Học viện Hành chính Quốc gia;

2. PGS.TS. Nguyễn Văn Hậu, Học viện Hành chính Quốc gia.

CHUYÊN ĐỀ 4

1. PGS.TS. Lê Thị Vân Hạnh, Học viện Hành chính Quốc gia;

2. PGSTS. Nguyễn Thị Vân Hương, Học viện Hành chính Quốc gia.

CHUYÊN ĐỀ 5

1. TS. Lê Như Thanh, Học viện Hành chính Quốc gia;

2. PGS.TS. Ngô Thành Can, Học viện Hành chính Quốc gia.
1. TS. Nguyễn Thị Hà, Học viện Hành chính Quốc gia;
2. PGS.TS. Nguyễn Văn Hậu, Học viện Hành chính Quốc gia.
2. PGS.TS. Đặng Khắc Ánh, Học viện Hành chính Quốc gia.
2. TS Nguyễn Xuân Thu, Học viện Hành chính Quốc gia.
CHUYÊN ĐỀ 9
2. PGS.TS. Nguyễn Thị Phượng, Học viện Hành chính Quốc gia.
1. TS. Trần Thị Thoa, Học viện Hành chính Quốc gia.
CHUYÊN ĐỀ 11
1. PGS.TS. Đặng Khắc Ánh, Học viện Hành chính Quốc gia;
2. TS. Nguyễn Viết Định, Học viện Hành chính Quốc gia. THƯ VIỆN PHÁP LUẬT* Ter +84-28-3930 3279 * www.ThuVienPhapLuat.vn
1. TS. Tạ Thị Hương, Học viện Hành chính Quốc gia;
2. ThS. Trương Thị Ngọc Lan, Học viện Hành chính Quốc gia.
CHUYÊN ĐỀ 13
1. TS. Tạ Thị Hương, Học viện Hành chính Quốc gia;
2. TS. Đặng Thị Minh, Học viện Hành chính Quốc gia.
CHUYÊN ĐỀ 14
1. TS. Nguyễn Thị Lan Anh, Học viện Hành chính Quốc gia;

CHUYÊN ĐỂ 6

CHUYÊN ĐỀ 7

1.TS. Nguyễn Đăng Quế, Học viện Hành chính Quốc gia;

CHUYÊN ĐỀ 8

1. TS. Lê Toàn Thắng, Học viện Hành chính Quốc gia;

1. TS. Nguyễn Thị Vân Hà, Học viện Hành chính Quốc gia;

CHUYÊN ĐỀ 10

CHUYÊN ĐỀ 12

2. ThS. Doãn Minh Thắng, Học viện Hành chính Quốc gia.

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BHYT
Bảo hiểm y tế
CQĐP
Chính quyền địa phương
CNTT
Công nghệ thông tin
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
HĐND
Hội đồng nhân dân
NSNN
Ngân sách nhà nước
NTM
Nông thôn mới
TT&TT
Thông tin và truyền thông
TAND
Tòa án nhân dân
UBND
Ủy ban nhân dân
VKSND
Việt Kiểm sát nhân dân
XDNTM
Xây dựng nông thôn mới

MỤC LỤC

Chuyên đề 1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐẤT

NƯỚC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO CHÍNH QUYỀN CẤP

HUYỆN, CẤP XÃ . 1

Chuyên đề 2 CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG

NHÂN DÂN CẤP HUYỆN, CẤP XÃ.. 25

Chuyên đề 3 KỸ NĂNG GIÁM SÁT CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN

DÂN CẤP HUYỆN, CẤP XÃ .. .73

Chuyên đề 4 KỸ NĂNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỰC THI NHIỆM VỤ CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN, CẤP XÃ.... 99

Chuyên đề 5 KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH, THẢO LUẬN, TRANH LUẬN CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN, CẤP XÃ........ 126

Chuyên đề 6 KỸ NĂNG TIẾP XÚC CỬ TRI, TIẾP CÔNG DÂN CỦA ĐẠI

BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN, CẤP XÃ.. .152

Chuyên đề 7 KỸ NĂNG CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP

HUYỆN, CẤP XÃ TRONG THAM GIA XÂY DỰNG, BAN HÀNH NGHỊ

QUYẾT.. 183

Chuyên đề 8 KỸ NĂNG THẨM TRA, GIÁM SÁT THỰC HIỆN NGÂN

SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN, CẤP XÃ. 207

Chuyên đề 9 KỸ NĂNG GIÁM SÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI

Ở CẤP HUYỆN, CẤP XÃ. .236

Chuyên đề 10 KỸ NĂNG GIÁM SÁT XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở

HUYỆN, XÃ.. 259

Chuyên đề 11 KỸ NĂNG GIÁM SÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÔ THỊ

Ở QUẬN, PHƯỜNG.
294

Chuyên đề 12 KỸ NĂNG GIÁM SÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN

SINH XÃ HỘI Ở CẤP HUYỆN, CẤP XÃ . 309

Chuyên đề 13 KỸ NĂNG GIÁM SÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN

HÓA, GIÁO DỤC, Y TẾ Ở CẤP HUYỆN, CẤP XÃ .331

Chuyên đề 14 KỸ NĂNG THU THẬP VÀ XỬ LÝ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN,

CẤP XÃ.
358

Chuyên đề 1

TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐẤT NƯỚC

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO CHÍNH QUYỀN

CẤP HUYỆN, CẤP XÃ

I. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

1. Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội của đất nước giai đoạn

2016 - 2020

Giai đoạn 2016 - 2020 là giai đoạn 5 năm lần thứ 2 trong Chiến lược phát

triển kinh tế - xã hội của Việt Nam 10 năm (2011 - 2020). Đây là giai đoạn được đánh giá là bản lề quan trọng, kế thừa thành tựu của 30 năm tăng trưởng và phát triển sau đổi mới, với thế và lực của đất nước ngày càng lớn mạnh.

a. Bối cảnh trong nước và quốc tế

Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 được thực hiện trong bối cảnh quốc tế, trong nước có những thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen. Tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước, đối tác lớn trên thế giới và trong khu vực ngày càng gay gắt, xung đột thương mại và rủi ro trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế gia tăng. Trong khi đó, khoa học công nghệ phát triển nhanh và mạnh. Cuộc

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động sâu rộng đến các quốc gia trên nhiều phương diện. Đặc biệt, từ đầu năm 2020, đại dịch Covid-19 đã xuất hiện và bùng phát trên phạm vi toàn cầu, ảnh hưởng rất nặng nề đến tất cả các lĩnh vực, dẫn đến tình trạng suy thoái kinh tế thế giới nghiêm trọng.

Ở trong nước, nền kinh tế vẫn còn những hạn chế, bất cập nội tại. Đại dịch

Covid-19 đã tác động, ảnh hưởng lớn đến nhiều mặt của đời sống xã hội; sản

xuất kinh doanh bị đình trệ; nhiều hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội bị ảnh hưởng nghiêm trọng; nhiều lao động thiểu, mất việc làm, giảm sâu thu nhập. Trong khi đó, biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, thiên tai, nhất là nắng nóng, hạn hán, giông lốc, sạt lở, lũ lụt và xâm nhập mặn, thiếu nước ngọt... gây thiệt hại nặng nề, tác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống.

1

b. Những kết quả đã đạt được

- Về thể chế kinh tế thị trường: đã hình thành hệ thống pháp luật tương đối

đầy đủ, toàn diện; kịp thời triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 và thể chế

hoá các chủ trương, đường lối của Đảng trên các lĩnh vực. Từ tháng 7/2016 đến hết năm 2020, Quốc hội đã ban hành 65 luật và 122 nghị quyết「; Chính phủ hằng năm ban hành khoảng 170 nghị định, trong đó hơn 70% số lượng nghị định trực tiếp liên quan đến hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các loại thị trường vận hành cơ bản thông suốt, bước đầu gắn kết với khu vực và quốc tế; thị trường chứng khoán phát triển khá ổn định; kết nối cung cầu thị trường lao động hiệu quả hơn; thị trường khoa học và công nghệ bước đầu phát triển.

Tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được kiện toàn theo hướng tinh gọn,

hiệu lực, hiệu quả, giảm cấp trung gian, đẩy mạnh phân cấp, đề cao trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu. Tỷ lệ tinh giản biên chế công chức, biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách lần lượt đạt 8,68% và 7,56%, giảm gánh nặng cho ngân sách hàng chục nghìn tỷ đồng?. Đã hoàn thành việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã. Kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính nhà nước được tăng cường. Các cấp, các ngành đã tập trung thực hiện đơn giản hoá, cắt giảm thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Chất lượng giải quyết thủ tục hành chính và dịch vụ công được cải thiện thông qua triển khai cơ chế một cửa và cổng dịch vụ công các cấp. Xây dựng Chính phủ điện tử được triển khai mạnh mẽ; trong đó nhiều nền tảng quan trọng do doanh nghiệp Việt Nam làm chủ công nghệ vận hành hiệu quả. Tăng cường họp, làm việc trực tuyến, xử lý hồ sơ công việc trên môi trường điện tử. Phòng, chống tham nhũng, lãng phí được thực hiện nghiêm;

đã điều tra, truy tố, đưa ra xét xử nghiêm minh, công khai nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng nghiêm trọng, góp phần củng cố niềm tin trong nhân dân. ' Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 và 5 năm 2016 -2020 của Chính phủ (vanban.chinhphu.vn).

- Thời báo tài chính Việt Nam, Giai đoạn từ năm 2016 - 2020: Giảm chi ngân sách cả chục nghìn tỷ đồng nhờ tinh giản biên chế (08/05/2020) .

2

Kinh tế tư nhân phát triển mạnh, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong

nền kinh tế; đã hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, có thương hiệu và năng lực cạnh tranh khu vực, quốc tế. Kinh tế tập thể, hợp tác xã có bước

phát triển, xuất hiện nhiều mô hình mới, hiệu quả. Tinh thần khởi nghiệp lan toả rộng rãi; các mô hình kinh doanh mới và phong trào đổi mới, sáng tạo được nhân rộng. Mỗi năm có trên 100.000 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký bình quân tăng hơn 1,8 lần so với năm 20153. Xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam được cải thiện đáng kể, tăng từ thứ 88/183 năm 2010 lên thứ 70/190 quốc gia, vùng lãnh thổ năm 20204.

- Về tình hình kinh tế vĩ mô: cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát ở

mức thấp, chất lượng tăng trưởng được nâng lên, các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện. Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2019 đạt khá cao, bình quân 6,8%/năm. Năm 2020, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh, trong khi hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tăng trưởng âm, Việt Nam tăng trưởng cả năm vẫn đạt 2,91%, là một trong những quốc gia tăng trưởng cao nhất trong khu

vực và trên thế giới nhờ khả năng tận dụng nội lực và thích ứng linh hoạt của nền kinh tế. Quy mô GDP đã tăng khoảng 1,4 lần so với năm 2015, trở thành

nền kinh tế đứng thứ 4 ASEAN; GDP bình quân đầu người năm 2020 đạt khoảng 2.750 USD°.

6,21% 6,81% 7,08% 7,02%

2,91%

2016 2017 2018 2019 2020

Tăng trưởng GDP giai đoạn 2016-2020 (Đvt: %)

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Báo cáo khảo sát Doanh nghiệp Việt Nam năm 2020 và đánh giá 10 năm thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TW.

4 Ngân hàng Thế giới (WB), Doing Business 2020.

5Tổng cục thống kê, Kinh tế Việt Nam: một năm đầy bản lĩnh (gso.gov.vn).

3

Năng suất lao động được cải thiện rõ nét, bình quân giai đoạn 2016 - 2020

tăng 5,8%/năm, cao hơn giai đoạn 2011 - 2015 (4,3%) và vượt mục tiêu đề ra (5%). Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) bình quân 5 năm đạt khoảng 45,2% (mục tiêu đề ra là 30 - 35%)°. Mô hình tăng trưởng dần chuyển dịch từ chiều rộng sang chiều sâu, giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài

nguyên, xuất khẩu thô, lao động giá rẻ, mở rộng tín dụng..., từng bước chuyển sang dựa vào ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được kiểm soát, giảm xuống còn dưới 4% giai

đoạn 2016 - 2020. Tỷ giá, thị trường ngoại hối khá ổn định; lãi suất có xu hướng giảm dần; cán cân thanh toán thặng dư, dự trữ ngoại hối đạt kỷ lục; hệ số tín nhiệm quốc gia được cải thiện. Kỷ cương, kỷ luật tài chính - ngân sách nhà nước được tăng cường; cơ cấu lại ngân sách nhà nước đạt kết quả tích cực, tỷ trọng thu nội địa tăng lên đáng kể so với giai đoạn 2011 - 2015; tỷ trọng chi đầu tư phát triển tăng lên 27 - 28%, tỷ trọng chi thường xuyên giảm còn 62 - 63%7. Bội chi ngân sách nhà nước và nợ công được kiểm soát, giảm so với giai đoạn trước.

33,0% 33,4% 33,5% 33,9% 33,4%

2016 2017 2018 2019 2020

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP (Đvt: %)

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP đạt khoảng 33,4%. Tổng kim

ngạch xuất, nhập khẩu năm 2020 đạt khoảng 535 tỷ USD mặc dù thương mại quốc tế giảm mạnh, trong đó điểm sáng là xuất khẩu của khu vực trong nước tăng mạnh, xuất siêu 5 năm liên tiếp. Công tác quản lý thị trường, giá cả, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại được tăng cường.

Tổng cục thống kê (gso.gov.vn).

Báo cáo thường niên, Bộ Tài chính (mof.gov.vn).

4

Tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng được đẩy mạnh và đạt nhiều kết quả. Các trọng tâm cơ cấu lại về đầu tư công, hệ thống

các tổ chức tín dụng, hệ thống doanh nghiệp nhà nước được chú trọng. Vốn đầu tư công được tập trung cho những dự án cấp bách, trọng điểm, có tính kết nối, lan toả cao; giải ngân vốn đầu tư công được chỉ đạo quyết liệt. Cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu được triển khai đồng bộ, hiệu quả hơn, bảo đảm ổn định, an toàn hệ thống; tỷ lệ nợ xấu ở mức dưới 3%. Việc sắp xếp lại, cổ phần hoá, thoái vốn thực chất hơn; hiệu quả hoạt động, năng lực cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp nhà nước được nâng lên.

NĂM THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC

PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI 2011-2020

CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH VÀ NỘI NGÀNH

CHUYỂN BIẾN TÍCH CỰC

Cơ cấu GDP (%)

Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Công nghiệp, xây dựng và

Năm 2010 Mục tiêu năm 2020 Kết quả thực hiện

năm 2020

18, 4,85

81,1 85 85,15

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Cơ cấu giữa các ngành và nội ngành tiếp tục chuyển dịch tích cực, đúng hướng. Tỷ trọng ngành khai khoáng giảm, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế

tạo tăng nhanh; tỷ trọng hàng xuất khẩu qua chế biến tăng từ 65% năm 2016 lên 85% năm 2020. Tập trung phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, hữu cơ; nhiều nhà máy chế biến nông sản, thực phẩm với công nghệ hiện đại đi vào hoạt động; kinh tế hợp tác và doanh nghiệp nông nghiệp phát triển mạnh; trong bối cảnh khó khăn do đại dịch Covid-19, nông nghiệp khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế; sản xuất lúa gạo được mùa, được giá, đời sống người nông dân được cải thiện; an ninh lương thực được bảo đảm. Nhiều ngành dịch vụ có tiềm năng, lợi thế, hàm lượng khoa học công nghệ cao như công nghệ thông tin, truyền thông, vận tải, logistics, tài chính, ngân hàng...

5

phát triển nhanh; trong đó một số doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin

có bước tiến vượt bậc. Ngành du lịch phát triển mạnh, khách quốc tế tăng bình quân gần 30%/năm, riêng năm 2020 chịu ảnh hưởng nặng nề nhưng dự kiến sẽ phục hồi mạnh mẽ sau dịch.

- Về nguồn lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội:

Quy mô và chất lượng nguồn nhân lực tăng lên, tỷ lệ lao động qua đào tạo

đạt 64,5%. Tiềm lực khoa học và công nghệ được tăng cường; công nghệ hiện đại được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực; thu hút nhiều dự án công nghệ

cao của một số tập đoàn hàng đầu thế giới. Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia có bước phát triển. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt

Nam năm 2020 xếp thứ 42/131, đứng đầu nhóm 29 quốc gia, nền kinh tế cùng mức thu nhập°.

Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội được tập trung nguồn lực đầu tư;

nhiều công trình, dự án quan trọng, quy mô lớn đã hoàn thành trong giai đoạn 2016 - 2019. Nhiều công trình hạ tầng về giao thông, năng lượng, thủy lợi, đô thị, khu công nghiệp, thông tin truyền thông, y tế, giáo dục... được hoàn thành, đưa vào sử dụng, tạo thêm năng lực, sức cạnh tranh và diện mạo mới cho đất nước.

Hệ thống đô thị tăng nhanh, tỷ lệ đô thị hóa đạt gần 40%, vượt chỉ tiêu đề

ra. Xây dựng nông thôn mới hoàn thành trước thời hạn gần 2 năm; đến cuối năm 2020 có khoảng 63% xã đạt chuẩn, vượt xa mục tiêu đề ra (50%).

- Về lĩnh vực văn hoá, xã hội:

Đã đạt nhiều kết quả tích cực, an sinh xã hội cơ bản được bảo đảm, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện. Mở rộng đối tượng, nâng mức hỗ trợ người có công và tập trung giải quyết hồ sơ tồn đọng; đến nay có gần 1,4 triệu người có công đang hưởng chế độ ưu đãi hàng tháng. Các chính sách hỗ trợ phát triển nhà ở đã được quan tâm chú trọng. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm từ gần 10% năm 2015 xuống dưới 3% năm 2020. Diện bao phủ bảo hiểm xã hội được mở rộng, tăng hơn 1,3 lần so với năm 2015, chiếm gần 33%

8https://nhandan.vn/khoa-hoc/chi-so-doi-moi-sang-tao-toan-cau-viet-nam-dung-dau-nhom-29-nen-kinh-te-cung- muc-thu-nhap-615355/

6

lực lượng lao động vào năm 2020°. Hệ thống y tế dự phòng và mạng lưới y tế cơ sở được củng cố; năng lực giám sát, dự báo, phát hiện và khống chế dịch bệnh được nâng lên. Ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học công nghệ trong khám, chữa bệnh và quản lý y tế.

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục được tích cực triển khai theo tinh thần

là quốc sách hàng đầu. Đổi mới kỳ thi trung học phổ thông quốc gia, giảm áp lực và chi phí xã hội. Chất lượng giáo dục phổ thông, giáo dục đại học tiếp tục được nâng lên. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; quan tâm hơn giáo dục vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hình thức dạy và học trực tuyến được triển khai mạnh mẽ, nhất là trong thời gian giãn cách xã hội.

Xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã có những chuyển

biến tích cực; nhiều giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc được phát huy, thể hiện rõ nét trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19. Nhiều di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và di sản thiên nhiên được thế giới công nhận. Các chính sách dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, người cao tuổi, trẻ em, gia đình, bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ được đẩy mạnh; thể thao thành tích cao có bước tiến bộ.

Chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta liên tục được cải thiện, thuộc nhóm các nước có mức phát triển con người trung bình cao của thế giới.

- Về quốc phòng, an ninh: quốc phòng, an ninh được tăng cường, chủ quyền quốc gia được giữ vững. Nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân được củng cố ngày càng vững chắc. Sức mạnh tổng hợp của lực lượng vũ trang được nâng cao. Thực hiện đồng bộ các chiến lược, đề án về quân sự, quốc phòng, an ninh, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền biển đảo, biên giới quốc gia. Thực hiện tốt chủ trương bảo đảm quốc phòng, an ninh gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Các lực lượng quân đội, công an đã vào cuộc quyết liệt cùng cả nước trong phòng chống dịch bệnh và phòng chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn. Tham gia tích cực hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Chủ động nắm

°Tổng cục thống kê (gso.gov.vn).

7

chắc tình hình, kịp thời phát hiện, ngăn chặn âm mưu "diễn biến hoà bình", bạo loạn, khủng bố, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; xử lý hiệu quả các vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự; tình hình tội phạm, tai nạn giao thông giảm dần.

- Về đối ngoại và hội nhập quốc tế: quan hệ với các quốc gia, đối tác tiếp

tục được mở rộng, đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả hơn, nhất là đối với 16 đối tác chiến lược và 12 đối tác hợp tác toàn diện; đã ký kết và triển khai hiệu quả 15 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có các hiệp định tiêu chuẩn cao, thị trường rộng lớn là CPTPP và EVFTA. Việt Nam đã đảm nhiệm thành công nhiều cương vị quan trọng tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế, khu vực, nhất

là vai trò nước chủ nhà APEC 2017, Chủ tịch ASEAN 2020, AIPA 41, Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; tổ chức thành công Hội nghị Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN, Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Triều

lần 2... Uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được khẳng định và nâng cao. Giữ vững được môi trường hoà bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.

c. Những hạn chế, bất cập

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2020 không đạt kế hoạch đề ra do tác

động, ảnh hưởng lớn, ngoài dự báo của đại dịch Covid-19, dẫn đến tăng trưởng bình quân 5 năm 2016 - 2020 chưa đạt mục tiêu đề ra. Trong đó, nhiều ngành, lĩnh vực chịu ảnh hưởng nặng nề; số doanh nghiệp ngừng hoạt động tăng mạnh. Khả năng chống chịu của nền kinh tế chưa thật vững chắc; năng lực cạnh tranh và tính tự chủ còn hạn chế. Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại chưa đáp ứng yêu cầu. Đào tạo nguồn nhân lực còn bất cập cả về cơ cấu, số lượng và chất lượng. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa thực sự tạo động lực nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh. Cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng một số lĩnh vực còn chậm, hiệu quả chưa cao. Xã hội hoá dịch vụ công và đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập còn nhiều bất cập.

- Kết quả giảm nghèo đa chiều chưa thực sự bền vững, có nơi nguy cơ tái

nghèo còn cao; khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, tầng lớp nhân dân

8

chậm được thu hẹp. Đời sống của một bộ phận nhân dân còn khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thị trường lao động hiệu quả chưa cao; tỷ lệ lao động khu vực phi chính thức còn lớn. Xuất hiện những hiện tượng đạo đức, văn hoá, ứng xử xuống cấp, gây bức xúc xã hội. Việc giải ngân gói hỗ trợ người lao động, doanh nghiệp bị ảnh hưởng sâu bởi đại dịch Covid-19 còn chậm, chưa đạt yêu cầu đề ra.

- Việc quản lý và xử lý chất thải rắn đô thị còn hạn chế, môi trường nước ở

một số đô thị bị ô nhiễm. Chất lượng không khí ở các đô thị lớn có dấu hiệu suy giảm; rác thải ở khu vực nông thôn, ô nhiễm môi trường tại các làng nghề,

các nhà máy sản xuất công nghiệp gia tăng. Chưa có cơ chế thúc đẩy việc giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải một cách hiệu quả.

- Cải cách hành chính một số lĩnh vực còn bất cập; sắp xếp, tinh gọn tổ

chức bộ máy, tinh giản biên chế còn khó khăn. Đổi mới lề lối làm việc, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong một số cơ quan, đơn vị chưa đáp ứng yêu cầu. Việc thực thi, chấp hành pháp luật có nơi chưa nghiêm. Quản lý biên giới, bảo vệ chủ quyền quốc gia còn nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội trên một số địa bàn diễn biến phức tạp. Công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng còn một số bất cập. Tham nhũng, lãng phí ở một số nơi còn chưa được phát hiện, xử lý kịp thời. Khiếu kiện về đất đai còn phức tạp, kéo dài ở một số địa phương. Năng lực hội nhập quốc tế có mặt còn hạn chế; chưa tranh thủ tốt cơ hội và lợi ích của hội nhập quốc tế cho phát triển đất nước.

Tóm lại, mặc dù còn những tồn tại, hạn chế và gặp nhiều khó khăn, thách

thức, nhưng nhờ sự nỗ lực rất lớn và quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực, tạo nhiều dấu ấn nổi bật trong giai đoạn 2016 - 2020, tô đậm thành tựu của 35 năm đổi mới với những bước tiến vượt bậc. Mặc dù chịu tác động lớn của đại dịch Covid-19, nhưng Việt Nam đã thành công trong phòng chống, kiểm soát dịch bệnh và phục hồi, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Kinh tế vĩ mô ổn định, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân. Các lĩnh vực văn hoá, xã hội, môi trường, quốc

9

phòng, an ninh, đối ngoại tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay'.

2. Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước giai đoạn 2021 -

202611

a. Mục tiêu tổng quát

- Bảo đảm tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững trên cơ sở ổn định

kinh tế vĩ mô, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn mức bình quân của 5 năm 2016 - 2020, đến năm 2025 là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; thực hiện các giải pháp khắc phục tác động của đại dịch Covid- 19, nhanh chóng phục hồi kinh tế.

- Phát huy mạnh mẽ giá trị văn hoá, con người Việt Nam và sức sáng tạo

của mỗi cá nhân.

- Từng bước xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, dân chủ,

công bằng, văn minh; bảo đảm cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân.

- Bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao đời sống nhân dân. Chú trọng bảo vệ

môi trường và ứng phó hiệu quả biến đổi khí hậu.

- Tăng cường quốc phòng, an ninh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ

vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước.

- Chủ động hội nhập quốc tế, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và vị

thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

b. Các chỉ tiêu chủ yếu

- Về kinh tế:

10 Xem thêm: Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII (https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xiii/bao-cao-cua- ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xii-ve-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiii-cua-dang-3670).

Nội dung này được biên soạn theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng; xem thêm: "Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2016- 2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2021- 2025", Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, trang 94- 96.

10

+ Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 5 năm

khoảng 6,5 - 7%.

+ GDP bình quân đầu người đến năm 2025 đạt 4.700 - 5.000 USD.

+ Tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt trên 25%; kinh tế

số đạt khoảng 20% GDP.

+ Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt

khoảng 45%.

+ Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân trên 6,5%/năm.

+ Tỉ lệ đô thị hoá khoảng 45%.

- Về xã hội:

+ Tuổi thọ trung bình khoảng 74,5 tuổi, trong đó thời gian sống khoẻ mạnh

đạt tối thiểu 67 năm.

+ Tỉ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội khoảng 25%.

+ Tỉ lệ lao động qua đào tạo là 70%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt

28 - 30%.

+ Tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%.

+ Tỉ lệ nghèo đa chiều duy trì mức giảm 1 - 1,5%/năm.

+ Có 10 bác sĩ và 30 giường bệnh/1 vạn dân.

+ Tỉ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 95% dân số.

+ Tỉ lệ số xã đạt chuẩn nông thôn mới tối thiểu 80%, trong đó có 10% đạt

chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.

- Về môi trường:

+ Tỉ lệ sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh của dân cư thành thị là 95 -

100% và nông thôn là 93 - 95%.

+ Tỉ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn,

quy chuẩn đạt 90%.

+ Tỉ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý

nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 92%.

+ Tỉ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý đạt 100%.

+ Tỉ lệ che phủ rừng ổn định ở mức 42%.

11

Quyết tâm phấn đấu đạt các mục tiêu, chỉ tiêu cao nhất, đồng thời chuẩn bị các phương án để chủ động thích ứng với những biến động của tình hình.

II. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương giai đoạn 2016 - 2021 và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2026'

1. Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương giai đoạn 2016 - 2021

a. Tổng quan tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh/thành phố trực

thuộc trung ương; (kết quả, hạn chế; thuận lợi, khó khăn; lợi thế so sánh của tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương)

b. Tổng quan tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện/quận/thị

xã/thành phố thuộc tỉnh/thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (kết quả, hạn chế; thuận lợi, khó khăn; lợi thế so sánh của huyện/quận/thị xã/thành phố thuộc tỉnh/thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương)

c. Tổng quan tình hình phát triển kinh tế - xã hội của xã/phường/thị trấn

(kết quả, hạn chế; thuận lợi, khó khăn; lợi thế so sánh của xã/phường/thị trấn)

2. Mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2026

a. Mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh/thành phố trực thuộc

trung ương giai đoạn 2021 - 2026

b. Mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện/quận/thị xã/thành phố

thuộc tỉnh/thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương giai đoạn 2021 - 2026

c. Mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội xã/phường/thị trấn giai đoạn

2021 - 2026

III. Những vấn đề đặt ra cho chính quyền cấp huyện, cấp xã

1. Chính quyền cấp huyện, cấp xã trong quy trình triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Về quy trình xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội:

2 Nội dung này do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giao cho cơ sở đào tạo, bồi dưỡng biên soạn, bảo đảm nội dung phù hợp với thực tế địa phương.

Nội dung này để các địa phương tham khảo khi biên soạn tài liệu. Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao biên soạn cần nghiên cứu thực tế địa phương để biên soạn, bảo đảm phù hợp thực tế ở địa phương.

12

Trên cơ sở Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kế hoạch hàng năm, Khung hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chính quyền địa phương ở cấp tỉnh tiến hành xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư (vào tháng 7 hàng năm) thực hiện việc gửi bản

hướng dẫn và định hướng nội dung kế hoạch, các chính sách mới, cung cấp thông tin về bối cảnh thế giới, trong nước có thể ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội cho các tỉnh, thành. Căn cứ vào bản hướng dẫn này, UBND cấp tỉnh sẽ có văn bản chỉ đạo các ngành, các cấp trên địa bàn triển khai xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Sở Kế hoạch và Đầu tư được giao nhiệm vụ tham mưu và hướng dẫn các ngành và chính quyền cấp huyện xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Hướng dẫn của Sở Kế hoạch và Đầu tư là căn cứ để các Sở, Ban ngành và

chính quyền cấp huyện xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (bao gồm việc hướng dẫn, triển khai đến các xã, phòng ban chuyên môn và các đơn vị liên quan xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đơn vị mình). Trên cơ sở đó, chính quyền cấp huyện sẽ hoàn thiện bản dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế

- xã hội của mình, gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp vào bản dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương. Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh, thành phố phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm trực tiếp báo cáo và bảo vệ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành liên quan.

Trên cơ sở nghị quyết của Quốc hội (tháng 12 hằng năm), Thủ tướng Chính

phủ giao kế hoạch cho các tỉnh. Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành văn bản hướng dẫn và biện pháp tổ chức thực hiện. Trên cơ sở số giao chính thức từ trung ương, Sở Kế hoạch và Đầu tư hoàn thiện bản dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội để trình HĐND cấp tỉnh. Bản kế hoạch sau khi được thông qua sẽ được giao các ngành, các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh triển khai thực hiện.

13

Kế hoạch cấp quốc gia

(Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

đất nước)

Kế hoạch của các cơ Kế hoạch phát triển Kế hoạch phát triển

quan trung ương kinh tế - xã hội cấp tỉnh ngành, lĩnh vực

Kế hoạch phát triển

kinh tế - xã hội cấp huyện

Kế hoạch phát triển

kinh tế - xã hội cấp xã

Sơ đồ 1: Lập kế hoạch các cấp

Tại cấp huyện, sau khi tiếp thu chủ trương từ UBND cấp tỉnh và của

Sở Kế hoạch và Đầu tư, chính quyền cấp huyện sẽ thực hiện việc ban hành chủ trương lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Trên cơ sở đó, phổ biến rộng rãi chủ trương lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tới các ban, ngành trong huyện, xã, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các doanh nghiệp trên địa bàn. Sau khi nhận được hướng dẫn từ Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện, các xã/phường/thị trấn triển khai công tác lập kế hoạch theo

quy trình lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm cấp xã, gửi thông tin đầy đủ lên ban chỉ đạo cấp huyện theo yêu cầu.

Trong xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bên cạnh các yếu tố kỹ

thuật, chính quyền cấp huyện cần xác định được các cơ hội thị trường của địa phương trong năm lập kế hoạch. Phương thức thực hiện thông qua phân tích và đánh giá các chuỗi giá trị tiềm năng, xác định các chuỗi giá trị ưu tiên, phân tích chuỗi giá trị ưu tiên, từ đó đề xuất các hoạt động nhằm thúc đẩy phát triển các

14

chuỗi giá trị ưu tiên (các cơ hội thị trường). Nội dung này, về mặt kỹ thuật, cần được tiến hành theo các bước:

(i) Kế thừa các kết quả từ lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp xã, đề

xuất của các ban, ngành cấp huyện, các thông tin của cấp tỉnh liên quan đến cấp huyện, các thông tin sẽ được phân tích và tổng hợp theo từng lĩnh vực ở các ban ngành cấp huyện, tổng hợp chung bởi Phòng Tài chính - Kế hoạch, được tham vấn bởi ban chỉ đạo lập kế hoạch cấp huyện và được thảo luận để thống nhất tại hội nghị kế hoạch cấp huyện;

(ii) Phân tích, tổng hợp từ đề xuất chuỗi giá trị ưu tiên cấp xã và của các

ngành cấp huyện, xem xét và bổ sung để xác định các chuỗi giá trị ưu tiên, cấp huyện;

(iii) Tổng hợp và bổ sung kết quả phân tích chuỗi sản phẩm ưu tiên cấp huyện trên cơ sở tổng hợp các chuỗi sản phẩm ưu tiên của các xã và các ban, ngành cấp huyện đề xuất, từ đó lựa chọn các chuỗi giá trị ưu tiên cấp huyện dựa trên các tiêu chí, có thể là: Quy mô chuỗi sản phẩm, chuỗi sản phẩm phù hợp với chính sách, định hướng chung của tỉnh/của huyện...

Trên cơ sở phân tích, đánh giá, chính quyền cấp huyện sẽ xác định mục

tiêu, bao gồm việc mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể cùng với các chỉ tiêu phát triển của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Mỗi phòng, ban, ngành cấp huyện cần xây dựng mục tiêu cụ thể cho mỗi lĩnh vực cùng các chỉ tiêu phát triển tương ứng dựa trên kết quả phân tích và đề xuất từ cấp xã, kết quả đánh giá tình hình cụ thể từng lĩnh vực. Ban chỉ đạo lập kế hoạch cấp huyện tổng hợp các mục tiêu cụ thể và mục tiêu tổng quát, thảo luận và thống nhất tại hội nghị cấp huyện để thống nhất. Mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể, các chỉ tiêu phát triển của bản kế hoạch đạt được sự nhất trí tại hội nghị kế hoạch cấp

huyện. Mục tiêu bản kế hoạch là phần quan trọng của bản kế hoạch. Bản kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội sẽ được triển khai tại huyện phải là bản kế hoạch phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh/huyện; phù hợp với quy hoạch; phù hợp với kế hoạch phân bổ ngân sách của tỉnh, phù hợp với kế hoạch trung và dài hạn của huyện và đạt được sự đồng thuận từ cộng đồng,
15
H

nhận được phê duyệt của HĐND cấp huyện. Đây là bản kế hoạch có sự tham

vấn, thảo luận ở cấp xã, các phòng ban/ngành cấp huyện, các tổ chức xã hội

nghề nghiệp và các doanh nghiệp trên địa bàn và Sở Kế hoạch và Đầu tư, các

ban, ngành liên quan và do HĐND cấp huyện thảo luận và thông qua bằng nghị

quyết trước khi đưa vào thực hiện.

2. Tình hình kinh tế - xã hội của đất nước giai đoạn 2016 - 2020 và

những vấn đề đặt ra cho chính quyền cấp huyện, cấp xã ở Việt Nam hiện

nay

Trước thành tựu đạt được đáng ghi nhận về tình hình kinh tế - xã hội của

đất nước giai đoạn 2016 - 2020 cùng với những hạn chế, yếu kém tồn tại, gắn

với những mục tiêu phát triển được đề xuất cho 5 năm tới (2021 - 2025), chính

quyền địa phương cấp huyện, cấp xã nên và cần đánh giá, thực hiện những

nhiệm vụ chủ yếu để thúc đẩy phát triển. Những vấn đề đặt ra cho chính quyền

cấp huyện, cấp xã phản ánh trên các phương diện khác nhau.

- Chính quyền cấp huyện, cấp xã đứng trước những khó khăn về nguồn lực

địa phương vốn hạn chế, trong khi cần phải xây dựng và triển khai các kế hoạch

phát triển kinh tế - xã hội đầy kỳ vọng, yêu cầu cao, thể hiện ở các tiêu chí về

tăng trưởng, phát triển,.

- Nguồn nhân lực địa phương: thách thức giữa đẩy mạnh đổi mới thể chế,

tiếp cận thông lệ, luật pháp quốc tế, chính phủ điện tử, chính phủ số, kinh tế số,

xã hội số,... với năng lực thực tế của cán bộ, công chức địa phương;

- Nguồn tài chính vẫn lệ thuộc chủ yếu vào ngân sách nhà nước cấp trên

trong khi chính quyền các cấp đang đẩy mạnh phân quyền, phân cấp. Việc tiếp

nhận lượng công việc lớn, với tính chất ngày càng phức tạp, trong điều kiện tài

chính và kể cả nguồn nhân lực địa phương chưa chủ động được có thể tạo ra

những bất cập, khó khăn. Vậy giải pháp nào để tháo gỡ khó khăn là những vấn

đề đặt ra cần có câu trả lời.

- Các điều kiện khác: hạ tầng, vốn xã hội,

- Thách thức giữa yêu cầu và mục tiêu tăng trưởng nhanh, với phát triển

bền vững, giữa thu hút đầu tư gia tăng lợi ích quốc gia với yêu cầu khai thác

16

tiềm năng và lợi thế của địa phương cho phát triển, nhất là tài nguyên quốc gia không có khả năng tái tạo.

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh cũng đặt ra cho chính quyền những câu

hỏi giải pháp, cơ hội nào cho phát triển sản xuất tại địa phương.

- Thách thức trong việc đánh giá, lựa chọn các lĩnh vực tiềm năng, các chuỗi lợi thế phát triển. Làm thế nào để tranh thủ được cơ hội từ hội nhập trong khi nhiều địa phương có nền tảng xuất phát điểm thấp, thời gian tham gia vào kinh tế thị trường còn ít. Chức năng định hướng phát triển cho các ngành, lĩnh vực lợi thế của địa phương hiện nay có còn là lợi thế hay dễ bị tổn thương. Điều đó phụ thuộc nhiều vào năng lực của nhà hoạch định chính sách ở địa phương với thông tin đầy đủ hay thông tin bất đối xứng, năng lực phân tích, dự báo tốt hay hạn chế,... Quá trình hội nhập và những lợi thế cho xuất khẩu, thúc đẩy sản xuất địa phương, những lợi ích từ các Hiệp định thương mại tự do (FTA), và Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (như EVFTA),... có được tận dụng không cũng tùy thuộc vào sự lựa chọn và quyết định của chính quyền.

- Làm thế nào để sử dụng có hiệu quả các vốn xã hội (mối quan hệ giữa các

địa phương, sự hợp tác giữa địa phương với địa phương khác, thể chế, truyền

thống văn hóa - xã hội,...) vào thúc đẩy phát triển, hay quản lý tài sản công trong nền kinh tế thị trường sao cho có hiệu quả, gia tăng lợi ích quốc gia, góp phần thực hiện các mục tiêu quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Chính quyền cấp huyện, cấp xã cũng đứng trước cơ hội hiện đại hóa, đổi
mới và phát triển từ một nền kinh tế phát triển mạnh các ngành dịch vụ có hàm lượng khoa học công nghệ cao như công nghệ thông tin, truyền thông, vận tải,
logistics, tài chính, ngân hàng... hoặc tụt hậu. Làm thế nào để thực sự được hưởng lợi từ những thành tựu của khoa học và công nghệ, hiện thực hóa chính phủ điện tử, hướng tới chính phủ số, giảm thủ tục, nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý kinh tế - xã hội cũng là những vấn đề đặt ra cho chính quyền cấp huyện và cấp xã.
- Làm thế nào để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, cùng
vượt qua bẫy thu nhập trung bình cũng là vấn đề đặt ra cho chính quyền cấp
17
÷

huyện, xã khi triển khai các kế hoạch quốc gia vào địa phương. Nghiên cứu của

Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) năm 2017 cho thấy, thời gian trung bình để một quốc gia chuyển từ nước thu nhập trung bình thấp lên thu nhập cao khoảng

30 - 40 năm. Đối với Việt Nam, từ năm 2008 đã được coi là nước có thu nhập trung bình. Vì vậy, những thành tựu đạt được về tăng trưởng và thu nhập của người dân mặc dù có tăng lên nhưng thời gian không còn nhiều khi đã qua 12 năm. Nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình và khả năng tụt hậu xa hơn về kinh tế là thách thức lớn. Điều đó cần thiết đòi hỏi một sự thúc đẩy để đất nước đạt được tốc độ phát triển nhanh hơn.

- Thách thức tiếp theo là độ mở của nền kinh tế bên cạnh những tác động

tích cực có thể tác động tiêu cực đến kinh tế trong nước nhanh và mạnh hơn. Điều đó đòi hỏi chính quyền cấp huyện, cấp xã, với thế và lực chưa lớn thì phải đo lường trước độ rủi ro và tiềm năng cho các lĩnh vực sản xuất dễ bị tổn thương của địa phương mình. Trên cơ sở đó có chính sách hỗ trợ phù hợp mà không vi phạm với những cam kết đã ký.

- Khả năng tự chủ của nền kinh tế chưa cao, còn chịu ảnh hưởng mạnh từ

lớn. Vì vậy, chính quyền cấp huyện, cấp xã phải quan tâm đến đổi mới sáng tạo, biến động hoạt động sản xuất khu vực đầu tư nước ngoài và một số thị trường khuyến khích phát triển các ngành, các lĩnh vực có hàm lượng khoa học và giá trị kinh tế cao, mở rộng thị trường,... Chính quyền cấp huyện, cấp xã cần nghiên cứu thế mạnh của địa phương, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, chinh phục thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu, nhân rộng mô hình thành công.

- Ở không ít nơi, chính quyền cấp huyện đang sở hữu nguồn nhân lực chưa

đủ đáp ứng yêu cầu cả về kiến thức, kỹ năng và thái độ làm việc, nhất là trong môi trường công nghệ số, thiếu kỹ năng làm việc trong môi trường quốc tế.

- Các vấn đề xã hội gây áp lực lớn đến phát triển kinh tế - xã hội, như già

hoá dân số, thực chất giai đoạn dân số vàng cũng sắp kết thúc (năm 2025).

- Tình trạng chênh lệch giàu - nghèo và trình độ phát triển.

- Thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn

ngày càng nhanh với cường độ mạnh, khó lường, đặc biệt là ảnh hưởng tiêu cực

18

của đại dịch Covid-19 có thể kéo dài đến những năm đầu của kế hoạch 5 năm 2021 - 2025.

- Những thách thức về khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững nguồn nước,

tài nguyên, đất đai và xử lý ô nhiễm môi trường sẽ tác động nặng nề đến phát triển kinh tế, xã hội.

- Tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên một số địa bàn còn

diễn biến phức tạp.

IV. Một số giải pháp trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương giai đoạn 2021 - 202614

Hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước được thực hiện bởi các chủ thể

khác nhau. Không tồn tại một khu vực độc lập mà các cơ sở sản xuất, kinh doanh, các tổ chức xã hội và hoạt động của nó luôn được gắn với địa phương, vùng lãnh thổ, các đơn vị hành chính nhất định. Kết quả phát triển kinh tế - xã hội của đất nước là sự đóng góp của các ngành, lĩnh vực, các địa phương. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước chịu sự tác động của bối cảnh trong nước, quốc tế, năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành của chính quyền (trong đó có chính quyền cấp huyện, cấp xã). Những yếu tố có khả năng tác động đến phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung cũng chính là những yếu tố tác động đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội của chính quyền cấp huyện, cấp xã.

Cùng với quá trình đổi mới, vượt lên trên những khó khăn, thách thức, tận

dụng cơ hội để lãnh đạo điều hành của đất nước, sự nỗ lực của các ngành, của các cấp, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước 2016 - 2020 đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Điều đó tạo ra thế và lực cho sự phát triển ở những năm tiếp theo. Mặc dù vậy, những thành công vẫn được cho là trong ngắn hạn, tốc độ và chất lượng tăng trưởng, sự già hóa dân số, vấn đề năng lực nội tại của nền kinh

tế và sức cạnh tranh của các ngành, các lĩnh vực chưa cao, vấn đề văn hóa, xã hội, bạo lực học đường, đạo đức xã hội xuống cấp, vấn đề tội phạm, trật tự an

14 Nội dung này để các địa phương tham khảo khi biên soạn tài liệu. Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao biên soạn cần nghiên cứu thực tế địa phương để biên soạn, bảo đảm phù hợp thực tế ở địa phương.

19

toàn xã hội,... còn tồn tại đang là những khó khăn, thách thức cho việc thực hiện các khát vọng về mục tiêu phát triển trong tương lai, nhất là trong 5 năm tới. Đó cũng chính là những vấn đề đặt ra đối với đất nước, trong đó có trách nhiệm của chính quyền các địa phương, trong đó có chính quyền cấp huyện, cấp xã. Làm thế nào để vượt qua những rào cản, thách thức, tận dụng được các cơ hội từ hội nhập và những lợi thế mà quá trình phát triển kinh tế đất nước thời gian qua có được, phát huy các thế mạnh, tiềm năng của địa phương vào việc hiện thực hóa các mục tiêu của đất nước là vấn đề đặt ra cho chính quyền cấp huyện, cấp xã.

1. Phát triển sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng

Với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2019 đạt khá cao, bình quân

6,8%/năm và năm 2020 là 2,91%, khi chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh, thì tăng trưởng bình quân 5 năm 2016 -2020 khoảng 5,9% vẫn chưa đạt được mục tiêu đề ra (theo Chỉ tiêu 6,5 - 7% đặt ra trong Nghị quyết số 142/2016/QH13). Bên cạnh đó, GDP bình quân đầu người đến cuối kỳ cũng còn là khoảng cách cho việc đạt được mục tiêu 3.200 - 3.500 USD (thực tế đạt 2.750 USD),... Trong khi Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bẫy thu nhập trung bình. Đồng thời, làm thể nào để đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 5 năm (2021 - 2025) khoảng 6,5 - 7% và GDP bình quân đầu người đến năm 2025 đạt 4.700 - 5.000 USD là những vấn đề đặt ra cho các cấp, các ngành. Đối với chính quyền cấp huyện, cấp xã là các đơn vị cơ sở và cấp gần cơ sở nhất, hiểu rõ được những khó khăn, thách thức, cùng với tiềm năng và lợi thế của địa phương về các ngành, lĩnh vực, cần có chính sách thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, thu hút đầu tư, kiểm soát hiệu quả đầu tư, tạo ra sự tăng trưởng, kết nối và góp phần tăng tính khả thi trong những mục tiêu của tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương,

mục tiêu của cả nước đã đề ra.

2. Vượt qua bẫy thu nhập trung bình

Kiên trì cải cách, nghiên cứu định hướng chính sách về cơ cấu lại nền kinh

tế, đẩy mạnh đầu tư hạ tầng, nâng cao sức cạnh tranh, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyển đổi số, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo,... và tranh thủ tận dụng nguồn lực con người để phát triển đất nước, nhất là trong giai

20

đoạn dân số vàng, trước khi chuyển sang giai đoạn già hóa dân số cần có sự vào cuộc của các cấp, các ngành. Chính quyền cấp huyện, cấp xã cần quan tâm đổi mới sáng tạo, có chính sách khuyến khích đổi mới, khai thác tiềm năng và lợi thế của địa phương cho phát triển là điều cần thiết.

3. Đầu tư phát triển, xây dựng hạ tầng

Một trong những yếu tố để thu hút đầu tư cho phát triển, đòi hỏi chính quyền các địa phương cần quan tâm đến hạ tầng kỹ thuật cho sản xuất,... hoàn thiện hệ thống cầu đường, bến cảng, kho bãi,... là hết sức cần thiết. Do đó, để tranh thủ các cơ hội về đầu tư trong quá trình hội nhập mạnh mẽ chính quyền cấp huyện, cấp xã trong phạm vi thẩm quyền cần có kế hoạch đầu tư phát triển,

xác định các địa bàn ưu tiên để xây dựng hạ tầng cho phát triển.

4. Phát triển triển các chuỗi sản phẩm tiềm năng và phát triển bền vững

Để đánh thức tiềm năng và lợi thế của địa phương, thúc đẩy phát triển thì sự

lựa chọn lĩnh vực có lợi thế là cần thiết. Chính quyền cấp huyện, cấp xã cần lựa chọn các chuỗi giá trị ưu tiên trên cơ sở tổng hợp các chuỗi sản phẩm ưu tiên của địa phương. Hệ tiêu chí đánh giá ưu tiên có thể là quy mô chuỗi sản phẩm, chuỗi sản phẩm phù hợp với chính sách, định hướng chung của tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương.

5. Quản lý, sử dụng tài sản công hợp lý, chi tiêu tiết kiệm, hiệu quả

Tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tạo điều kiện

cho các địa phương quan tâm xử lý hiệu quả các vấn đề môi trường, hạn chế sức ép tăng trưởng, tăng cường bảo vệ môi trường, khai thác tài nguyên hiệu quả thúc đẩy tăng trưởng xanh, phát triển bền vững. Bên cạnh, tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng nhanh sẽ thúc đẩy sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp phát triển. Các địa phương cần có chính sách rà soát quỹ đất, đưa vào sản xuất, tránh bỏ hoang phí, nhất là các địa phương có quỹ đất lớn không đưa vào sử dụng trong nhiều năm qua. Chính quyền cấp huyện cũng cần tập trung phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, hữu cơ, thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp là thế mạnh của Việt Nam.

21

6. Hỗ trợ đổi mới sáng tạo, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại địa phương

Để hướng tới hiện thực hóa mục tiêu gia tăng tỉ trọng công nghiệp chế biến,

chế tạo trong GDP đạt trên 25%; kinh tế số đạt khoảng 20% GDP (giai đoạn 2021-2025) cần có sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành. Trước yêu cầu đó, chính quyền cấp huyện, cấp xã cũng cần có kế hoạch và tổ chức thực hiện hiệu quả mục tiêu, yêu cầu của chính quyền cấp trên. Chuẩn bị các điều kiện thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm tỷ lệ ngành nông nghiệp, nhất là các lĩnh vực có giá trị kinh tế không cao, hỗ trợ mặt bằng và các điều kiện môi trường cho nghiên cứu, sáng tạo, đổi mới phát triển. Ưu tiên đầu tư cho các gói mua sắm để triển khai có hiệu quả chính phủ điện tử, chính phủ số, kinh tế số,.. Chính quyền cấp huyện, cấp xã cũng cần quan tâm chỉ đạo khuyến khích đổi mới sáng tạo, thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững. Đổi mới sáng tạo là chìa khóa phát triển đất nước. Tại địa phương, cần thay đổi về nhận thức, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, tích cực hỗ trợ về hạ tầng và các điều kiện cho đổi mới sáng tạo vì mục tiêu bảo đảm tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn mức bình quân của 5 năm 2016 - 2020, đến năm

2025 là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức
thu nhập trung bình thấp; nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
7. Đảm bảo ổn định trật tự an toàn xã hội
Chính quyền cấp huyện, cấp xã cần quan tâm xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; bảo đảm cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân. Bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, tăng cường các biện pháp bảo vệ môi trường và ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu. Tăng cường quốc phòng, an ninh tại địa phương và thực hiện đúng và đủ các quyền và trách nhiệm của chính quyền địa phương; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước.
22

CÂU HỎI THẢO LUẬN15

1. Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước giai đoạn 2021 - 2025

có mối quan hệ như thế nào với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác)?

2. Thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước giai đoạn 2016 -

2020 đem đến những cơ hội như thế nào cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác)?

3. Xác định những rào cản phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương (nơi cá

nhân đại biểu HĐND công tác)?

4. Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã có vai trò như thế nào trong xây

dựng, giám sát thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương? Liên hệ thực tế cá nhân đại biểu HĐND?

15 Giảng viên có thể đưa ra những câu hỏi/tình huống khác để thảo luận, trao đổi phù hợp với thực tế của địa

phương, nhu cầu học viên và điều kiện lớp học.

23

TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO HỌC VIÊN1

1. Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội

5 năm 2016 - 2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm

2021 - 2025 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

3. Chính phủ, Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã

hội năm 2020 và 5 năm 2016 - 2020, dự kiến kế hoạch năm 2021 và phương hướng nhiệm vụ 5 năm 2021 - 2025.

4. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ cấp tỉnh/cấp huyện/cấp xã (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác).

5. Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh/cấp huyện/cấp xã về phát triển kinh tế -

xã hội địa phương (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác).

16 Giảng viên cập nhật, giới thiệu thêm những tài liệu tham khảo khác cho học viên, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và khả năng tìm kiếm tài liệu của học viên.

24

Chuyên đề 2

CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG

VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN, CẤP XÃ

I. Khái quát về chính quyền địa phương

1. Khái niệm, đặc điểm chung của chính quyền địa phương

a. Khái niệm chính quyền địa phương

Ở nước ta, Điều 111, Hiến pháp năm 2013 quy định:

"1. Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và UBND được

tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định".

Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2019) đã xác định, chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương ở tỉnh, huyện, xã. Chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc Trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương, phường, thị trấn.

Xét một cách tổng quát, chính quyền địa phương có hai chức năng cơ bản

sau:

Thứ nhất, chức năng thực hiện quyền hành pháp ở địa phương, quản lý dân cư trong lãnh thổ.

Là trung tâm tổ chức việc thực hiện pháp luật và các quyết định hành chính

của các cơ quan nhà nước cấp trên tại địa bàn quản lý của mình, chính quyền địa phương, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao, sử dụng quyền lực nhà nước để quản lý toàn diện (hoặc gần như toàn diện, trừ những mặt không được phân cấp, phân quyền) các quá trình xã hội diễn ra trên địa bàn lãnh thổ. Quyền lực nhà nước mà chính quyền địa phương có được để thực thi không phải là quyền đương nhiên có, mà là quyền Hiến pháp, pháp luật trao cho, thông qua

các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động của

25

chính quyền địa phương. Nhà nước bảo đảm các phương tiện, nguồn lực, trong đó có ngân sách để chính quyền địa phương thực hiện chức năng này. Chính quyền địa phương thực hiện quyền hành pháp theo các hướng:

- Thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương và thực hiện quyết định

của các cơ quan nhà nước cấp trên;

- Quyết định các chủ trương, biện pháp bằng việc ra nghị quyết để giải

quyết các vấn đề của địa phương theo thẩm quyền;

- Kiểm tra, giám sát hoạt động thi hành pháp luật và quyết định của chính

quyền địa phương đối với tất cả các cơ quan, tổ chức, công dân trên lãnh thổ hành chính.

Thứ hai, chức năng đại diện cộng đồng, thay mặt cho cộng đồng dân cư tại

địa phương, thể hiện tính chất dân chủ của nhà nước, bảo đảm quyền lợi của địa phương trong mối quan hệ với quyền lợi quốc gia, quyền lợi của các địa phương khác.

Đại diện cho cộng đồng dân cư địa phương, chính quyền địa phương phản

ánh với cơ quan cấp trên về nguyện vọng, mong muốn, nhu cầu chính đáng của địa phương; phản ảnh về những đặc điểm, đặc thù của địa phương; tham gia vào

quá trình hoạch định chính sách của cấp trên để bảo đảm cho chính sách phù hợp với tình hình, hoàn cảnh thực tế của địa phương.

Quyền được quyết định của chính quyền địa phương là quyền tự mình đề ra

và thực hiện chính sách cho riêng địa phương theo quy định của Hiến pháp, luật. Ở đây, thể hiện rõ tính chất dân chủ của Nhà nước qua việc trao quyền cho chính quyền địa phương được chủ động tự quyết và tự chịu trách nhiệm về các vấn đề thuộc thẩm quyền của chính quyền địa phương.

Về mặt hình thức, quyền tự quyết định của chính quyền địa phương được

quy định trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, nguồn

lực để thực hiện quyền tự quyết này không chỉ từ trung ương bảo đảm mà địa phương phải tự bảo đảm bằng tài sản, ngân sách riêng và nguồn nhân lực.

Từ sự luận giải trên, cho thấy "Chính quyền địa phương là những thiết chế

quyền lực nhà nước hay quyền lực của cộng đồng lãnh thổ ở địa phương, tùy

26

theo quy định của mỗi quốc gia"「. Những thiết chế này được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật với chức năng cơ bản là tổ chức thực hiện Hiến pháp, pháp luật, các quyết định của chính quyền trung ương cũng như

giải quyết các vấn đề của địa phương phù hợp với pháp luật và ý nguyện của cư dân ở địa phương18.

Tóm lại, "chính quyền địa phương là những thiết chế nhà nước, hay thiết

chế tự quản của cộng đồng lãnh thổ địa phương, có tư cách pháp nhân quyền lực công, được thành lập một cách hợp hiến và hợp pháp, để quản lý, điều hành mọi mặt đời sống nhà nước, xã hội trên một đơn vị hành chính-lãnh thổ của một quốc gia, trong giới hạn thẩm quyền, thủ tục, cách thức nhất định do pháp luật quy định"19

Cần phân biệt thuật ngữ "chính quyền địa phương" với thuật ngữ "cấp chính quyền địa phương". Theo Hiến pháp năm 2013, "Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân". Như vậy, "chính quyền địa phương" là thuật ngữ rộng hơn so với thuật ngữ "cấp chính quyền địa phương". Hiện nay, ở nước ta, ở những đơn vị hành chính có cấp chính quyền địa phương thì chính quyền địa phương gồm HĐND, UBND; đồng thời, ở những đơn vị hành chính không có cấp chính quyền địa phương thì chính quyền địa phương là UBND°.

b. Đặc điểm chung của chính quyền địa phương

Với tính chất, chức năng trên chính quyền địa phương có các đặc điểm:

- Có một đơn vị hành chính - lãnh thổ xác định bằng đường địa giới hành

chính (nếu đó là cấu trúc nhà nước đơn nhất), hoặc có biên giới nội địa (nếu có và nếu đó là cấu trúc nhà nước liên bang);

- Có dân cư nhất định trên địa bàn hành chính - lãnh thổ xác định;

7 GS.TS. Phạm Hồng Thái, Hiến pháp năm 2013 về chính quyền địa phương và việc ban hành luật tổ chức chính quyền địa phương, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số tháng 01/2015, trang 05.

Học viện Hành chính Quốc gia, Pháp luật về tổ chức và hoạt động chính quyền địa phương, Sách chuyên khảo dùng cho đào tạo thạc sĩ, Nxb. Bách khoa, Hà nội, H.2021, trang 20 - 25.

GS.TS. Phạm Hồng Thái, Hiến pháp năm 2013 về chính quyền địa phương và việc ban hành luut tổ chức chính quyền địa phương, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số tháng 01/2015, trang 05.

Ví dụ, phường ở Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Đà Nẵng.

21 Xem thêm Bộ Nội vụ, Tài liệu bồi dưỡng đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2016-2021, Nxb. Thông tin và truyền thông, trang 90 -100.

27

- Có một bộ máy chính quyền, với những thẩm quyền pháp lý do pháp luật

quy định;

- Thực hiện quản lý hành chính nhà nước trong phạm vi đơn vị hành chính

- lãnh thổ;

- Có ngân sách địa phương để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình;

- Có tính độc lập tương đối trong mối quan hệ với các cấp chính quyền địa

phương khác.

2. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương

a. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ

Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và của chính quyền địa phương nói riêng. Nguyên tắc này đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương phải dựa trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Trên cơ sở các quy định chung của trung ương, căn cứ vào điều kiện, hoàn

cảnh cụ thể của địa phương, chính quyền các cấp ở địa phương sẽ phải đưa ra

những giải pháp nhằm triển khai thực hiện pháp luật trên địa bàn địa phương.
Mọi hoạt động này đều phải đảm bảo sự tuân thủ đúng các quy định về thẩm quyền, thủ tục, nội dung điều chỉnh của pháp luật.
Nguyên tắc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật
đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức trong bộ máy chính quyền địa phương cần nắm rõ các quy định của pháp luật và tổ chức thi hành các quy định đó vào thực tiễn. Trong bối cảnh đẩy mạnh phân quyền, phân cấp giữa trung ương và địa phương hiện nay, thẩm quyền, trách nhiệm của chính quyền địa phương ngày càng được khẳng định. Mặt khác, chính quyền địa phương phải phát huy được tính chủ động, sáng tạo trong phạm vi đã phân quyền, phân cấp và chịu trách nhiệm về những nhiệm vụ được giao.
Tập trung dân chủ là một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động bộ
máy nhà nước nói chung và chính quyền địa phương nói riêng, là hai mặt của
28
÷

một thể thống nhất kết hợp hài hòa với nhau. Nếu thiên về tập trung mà không chú trọng đến dân chủ sẽ dẫn đến tập trung quan liêu, độc đoán trái với bản chất của Nhà nước ta. Ngược lại, nếu thiên về dân chủ mà coi nhẹ tập trung sẽ dẫn đến dân chủ vô tổ chức, làm cho hoạt động của bộ máy nhà nước kém hiệu quả.

Nguyên tắc này đòi hỏi, trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và chính quyền địa phương nói riêng, một mặt phải bảo đảm sự chỉ đạo, lãnh đạo tập trung, thống nhất của trung ương với địa phương, của cấp trên với cấp dưới và mặt khác phải mở rộng dân chủ, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của địa phương và cấp dưới; phải coi trọng vai trò của tập thể nhưng mặt khác phải đề cao vai trò, trách nhiệm cá nhân của người lãnh đạo; phát huy tính năng động, sáng tạo của cấp dưới nhưng luôn phải đảm bảo sự chỉ đạo tập trung thống nhất của cấp trên.

b. Nguyên tắc hiện đại, minh bạch, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của

nhân dân

Đảm bảo yêu cầu hiện đại, minh bạch trong hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước nói chung và chính quyền địa phương nói riêng trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay là một trong những nguyên tắc cơ bản đặt ra. Nguyên tắc hiện đại, minh bạch đòi hỏi chính quyền địa phương cần đảm bảo tính chuyên nghiệp ngay trong hoạt động của mỗi cán bộ, công chức, trong hoạt động quản lý trên các lĩnh vực tại địa phương. Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước. Xây dựng, tổ chức thực hiện hệ thống thủ tục hành chính minh bạch, thiết thực, hiệu quả, dễ tiếp cận và thực hiện; giảm hội họp và giấy

tờ hành chính trong quá trình hoạt động. Tăng cường thực hiện dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 3 và 4 (những mức độ cao nhất). Hoàn thiện các cơ sở dữ liệu chuyên ngành quốc gia, xác định cụ thể mô hình và các bước, nguồn lực để xây dựng chính phủ điện tử đồng bộ. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện công khai, minh bạch các chính sách, pháp luật và quy định hành chính với người dân, tổ chức, doanh nghiệp, tạo điều kiện nhanh nhất trong việc

29

giải quyết các công việc của dân, tránh các biểu hiện sách nhiễu, phiền hà và tham nhũng.

Bên cạnh đó, hoạt động của chính quyền địa phương luôn gắn liền với thực

tiễn ở mỗi địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân ở địa phương. Chính vì vậy, chính quyền địa phương phải luôn đảm bảo nguyên tắc phục vụ nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.

Mọi cơ quan nhà nước, mọi cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động

của mình phải đứng trên lợi ích của nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

của nhân dân, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng yêu cầu, việc gì có lợi cho dân, dù khó đến mấy cũng phải làm, việc gì có hại cho dân, dù nhỏ đến mấy cũng phải tránh.

Nhân dân thể hiện vai trò giám sát đối với các cơ quan nhà nước nói chung

và chính quyền địa phương nói riêng thông qua việc thực hiện quyền khiếu nại,

tố cáo, kiến nghị, phản ánh của mình, thông qua các đại biểu trong cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương hoặc địa phương, qua hoạt động đóng góp ý kiến xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, góp ý kiến xây dựng Hiến pháp và pháp luật..

Nhân dân cũng thực hiện quyền giám sát đối với chính quyền địa phương

thông qua các tổ chức đoàn thể mà nhân dân là thành viên như thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam.

Để thực hiện quyền giám sát của nhân dân, cơ quan nhà nước, cán bộ, công

chức nhà nước, viên chức cần đảm bảo yêu cầu công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý, tạo điều kiện thuận lợi để cơ chế giám sát được thực thi.

c. Nguyên tắc Hội đồng nhân dân làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số

Đây là nguyên tắc cơ bản thể hiện chế độ làm việc của HĐND. Mọi quyết

định của HĐND đều được bàn bạc tập thể và quyết định theo đa số với quá nửa tổng số đại biểu HĐND, trừ trường hợp biểu quyết bãi nhiệm đại biểu HĐND thì

30

cần có tỉ lệ phiếu đồng ý tối thiểu là hai phần ba tổng số đại biểu HĐND. Phương thức biểu quyết có thể là biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín.

Hoạt động của HĐND chủ yếu thông qua các kỳ họp của HĐND. Qua các

kỳ họp này, các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của HĐND được triển khai. Hiệu quả của các kỳ họp sẽ quyết định đến hiệu quả hoạt động của HĐND. Như vậy, HĐND là cơ quan hoạt động theo chế độ hội nghị, các quyết sách quan trọng được thông qua tại hội nghị với ý kiến biểu quyết đa số.

Với chế độ làm việc hội nghị, các đại biểu HĐND bình đẳng với nhau với

tư cách thành viên của cơ quan đại diện của nhân dân ở địa phương. Sự bình đẳng của các đại biểu HĐND được thể hiện qua việc các đại biểu bình đẳng trong việc phát biểu ý kiến, đóng góp ý kiến và chất vấn tại các kì họp của HĐND, các phiên họp của các Ban của HĐND, trong việc tham gia biểu quyết, (trong đó các đại biểu có thể biểu quyết tán thành, không tán thành hoặc không biểu quyết). Hơn nữa, các đại biểu phải biểu quyết trực tiếp, không được biểu quyết thay cho đại biểu khác.

d. Nguyên tắc Ủy ban nhân dân hoạt động theo chế độ tập thể kết hợp với

trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân

UBND làm việc theo chế độ tập thể UBND, điều này thể hiện trách nhiệm

tập thể của một cơ quan của cơ quan hành chính địa phương trước HĐND và chính quyền nhà nước cấp trên. Các quyết định thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của UBND sẽ được thông qua tại các phiên họp của UBND với đa số đồng ý, tuy nhiên, Chủ tịch UBND với tư cách là người đứng đầu UBND cũng chịu trách nhiệm cá nhân về tổ chức và hoạt động của UBND. Chính vì vậy, nguyên tắc hoạt động của UBND thực hiện theo chế độ tập thể UBND kết hợp với trách nhiệm của Chủ tịch UBND.

Trách nhiệm tập thể UBND đòi hỏi mỗi thành viên UBND phải có trách

nhiệm đối với các quyết định của mình khi biểu quyết, đồng thời, khi đa số thành viên UBND đã biểu quyết về một nội dung thì vấn đề này sẽ là quyết định thống nhất của cả tập thể, mọi thành viên UBND phải chịu trách nhiệm chung về quyết định cuối cùng sau khi đã thống nhất.

31

Để thực hiện đầy đủ về trách nhiệm tập thể của UBND trước HĐND và cơ

quan hành chính nhà nước cấp trên rất cần phải có những quy định đồng bộ và thống nhất để đưa quy định vào thực tiễn, nhất là những quy định về chế tài đối với trách nhiệm tập thể. Thực hiện không tốt, có thể dẫn đến hiện tượng đùn đẩy, né tránh. Vì vậy, quy định về trách nhiệm tập thể cần rõ, cụ thể và có tính khả thi.

Bên cạnh trách nhiệm tập thể UBND là trách nhiệm cá nhân người đứng

đầu. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2019) quy định Chủ tịch UBND chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cùng với tập thể UBND chịu trách nhiệm về hoạt động của UBND trước HĐND cùng cấp và trước cơ quan nhà nước cấp

trên. Phó Chủ tịch và các thành viên khác của UBND chịu trách nhiệm trước

Chủ tịch UBND. Mỗi thành viên của UBND chịu trách nhiệm cá nhân về phần công tác của mình trước HĐND, UBND cùng cấp và cùng với các thành viên khác chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của UBND trước HĐND cấp mình và trước cơ quan nhà nước cấp trên.

Sự kết hợp giữa phương thức làm việc theo chế độ tập thể UBND với trách

nhiệm cá nhân người đứng đầu UBND nhằm phát huy trí tuệ tập thể thành viên UBND khi triển khai thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của UBND, đồng thời cũng khẳng định trách nhiệm người đứng đầu UBND khi quyết định các vấn đề quan trọng trong tổ chức, hoạt động của cơ quan.

3. Nguyên tắc phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương

a. Bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất về thể chế, chính sách, chiến lược

và quy hoạch đối với các ngành, lĩnh vực; bảo đảm tính thống nhất, thông suốt của nền hành chính quốc gia

Nguyên tắc này yêu cầu khi phân quyền, phân cấp những vẫn bảo đảm

tính thống nhất, thông suốt của nền hành chinh nhà nước. Phân quyền, phân cấp phải phù hợp với quy định của pháp luật, bảo đảm Chính phủ quản lý thống nhất về thể chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, thanh tra, kiểm tra, kiểm soát cân đối vĩ mô. Vì vậy không phải vấn đề nào, nhiệm vụ nào cũng có thể phân quyền, phân cấp cho chinh quyền địa phương. Theo nguyên tắc này, phải

32

bảo đảm trung ương tập trung hoạch định chính sách, quản lý vĩ mô, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ thống nhất; sẽ không thực hiện phân quyền phân cấp cho chính quyền địa phương những vấn đề về thể chế, chính sách, chiến lược và quy hoạch đối với các ngành, lĩnh vực để tránh phân tán, cắt khúc, không nhất quán trong quản lý.

b. Phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương

ở các đơn vị hành chính trong việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật

Nguyên tắc này đòi hỏi những nhiệm vụ, quyền hạn nào chinh quyền địa

phương đảm nhiệm được cần phân quyền, phân cấp giao cho chinh quyền địa phương thực hiện. Đẩy mạnh phân quyền, phân cấp cho địa phương thực hiện những nhiệm vụ tổ chức thực thi pháp luật, quản lý hành chính, giải quyết các công việc hành chính liên quan trực tiếp tới tổ chức, cá nhân, thực hiện các nhiệm vụ địa phương có đủ nguồn lực để thực hiện hiệu quả.

Việc nào, cấp nào sát thực tế hơn, giải quyết kịp thời và phục vụ tốt hơn

các yêu cầu của tổ chức và người dân thì giao cho cấp đó thực hiện. Thực hiện nguyên tắc này sẽ phát huy quyền tự chủ, tính sáng tạo của các cấp chính quyền địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

c. Kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ, phân

định rõ nhiệm vụ quản lý nhà nước giữa chính quyền địa phương các cấp đối với các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn lãnh thổ

Quản lý theo ngành là hoạt động quản lý các đơn vị, tổ chức kinh tế, văn

hóa, xã hội có cùng cơ cấu kinh tế - kỹ thuật hoặc hoạt động với mục đích giống nhau nhằm làm cho hoạt động của các tổ chức, đơn vị này phát triển một cách đồng bộ, nhịp nhàng, đáp ứng được với yêu cầu của nhà nước và xã hội. Quản lý theo lãnh thổ là quản lý trên phạm vi đơn vị hành chính - lãnh thổ nhất định theo sự phân vạch địa giới hành chính của nhà nước. Các đơn vị thuộc các ngành kinh tế - kỹ thuật đều nằm trên một đơn vị hành chính - lãnh thổ nhất định. Các đơn vị này chịu sự quản lý ngành, đồng thời cũng chịu sự quản lý của các cấp chính quyền địa phương theo lãnh thổ. Vì vậy, nguyên tắc "kết hợp chặt chẽ

33

giữa quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ, phân định rõ nhiệm vụ quản lý nhà nước giữa chính quyền địa phương các cấp đối với các hoạt động kinh tế

- xã hội trên địa bàn lãnh thổ đòi hỏi đối với mọi hoạt động kinh tế - xã hội cần

phân định rõ nhiệm vụ của các cơ quan quản lý theo ngành dọc và nhiệm vụ quản lý cụ thể của từng cấp chính quyền địa phương theo đơn vị hành chính. Thực hiện nguyên tắc này bảo đảm sự phát triển của các ngành, lĩnh vực, đồng thời giúp cho việc khơi dậy tiềm năng và lợi thế của địa phương để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương.

d. Việc phân định thẩm quyền phải phù hợp với điều kiện, đặc điểm nông

thôn, đô thị, hải đảo và đặc thù của các ngành, lĩnh vực

Có thể thấy đô thị và nông thôn, hải đảo có những điểm khác nhau cơ bản

về vị trí, vai trò; về kinh tế; về địa giới hành chính; về dân cư; về lối sống; về cơ

sở hạ tầng. Các ngành, lĩnh vực cũng có những đặc điểm khác nhau, do vậy cũng đặt ra những yêu cầu quản lý không giống nhau. Vì vậy việc phân cấp đồng loạt và đại trà (không phân biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội giữa các địa phương, không phân biệt các ngành, lĩnh vực) mà thực hiện chung một cơ chế, chính sách trong phân cấp sẽ không đạt hiệu quả cao.

Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải xác định rõ đặc thù của các đơn vị

hành chính, của quản lý nhà nước đối với các ngành lĩnh vực để xác định cơ chế phân cấp cho phù hợp. Ví dụ, đối với các tỉnh tự cân đối được ngân sách cần phải phân cấp khác với các tỉnh chưa cân đối được ngân sách.

đ. Những vấn đề liên quan đến phạm vi từ hai đơn vị hành chính cùng cấp

trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền địa phương cấp trên trực tiếp trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Nguyên tắc này bảo đảm tính hiệu quả trong việc giải quyết những vấn đề

liên quan đến hai đơn vị hành chính cùng cấp trở lên bởi vì chính quyền địa phương ở các đơn vị đó không có khả năng giải quyết tốt những vấn đề đó. Tuy nhiên, không phải mọi vấn đề có liên quan đến hai xã, hai huyện, hai tỉnh trở lên là thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền cấp trên trực tiếp. Có những vấn

đề chỉ cần các xã tổ chức thực hiện trên cơ sở liên kết, phối hợp giải quyết là bảo

34

đảm hiệu quả, không cần dồn lên cho cấp trên. Chỉ những vấn đề liên quan đến chỉ đạo thống nhất hoặc cần huy động sự tham gia của các xã, các huyện, các tỉnh, các vấn đề phức tạp mà bản thân mỗi địa phương cũng không thể tự mình giải quyết được mới thuộc thẩm quyền của cấp trên trực tiếp.

e. Việc phân quyền, phân cấp cho các cấp chính quyền địa phương phải bảo

đảm điều kiện về tài chính, nguồn nhân lực và các điều kiện cần thiết khác; gắn phân quyền, phân cấp với cơ chế kiểm tra, thanh tra khi thực hiện phân quyền, phân cấp. Chính quyền địa phương thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được phân quyền, phân cấp và chịu trách nhiệm trong phạm vi được phân quyền, phân cấp.

Nguyên tắc này đòi hỏi phải bố trí đủ nguồn lực tương ứng với yêu cầu

thực hiện nhiệm vụ theo phân cấp giữa Trung ương và địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương gồm: biên chế, kinh phí hoạt động, cơ sở vật chất và trang, thiết bị đồng bộ với yêu cầu nhiệm vụ, quyền hạn do cấp có thẩm

quyền quyết định.

Phân cấp phải gắn với trao quyền quyết định. Theo đó, phải xóa bỏ các thủ

tục như: chấp thuận, cho ý kiến, cho chủ trương... nhằm đề cao vai trò chủ động, tinh thần trách nhiệm của các địa phương trong hoạt động quản lý nhà nước. Đối với những nội dung đã được phân cấp thì cơ quan cấp trên không làm thay hay can thiệp sâu vào quá trình ra quyết định của cấp dưới mà chỉ thực hiện nhiệm vụ theo dõi, giám sát, kiểm tra việc cấp dưới thực hiện. Ngược lại, cấp dưới có trách nhiệm thực hiện những nhiệm vụ đã được phân cấp và không được đùn đẩy trách nhiệm lên cấp trên

Việc thực hiện phân quyền, phân cấp luôn gắn chặt với cơ chế kiểm tra,

thanh tra. Điều này cũng góp phần đảm bảo tính thống nhất trong hoạt động quản lý của nền hành chính nhà nước, góp phần đạt được các mục tiêu đặt ra. Phân cấp, phân quyền phải luôn song hành với thực hiện cơ chế thanh tra, kiểm

tra của các cơ quan có thẩm quyền.

Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2019) cũng quy định về các hình thức phân định thẩm quyền, theo đó, việc phân

35

định thẩm quyền giữa trung ương, địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương được thể hiện thông qua các hình thức sau:

- Phân quyền:

+ Việc phân quyền cho các cấp chính quyền địa phương phải được quy định trong luật. Trong trường hợp này, luật phải quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể mà chính quyền địa phương không được phân cấp, ủy quyền cho cơ quan nhà nước cấp dưới hoặc cơ quan, tổ chức khác.

+ Chính quyền địa phương tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền.

+ Cơ quan nhà nước cấp trên trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình

có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền cho các cấp chính quyền địa phương.

- Phân cấp:

+ Căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình

cụ thể của địa phương, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một cách liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

+ Việc phân cấp phải bảo đảm các nguyên tắc chung về phân định thẩm

quyền của chính quyên địa phương và phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước phân cấp, trong đó xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới, trách nhiệm của cơ quan nhà nước phân cấp và cơ quan nhà nước được phân cấp.

+ Cơ quan nhà nước cấp trên khi phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn cho chính

quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới phải bảo đảm điều kiện về tài chính, nguồn nhân lực và điều kiện cần thiết khác để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân cấp; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã phân cấp và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân cấp.

36

+ Cơ quan nhà nước được phân cấp chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà

nước đã phân cấp về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp. Căn cứ tình hình cụ thể ở địa phương, cơ quan nhà nước ở địa phương có thể phân cấp tiếp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp nhưng phải được sự đồng ý của cơ quan nhà nước đã phân cấp.

- Ủy quyền:

Trong trường hợp cần thiết, cơ quan hành chính nhà nước cấp trên có thể

ủy quyền bằng văn bản cho UBND cấp dưới trực tiếp, UBND có thể ủy quyền cho cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp hoặc đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc. Chủ tịch UBND có thể ủy quyền cho Phó Chủ tịch UBND cùng cấp, người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp, Chủ tịch UBND cấp dưới trực tiếp thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khoảng thời gian xác định kèm theo các điều kiện cụ thể. Cơ quan hành chính nhà nước cấp trên khi ủy quyền phải bảo đảm các nguồn lực và điều kiện cần thiết khác để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình ủy quyền; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã ủy quyền và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình đã ủy quyền. Cơ quan, tổ chức được ủy quyền phải thực hiện đúng nội dung và chịu trách nhiệm trước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được ủy quyền. Cơ quan, tổ chức nhận ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho cơ quan, tổ chức khác thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền.

4. Cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương

a. Hội đồng nhân dân

HĐND gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.

Lưu ý: đối với đơn vị hành chính không có cấp chính quyền địa phương thì không có Hội đồng nhân dân.

37

Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa

phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước HĐND về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình. Đại biểu HĐND bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND.

Thường trực HĐND là cơ quan thường trực của HĐND, thực hiện nhiệm

vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác

trước HĐND. Thành viên của Thường trực HĐND không thể đồng thời là thành viên của UBND cùng cấp.

HĐND bao gồm các Ban. Ban của HĐND là cơ quan của HĐND, có nhiệm

vụ thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trước khi trình HĐND, giám sát,

kiến nghị về những vấn đề thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND.

HĐND tỉnh có Ban pháp chế, Ban kinh tế - ngân sách, Ban văn hóa - xã

hội; nơi nào có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thì thành lập Ban dân tộc. HĐND thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - ngân sách, Ban văn hóa - xã hội, Ban đô thị.

HĐND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành

phố trực thuộc trung ương thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - xã hội. Tại huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thì thành lập Ban dân tộc.

HĐND cấp xã thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - xã hội.

b. Ủy ban nhân dân

UBND do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan

hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. UBND gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên.

Cơ quan chuyên môn thuộc UBND được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện là

cơ quan tham mưu, giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về

23 Xem thêm: Văn bản số 883/HD- UBTVQH14 ngày 02/6/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Hướng dẫn một số nội dung về việc tổ chức kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021- 2026; Công văn số 3308/BNV-CQĐP ngày 08/7/2021 của Bộ Nội vụ Về việc bầu người đứng đầu cơ quan chuyên môn giữ chức danh Ủy viên UBND cấp tỉnh, cấp huyện nhiệm kỳ 2021-2026.

38

ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên. Cơ quan chuyên môn

thuộc_UBND chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên?4.

Việc tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND phải bảo đảm phù hợp với

đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và điều kiện, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương; bảo đảm tinh gọn, hợp lý, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở; không trùng lặp với nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước cấp trên đặt tại địa bàn.

II. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương cấp huyện, cấp xã

1. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương cấp huyện

a. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở

huyện, huyện hải đảo

Về tổ chức bộ máy, chính quyền địa phương ở huyện là cấp chính quyền

địa phương gồm có HĐND huyện và UBND huyện.

Thường trực HĐND huyện gồm Chủ tịch HĐND, một Phó Chủ tịch HĐND

và các Ủy viên là Trưởng ban của HĐND huyện. Chủ tịch HĐND huyện có thể

là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách; Phó Chủ tịch HĐND huyện là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách.

Ban của HĐND huyện gồm có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy

viên. Số lượng Ủy viên của các Ban của HĐND huyện do HĐND huyện quyết định. Trưởng ban của HĐND huyện có thể là đại biểu HĐND hoạt động chuyên

24 Về tên, nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, xem thêm: Nghị định số 24/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 107/2020/NĐ-CP). Về tên, nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, xem thêm: Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 108/2020/NĐ- CP).

39

trách; Phó Trưởng ban của HĐND huyện là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách.

Các đại biểu HĐND huyện được bầu ở một hoặc nhiều đơn vị bầu cử hợp thành Tổ đại biểu HĐND. Số lượng Tổ đại biểu HĐND, Tổ trưởng và Tổ phó của Tổ đại biểu HĐND do Thường trực HĐND huyện quyết định.

UBND huyện gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên. UBND huyện

loại I5 có không quá ba Phó Chủ tịch; huyện loại II và loại III có không quá hai Phó Chủ tịch. Ủy viên UBND huyện gồm các ủy viên là người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, ủy viên phụ trách quân sự, ủy viên phụ trách công an. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện gồm có các phòng và cơ quan tương đương phòng.

Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở huyện là:

- Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn

huyện;

- Quyết định những vấn đề của huyện trong phạm vi được phân quyền,

phân cấp;

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên

ủy quyền;

- Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương cấp

xã;

- Chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương cấp tỉnh về kết quả thực

hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở huyện;

- Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm

chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn huyện.

Về chính quyền địa phương ở huyện hải đảo, tùy theo điều kiện địa lý, dân

cư, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, các đảo,

○Về việc xác định xác định loại đơn vị hành chính, xem thêm Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 25 tháng 5 năm 2016 về Tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính.

40

quần đảo có thể được tổ chức thành các đơn vị hành chính. Tại đơn vị hành chính cấp huyện ở hải đảo, tổ chức cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND.

Trường hợp đơn vị hành chính cấp huyện ở hải đảo chia thành các đơn vị

hành chính cấp xã thì tại đơn vị hành chính cấp xã tổ chức cấp chính quyền địa phương, trừ trường hợp cụ thể Quốc hội quy định không phải là cấp chính quyền địa phương. Chính quyền địa phương cấp huyện ở hải đảo thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn tương ứng của chính quyền địa phương ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương.

Cũng theo quy định của pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền

địa phương tại các đơn vị hành chính ở hải đảo cần phải bảo đảm tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan nhà nước tại địa phương, bảo đảm linh hoạt, chủ động ứng phó khi có sự kiện, tình huống đột xuất, bất ngờ xảy ra nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trên các vùng biển, hải đảo, phát huy lợi thế, tiềm năng kinh tế biến, hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm thu hút người dân ra sinh sống, bảo vệ và phát triển hải đảo.

b. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở

quận

Chính quyền địa phương ở quận là cấp chính quyền địa phương, trừ trường hợp cụ thể Quốc hội quy định không phải là cấp chính quyền địa phương. Cấp chính quyền địa phương ở quận gồm có HĐND quận và UBND quận.

Thường trực HĐND quận gồm Chủ tịch HĐND, một Phó Chủ tịch HĐND

và các Ủy viên là Trưởng ban của HĐND quận. Chủ tịch HĐND quận có thể là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách; Phó Chủ tịch HĐND quận là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách.

Ban của HĐND quận gồm có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy

viên. Số lượng Ủy viên của các Ban của HĐND do HĐND quận quyết định. Trưởng ban của HĐND quận có thể là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách;

Phó Trưởng ban của HĐND quận là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách.

41

Các đại biểu HĐND quận được bầu ở một hoặc nhiều đơn vị bầu cử hợp thành Tổ đại biểu HĐND. Số lượng Tổ đại biểu HĐND, Tổ trưởng và Tổ phó của Tổ đại biểu HĐND do Thường trực HĐND quận quyết định.

UBND quận gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên. UBND quận loại

I có không quá ba Phó Chủ tịch; quận loại II và loại III có không quá hai Phó Chủ tịch. Ủy viên UBND quận gồm các Ủy viên là người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách công an. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận gồm có các phòng và cơ quan tương đương phòng.

Chính quyền địa phương ở quận có nhiệm vụ, quyền hạn:

- Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn

quận.

- Quyết định những vấn đề của quận trong phạm vi được phân quyền, phân

cấp theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và quy định khác của pháp luật có liên quan.

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên

ủy quyền.

- Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở

phường.

- Chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc

Trung ương về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở quận.

- Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm

chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn quận.

c. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở thị

xã/thành phố thuộc tỉnh/thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương

Chính quyền địa phương ở thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc

thành phố trực thuộc trung ương là cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương

42

và UBND thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương.

Thường trực HĐND thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành

phố trực thuộc trung ương gồm Chủ tịch HĐND, một Phó Chủ tịch HĐND và các Ủy viên là Trưởng ban của HĐND. Chủ tịch HĐND thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương có thể là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách; Phó Chủ tịch HĐND thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách.

Ban của HĐND thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố

trực thuộc trung ương gồm có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy viên.

Số lượng Ủy viên của các Ban của HĐND do HĐND thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương quyết định. Trưởng ban

của HĐND thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương có thể là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách; Phó Trưởng ban của HĐND thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách.

Các đại biểu HĐND được bầu ở một hoặc nhiều đơn vị bầu cử hợp thành

Tổ đại biểu HĐND. Số lượng Tổ đại biểu HĐND, Tổ trưởng và Tổ phó của Tổ đại biểu HĐND do Thường trực HĐND thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương quyết định.

UBND thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc

trung ương gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên. UBND thị xã, thành phố

thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương loại I có không quá ba Phó Chủ tịch; thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương loại II và loại III có không quá hai Phó Chủ tịch.

Ủy viên UBND thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương gồm các Ủy viên là người đứng đầu cơ quan chuyên môn

thuộc UBND thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách công an. Cơ quan

43

chuyên môn thuộc UBND thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương gồm có các phòng và cơ quan tương đương phòng.

Chính quyền địa phương ở thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc

thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ, quyền hạn:

- Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn thị

xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương.

- Quyết định những vấn đề của thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố

thuộc thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi được phân quyền, phân cấp theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và quy định khác của pháp luật có liên quan.

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên

ủy quyền.

- Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương cấp

xã.

- Chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương cấp tỉnh về kết quả thực

hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương.

- Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm

chủ của nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương.

2. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương

cấp xã

a. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở xã, xã hải đảo

Chính quyền địa phương ở xã là cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND xã và UBND xã.

Thường trực HĐND xã gồm Chủ tịch HĐND, một Phó Chủ tịch HĐND và

các Ủy viên là Trưởng ban của HĐND xã. Phó Chủ tịch HĐND xã là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách.

44

Ban của HĐND xã gồm có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy viên. Số lượng Ủy viên của các Ban của HĐND xã do HĐND xã quyết định. Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên của các Ban của HĐND xã hoạt động kiêm nhiệm.

UBND xã gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên

phụ trách công an. UBND xã loại I, loại II có không quá hai Phó Chủ tịch; xã loại III có một Phó Chủ tịch.

Chính quyền địa phương ở xã có nhiệm vụ, quyền hạn:

- Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn xã.

- Quyết định những vấn đề của xã trong phạm vi được phân quyền, phân

cấp theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và quy định khác của pháp luật có liên quan.

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên

ủy quyền.

- Chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương cấp huyện về kết quả

thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở xã.

- Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm

chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn xã.

Cấp chính quyền địa phương tại đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện ở hải đảo gồm có HĐND và UBND. Chính quyền địa phương cấp xã ở hải đảo cũng thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn tương ứng của chính quyền địa phương ở xã, phường, thị trấn.

b. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở

phường

Chính quyền địa phương ở phường là cấp chính quyền địa phương, trừ

trường hợp cụ thể Quốc hội quy định không phải là cấp chính quyền địa phương.

Cấp chính quyền địa phương ở phường gồm có HĐND phường và UBND phường.

45

Thường trực HĐND phường gồm Chủ tịch HĐND, một Phó Chủ tịch HĐND và các Ủy viên là Trưởng ban của HĐND phường. Phó Chủ tịch HĐND phường là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách.

Ban của HĐND phường gồm có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các

Ủy viên. Số lượng Ủy viên của các Ban của HĐND do HĐND phường quyết định. Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên của các Ban của HĐND phường hoạt động kiêm nhiệm.

UBND phường gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy

viên phụ trách công an. UBND phường loại I, loại II có không quá hai Phó Chủ tịch; phường loại III có một Phó Chủ tịch.

Chính quyền địa phương ở phường có nhiệm vụ, quyền hạn:

- Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn phường.

- Quyết định những vấn đề của phường trong phạm vi được phân quyền, phân cấp theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và quy định khác của pháp luật có liên quan.

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền.

- Chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương ở quận, thị xã, thành phố

thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở phường.

- Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm

chủ của nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn phường.

c. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở thị

trấn

Chính quyền địa phương ở thị trấn là cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND thị trấn và UBND thị trấn.

HĐND thị trấn gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở thị trấn bầu ra. Thường trực HĐND thị trấn gồm Chủ tịch HĐND, một Phó Chủ tịch HĐND và các Ủy

46

viên là Trưởng ban của HĐND thị trấn. Phó Chủ tịch HĐND thị trấn là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách.

Ban của HĐND thị trấn gồm Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy

viên. Số lượng Ủy viên của các Ban của HĐND do HĐND thị trấn quyết định. Trưởng ban, Phó trưởng ban và các Ủy viên của các Ban của HĐND thị trấn hoạt động kiêm nhiệm.

UBND thị trấn gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy

viên phụ trách công an. UBND thị trấn loại I, loại II có không quá hai Phó Chủ tịch; thị trấn loại III có một Phó Chủ tịch.

Chính quyền địa phương ở thị trấn có nhiệm vụ, quyền hạn:

- Tổ chức, bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật trên địa bàn thị trấn.

- Quyết định những vấn đề của thị trấn trong phạm vi được phân quyền,

phân cấp theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên

ủy quyền.

- Chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương ở huyện về kết quả thực

hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở thị trấn.

- Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm

chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn thị trấn.

3. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền quận, phường ở nơi thí điểm tổ chức chính quyền đô thị

Hiện nay, tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền quận,

phường ở đô thị có: (i) Thí điểm tại Thành phố Hà Nội (Nghị quyết số 97/2019/QH14 về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại Thành phố

Hà Nội, Nghị định số 32/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số số 97/2019/QH14) và thành phố Đà Nẵng (Nghị quyết số 119/2020/QH14, Nghị định số 34/2021/NĐ-CP ngày 29/3/2021 về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị và một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển

47

thành phố Đà Nẵng); (ii) Thành phố Hồ Chí Minh (Nghị quyết số 131/2020/QH14 về tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh, Nghị định số 33/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số 131/2020/QH14).

Theo đó, chính quyền phường tại Hà Nội là UBND phường; chính quyền quận, phường tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng là UBND quận, UBND phường. Riêng Thành phố Hồ Chí Minh có thêm thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (thành phố Thủ Đức) và chính quyền ở thành phố Thủ Đức gồm HĐND, UBND thành phố Thủ Đức.

a. Chính quyền quận tại Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng

Về tổng thể, tổ chức bộ máy, nhiệm vụ quyền hạn của chính quyền quận tại

Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng là tương đồng nhau, cụ thể:

- Về cơ cấu tổ chức của UBND quận gồm: Chủ tịch quận; Phó Chủ tịch

quận; Trưởng Công an quận; Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự quận; các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận; các cơ quan hành chính khác và các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc UBND quận.

- UBND quận hoạt động theo các nguyên tắc:

+ UBND quận làm việc theo chế độ thủ trưởng; bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ.

- Chủ tịch quận là người đứng đầu UBND quận, có trách nhiệm lãnh đạo,

quản lý, điều hành UBND quận thực hiện chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được giao.

+ Phó Chủ tịch quận giúp Chủ tịch quận giải quyết các công việc theo phân

công của Chủ tịch quận, chịu trách nhiệm trước Chủ tịch quận và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công. Khi Chủ tịch vắng mặt, một Phó Chủ tịch được Chủ tịch ủy quyền bằng văn bản điều hành, giải quyết công việc và ký các văn bản của UBND quận.

Trường hợp khuyết Chủ tịch quận thì Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp

quyết định giao quyền Chủ tịch quận cho một Phó Chủ tịch quận cho đến khi có quyết định bổ nhiệm Chủ tịch quận.

48

+ Những vấn đề chung, quan trọng phải được thảo luận tập thể trước khi

Chủ tịch quận quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. (Tập thể

theo quy định này gồm: Chủ tịch quận, Phó Chủ tịch quận, Trưởng Công an quận, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự quận và người đứng đầu các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận). Ngoài ra, căn cứ vào nội dung cuộc họp, Chủ tịch UBND quận có thể mời thêm các thành phần khác có liên quan.

+ Công chức của quận làm việc theo quy chế làm việc, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ và tuân thủ các quy định của pháp luật.

+ Hoạt động của UBND quận nhằm đáp ứng sự hài lòng của người dân,

tuân thủ trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền được giao, theo đúng quy định của pháp luật và quy chế làm việc của UBND quận.

+ Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng dịch vụ công trực tuyến vào

giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức tại quận và theo quy định của pháp luật, bảo đảm các hoạt động của UBND quận phải dân chủ, công khai, minh bạch, thống nhất, thông suốt.

+ Khi cần thiết, Chủ tịch quận ủy quyền cho Phó Chủ tịch quận, người

đứng đầu cơ quan chuyên môn, cơ quan hành chính khác, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc UBND quận và Chủ tịch phường để giải quyết một hoặc một số nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của UBND quận.

- UBND quận có nhiệm vụ, quyền hạn:

+ Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị dự toán ngân sách trực thuộc UBND Thành phố theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước; phân bổ dự toán ngân sách, điều chỉnh dự toán ngân sách, quyết toán ngân sách của phường trực thuộc.

+ Chịu trách nhiệm về hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ quận đến cơ sở, bảo đảm tính thống nhất, thông suốt của nền hành chính; thực hiện công tác cải cách hành chính và cải cách công vụ, công chức ở địa phương.

+ Đề xuất, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ về

quốc phòng, an ninh, biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh,

49

phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác trên địa bàn theo phân cấp quản lý.

+ Thực hiện nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp,

pháp luật, xây dựng chính quyền và địa giới hành chính, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, lao động, chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp, các biện pháp bảo vệ môi trường, phòng, chống cháy, nổ, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, quản lý dân cư.

+ Quản lý và tổ chức sử dụng công sở, tài sản, phương tiện làm việc và ngân sách nhà nước được giao theo quy định của pháp luật.

+ Tổ chức việc thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật, tiếp công dân theo quy định của pháp luật.

+ Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền.

+ Phân cấp, ủy quyền cho UBND phường; ủy quyền cho cơ quan chuyên

môn, cơ quan hành chính khác, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc UBND quận

thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của UBND quận theo quy định của pháp luật.

+ Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định những vấn đề được

luật, nghị quyết của Quốc hội giao và thực hiện phân cấp theo quy định. Đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận và văn bản trái pháp luật của UBND phường trực thuộc.

(Riêng về đầu tư, UBND quận tại Thành phố Hồ Chí Minh: quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án đầu tư công nhóm B, nhóm C sử dụng vốn ngân sách quận, phường trực thuộc theo quy định của Luật Đầu tư công; tham gia ý kiến về chủ trương đầu tư dự án thuộc thẩm quyền quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền mà Luật Đầu tư công quy định phải có sự tham gia ý kiến của HĐND cấp huyện; tổ chức thực hiện chương trình, dự án đầu tư công theo phân cấp quản lý; phê duyệt kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm

50

của UBND phường trực thuộc; quyết định giao nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội cho UBND phường trực thuộc.

Còn UBND quận tại thành phố Đà Nẵng: đề xuất chủ trương đầu tư chương

trình, dự án đầu tư công sử dụng vốn ngân sách nhà nước với UBND thành phố; tham gia ý kiến về chủ trương đầu tư dự án thuộc thẩm quyền quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền mà Luật Đầu tư công quy định phải có sự tham gia ý kiến của HĐND cấp huyện; tổ chức thực hiện chương trình, dự án đầu tư công và các quy hoạch trên địa bàn quận theo phân cấp quản lý).

b. Thành phố Thủ Đức thuộc Thành phố Hồ Chí Minh

Chính quyền thành phố Thủ Đức gồm có HĐND và UBND.

- HĐND thành phố Thủ Đức thuộc Thành phố Hồ Chí Minh có nhiệm vụ,

quyền hạn:

+ Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi

ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp mình, trong đó bao gồm dự toán ngân sách của phường trực thuộc; điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương;

+ Quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án đầu tư công nhóm B,

nhóm C sử dụng vốn ngân sách phường trực thuộc theo quy định của Luật Đầu tư công; tổ chức thực hiện chương trình, dự án đầu tư công theo phân cấp quản lý; phê duyệt kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm của UBND phường trực thuộc;

+ Giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật và việc thực hiện nghị

quyết của HĐND thành phố Thủ Đức trên địa bàn phường trực thuộc; giám sát hoạt động của UBND, Chủ tịch UBND phường trực thuộc.

+ Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

- UBND thành phố Thủ Đức thuộc Thành phố Hồ Chí Minh có nhiệm vụ,

quyền hạn:

+ Xây dựng, trình HĐND cùng cấp quyết định các nội dung theo quy định

của Nghị quyết số 131/2020/QH14 và tổ chức thực hiện nghị quyết của HĐND;

51

+ Căn cứ vào nghị quyết của HĐND cùng cấp về kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội trung hạn và hằng năm, quyết định giao nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội cho UBND phường trực thuộc;

+ Quyết định và tổ chức thực hiện nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, biện

pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác trên địa bàn các phường trực thuộc.

+ Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

- Chủ tịch UBND thành phố Thủ Đức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương, quy định khác của pháp luật có liên quan và các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

+ Bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, biệt phái, khen thưởng,

kỷ luật, đình chỉ công tác Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND phường trực thuộc;

+ Tuyển dụng, sử dụng, quản lý công chức làm việc tại UBND phường trực thuộc theo quy định của pháp luật;

+ Đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của UBND phường trực thuộc.

c. Chính quyền phường ở thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng

Cơ cấu tổ chức của UBND phường gồm: Chủ tịch phường; Phó Chủ tịch phường; Trưởng Công an phường; Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự phường; Các công chức (Văn phòng - Thống kê; Địa chính - Xây dựng - Đô thị và Môi trường; Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hóa - Xã hội). Công chức làm việc tại UBND phường là người được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ chức danh thuộc cơ cấu tổ chức của UBND phường (trừ Trưởng Công an phường).

- UBND, Chủ tịch UBND phường hoạt động theo nguyên tắc:

+ UBND phường làm việc theo chế độ thủ trưởng. Chủ tịch phường là người đứng đầu, có trách nhiệm lãnh đạo, quản lý, điều hành công việc của UBND phường làm việc theo quy chế làm việc của UBND phường, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ và tuân thủ các quy định của pháp luật.

52

+ Những vấn đề cơ bản, quan trọng, Chủ tịch phường thảo luận tập thể trước khi quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. (Tập thể ở đây gồm: Chủ tịch phường, Phó Chủ tịch phường, Trưởng Công an phường, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự phường và các công chức khác có liên quan).

+ Chủ tịch phường được ủy quyền cho công chức giữ chức danh Tư pháp -

Hộ tịch thực hiện ký chứng thực và đóng dấu của UBND phường đối với việc chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp hoặc chứng nhận; chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản theo quy định của pháp luật. Công chức Tư pháp - Hộ tịch được ủy quyền phải có kinh nghiệm từ 03 năm công tác trở lên ở lĩnh vực Tư pháp - Hộ tịch.

+ Phó Chủ tịch phường giúp Chủ tịch phường giải quyết các công việc theo

phân công của Chủ tịch phường, chịu trách nhiệm trước Chủ tịch phường và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công. Khi Chủ tịch phường vắng mặt, một Phó Chủ tịch được Chủ tịch ủy nhiệm thay mặt Chủ tịch điều hành và giải quyết công việc của UBND phường.

+ Trường hợp khuyết Chủ tịch phường thì Chủ tịch UBND cấp trên trực

tiếp có quyết định giao quyền Chủ tịch phường cho một Phó Chủ tịch phường cho đến khi có Chủ tịch phường mới.

+ Hoạt động của UBND phường nhằm đáp ứng sự hài lòng của người dân,

tuân thủ trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền được giao, theo đúng quy định của pháp luật và quy chế làm việc của UBND phường.

+ Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng dịch vụ công trực tuyến vào

giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức tại phường theo quy định của pháp luật, bảo đảm các hoạt động của UBND phường phải dân chủ, công khai, minh bạch, thống nhất, thông suốt.

- UBND phường có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị dự toán ngân sách trực thuộc

UBND quận theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. (Riêng đối UBND phường ở Hà Nội thì xây dựng dự toán thu, chi ngân sách phường gửi Phòng Tài

53

chính - Kế hoạch quận, thị xã xem xét, tổng hợp báo cáo UBND quận, thị xã, trình HĐND cùng cấp quyết định).

- Đề xuất chủ trương đầu tư chương trình, dự án đầu tư công sử dụng vốn

ngân sách nhà nước với UBND cấp trên trực tiếp để trình cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư; tham gia ý kiến về chủ trương đầu tư dự án thuộc thẩm quyền quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền mà Luật Đầu tư công quy định phải có sự tham gia ý kiến của HĐND cấp xã; tổ chức thực hiện chương trình, dự án đầu tư công theo phân cấp quản lý.

- Đề xuất, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ về quốc

phòng, an ninh, biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác trên địa bàn theo phân cấp quản lý.

- Phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thành lập Tổ

bầu cử đại biểu Quốc hội, Tổ bầu cử đại biểu HĐND; tổ chức thực hiện việc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND theo quy định của pháp luật.

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp,

ủy quyền.

- Thực hiện nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp

luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên tại địa bàn phường và các nhiệm vụ, quyền hạn khác của UBND, Chủ tịch UBND phường theo quy định của pháp luật.

- UBND phường không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp

luật^°.

III. Nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp huyện

a. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân huyện

Ngoài ra, có một điểm lưu ý thêm là đối với biên chế công chức làm việc tại UBND phường ở thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng thì thuộc biên chế công chức của UBND cấp trên trực tiếp và do UBND cấp trên trực tiếp quản lý, sử dụng.

54

HĐND huyện có những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể trong tổ chức và bảo

đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật và trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh,

xây dựng chính quyền như ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm

vụ, quyền hạn của HĐND huyện; quyết định biện pháp thực hiện nhiệm vụ về

quốc phòng, an ninh; biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh,

phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống

quan liêu, tham nhũng trong phạm vi được phân quyền; biện pháp bảo vệ tài sản

của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các

quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân trên địa bàn huyện theo quy định

của pháp luật; quyết định biện pháp để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do cơ

quan nhà nước cấp trên phân cấp; quyết định việc phân cấp cho chính quyền địa

phương, cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính

quyền địa phương ở huyện; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch HĐND, Phó

Chủ tịch HĐND, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của HĐND huyện; bầu, miễn

nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND và các Ủy viên UBND

huyện; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm Tòa án nhân dân huyện; lấy phiếu

tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu; bãi bỏ

2

một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của UBND, Chủ tịch UBND

huyện; bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của HĐND cấp xã;

Quyết định thành lập, bãi bỏ cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện; giải tán

HĐND cấp xã trong trường hợp HĐND đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi

ích của nhân dân và trình HĐND cấp tỉnh phê chuẩn trước khi thi hành; bãi

nhiệm đại biểu HĐND huyện và chấp nhận việc đại biểu HĐND huyện xin thôi

làm nhiệm vụ đại biểu.

Trong lĩnh vực kinh tế, tài nguyên, môi trường, HĐND huyện có nhiệm vụ

thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn và hằng năm của huyện,

quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện trước khi trình UBND cấp tỉnh phê

duyệt; quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi

ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách huyện; điều chỉnh dự toán

ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân

55

sách địa phương; quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án của huyện theo quy định của pháp luật; quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực trên địa bàn huyện trong phạm vi được phân quyền; quyết định biện pháp quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác;

biện pháp bảo vệ và cải thiện môi trường, phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão, lụt ở địa phương theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, HĐND huyện có nhiệm vụ quyết định biện pháp phát triển hệ

thống giáo dục mầm non, tiểu học và trung học cơ sở; biện pháp phát triển sự nghiệp văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; biện pháp bảo vệ, chăm sóc sức

khỏe nhân dân, phòng, chống dịch bệnh, thực hiện chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình; biện pháp phát triển việc làm, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng, chính sách bảo trợ xã hội, xóa đói, giảm nghèo;

biện pháp bảo đảm việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật.

HĐND huyện có nhiệm vụ giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật

ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của HĐND huyện; giám sát hoạt động

của Thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Ban của HĐND cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp và văn bản của HĐND cấp xã và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

b. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân quận

HĐND quận có nhiệm vụ ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc

nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND quận; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch HĐND, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của HĐND quận; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND và các Ủy viên UBND quận; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm Tòa án nhân dân quận; thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn và hằng năm của quận trước khi trình UBND thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt; quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa

56

phương và phân bổ dự toán ngân sách quận; điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; quyết định, chủ trương đầu tư chương trình, dự án trên địa bàn quận trong phạm vi được phân quyền; quyết định các biện pháp để thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp; quyết định việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở quận; quyết định thành lập, bãi bỏ cơ quan chuyên môn

thuộc_UBND quận; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của HĐND quận; giám sát hoạt động của

Thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng

cấp, Ban của HĐND cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp và văn bản của HĐND phường.

HĐND quận cũng có thẩm quyền lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm

đối với người giữ chức vụ do HĐND quận bầu; bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của UBND, Chủ tịch UBND quận; bãi bỏ một phần hoặc

toàn bộ văn bản trái pháp luật của HĐND phường; giải tán HĐND phường trong trường hợp HĐND đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân và trình HĐND thành phố trực thuộc Trung ương phê chuẩn; bãi nhiệm đại biểu HĐND quận và chấp nhận việc đại biểu HĐND quận xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu.

c. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương

Bên cạnh các nhiệm vụ, quyền hạn như theo quy quy định của HĐND

huyện, HĐND thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương còn có nhiệm vụ quyết định quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị trên cơ sở quy hoạch của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, phê duyệt; quyết định dự án đầu tư công trình đô thị trên địa bàn theo quy định của pháp luật; quyết định các cơ chế, chính sách thu hút đầu tư phát triển đô thị, chương trình, kế hoạch xây dựng công trình hạ tầng đô thị, giao thông theo quy định của pháp luật; quyết định

57

biện pháp quản lý dân cư và tổ chức đời sống dân cư, bảo đảm trật tự công cộng,

cảnh quan đô thị trên địa bàn.

2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp xã

a. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã

HĐND xã có nhiệm vụ ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm

vụ, quyền hạn của HĐND xã; quyết định biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã

hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác,

phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong phạm vi được phân quyền; biện pháp

bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân

phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân trên địa bàn xã;

bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch HĐND, Trưởng ban,

Phó trưởng ban của HĐND xã; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch UBND,

Phó Chủ tịch UBND và các Ủy viên UBND xã.

HĐND xã cũng có thẩm quyền thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã

hội hằng năm của xã trước khi trình UBND huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh,

thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt; quyết định dự toán

thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách xã; điều chỉnh

@

dự toán ngân sách xã trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân

sách xã; quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án của xã trong phạm vi

được phân quyền; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương,

việc thực hiện nghị quyết của HĐND xã; giám sát hoạt động của Thường trực

HĐND, UBND cùng cấp, Ban của HĐND cấp mình; giám sát văn bản quy phạm

pháp luật của UBND cùng cấp.

HĐND xã có nhiệm vụ lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với

người giữ chức vụ do HĐND xã bầu; bãi nhiệm đại biểu HĐND xã và chấp

nhận việc đại biểu HĐND xã xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu; bãi bỏ một phần

hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của UBND, Chủ tịch UBND xã.

b. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân phường

HĐND phường có nhiệm vụ ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc

nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND phường; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch

58

HĐND, Phó Chủ tịch HĐND, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của HĐND phường; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND và các Ủy viên UBND phường.

HĐND phường có nhiệm vụ thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm của phường trước khi trình UBND quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt; quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách phường; điều chỉnh dự toán ngân sách phường trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách phường; quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án trên địa bàn phường theo quy định của pháp luật; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của HĐND phường; giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, UBND cùng cấp, Ban của HĐND cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp; lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND phường bầu; bãi nhiệm đại biểu HĐND phường và chấp nhận việc đại biểu HĐND phường xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu; bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật

của UBND, Chủ tịch UBND phường.

c. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân thị trấn

HĐND thị trấn có nhiệm vụ ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND thị trấn; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch HĐND, Trưởng ban, Phó trưởng ban của HĐND thị trấn; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch|UBND, Phó Chủ tịch_UBND, Ủy viên UBND thị trấn; thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm của thị trấn trước khi trình UBND huyện phê duyệt; quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách thị trấn; điều chỉnh dự toán ngân sách thị trấn trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách thị trấn; quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án trên địa bàn theo quy định của pháp luật.

HĐND thị trấn có nhiệm vụ giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật

ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của HĐND thị trấn; giám sát hoạt động

59

của Thường trực HĐND, UBND cùng cấp, Ban của HĐND cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp; lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND thị trấn bầu; bãi nhiệm đại biểu HĐND thị trấn và chấp nhận việc đại biểu HĐND thị trấn xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu; bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của UBND, Chủ tịch UBND thị trấn.

3. Phương thức hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

Hoạt động của HĐND cấp huyện, cấp xã được thực hiện bởi hoạt động của tập thể HĐND, Thường trực HĐND, các Ban và đại biểu HĐND. Để thực hiện chức năng quyết định và giám sát, HĐND hoạt động theo các phương thức sau:

a. Kỳ họp Hội đồng nhân dân

Kỳ họp là hình thức hoạt động chủ yếu của HĐND. Đó là Hội nghị gồm các phiên họp của toàn thể đại biểu HĐND để bàn bạc và quyết định những vấn

đề của địa phương được nêu ra trong chương trình nghị sự. Theo quy định của pháp luật, HĐND họp mỗi năm ít nhất 02 kỳ. HĐND họp bất thường khi Thường trực HĐND, Chủ tịch UBND cùng cấp hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu HĐND yêu cầu; ngoài ra HĐND cấp xã còn tổ chức kỳ họp bất thường khi có trên 10% tổng số cử tri của xã, phường, thị trấn theo danh sách cử tri bầu cử đại biểu HĐND cấp xã tại cuộc bầu cử gần nhất yêu cầu.

HĐND họp công khai. Trong trường hợp cần thiết, theo đề nghị của

Thường trực HĐND, Chủ tịch UBND cùng cấp hoặc yêu cầu của ít nhất một phần ba tổng số đại biểu HĐND thì HĐND quyết định họp kín.

Kỳ họp HĐND có thể có nhiều nội dung làm việc khác nhau. Kỳ họp đầu

năm, HĐND tập trung thảo luận và quyết định kế hoạch và dự toán ngân sách, quyết định chương trình hoạt động trong năm, quyết định các vấn đề thiết thực về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng,... Trong kỳ họp cuối năm, HĐND nghe và thảo luận báo cáo kiểm điểm công tác của Thường trực HĐND, UBND, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân (đối với cấp huyện); nghe, thảo luận báo cáo về thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch

60

phát triển kinh tế - xã hội, quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND.

Kết quả của các kỳ họp là HĐND thông qua các quyết định với hình thức nghị quyết. Nghị quyết của HĐND được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu HĐND tán thành. Riêng nghị quyết về bãi nhiệm đại biểu HĐND được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu HĐND biểu quyết tán thành.

b. Hoạt động của các cơ quan của Hội đồng nhân dân

Các cơ quan của HĐND gồm Thường trực HĐND và của các Ban của

HĐND. Mỗi một cơ cấu này thực hiện một phần chức năng, nhiệm vụ được quy định chung cho cấp HĐND đó.

(1) Hoạt động của Thường trực HĐND

Thường trực HĐND do HĐND cùng cấp bầu ra, có những nhiệm vụ,

quyền hạn sau đây:

- Triệu tập các kỳ họp của HĐND, phối hợp với UBND trong việc chuẩn bị

kỳ họp của HĐND;

- Đôn đốc, kiểm tra UBND và các cơ quan nhà nước khác ở địa phương

thực hiện các nghị quyết của HĐND;

- Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật tại địa phương;

- Chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của các Ban của HĐND; xem xét

kết quả giám sát của các Ban của HĐND khi xét thấy cần thiết và báo cáo HĐND tại kỳ họp gần nhất; giữ mối liên hệ với đại biểu HĐND; tổng hợp chất vấn của đại biểu HĐND để báo cáo HĐND; yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân giải trình các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực HĐND tại phiên họp Thường trực HĐND;

- Tổ chức để đại biểu HĐND tiếp công dân theo quy định của pháp luật;

đôn đốc, kiểm tra và xem xét tình hình giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân; tổng hợp ý kiến, nguyện vọng của Nhân dân để báo cáo tại kỳ họp HĐND;

61

- Phê chuẩn danh sách Ủy viên của các Ban của HĐND trong số đại biểu HĐND và việc cho thôi làm Ủy viên của Ban của HĐND theo đề nghị của Trưởng ban của HĐND;

- Trình HĐND lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu theo quy định tại Điều 88 và Điều 89 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019);

- Quyết định việc đưa ra HĐND hoặc đưa ra cử tri bãi nhiệm đại biểu

HĐND;

- Báo cáo về hoạt động của HĐND cùng cấp lên HĐND và UBND cấp trên

trực tiếp;

- Giữ mối liên hệ và phối hợp công tác với Ban Thường trực Ủy ban Mặt

trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp; mỗi năm 02 lần thông báo cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp về hoạt động của HĐND.

Thường trực HĐND làm việc theo nguyên tắc tập thể. Mỗi tháng, Thường

trực HĐND họp ít nhất một lần để kiểm điểm việc thực hiện các nghị quyết của HĐND và các quyết định của mình, đề ra nhiệm vụ công tác tháng sau. Thường trực HĐND có thể họp bất thường theo đề nghị của từng thành viên Thường trực HĐND.

(2) Hoạt động của các Ban của HĐND

Các Ban của HĐND là cơ quan được lập ra để giúp HĐND hoạt động. Ban

của HĐND được thành lập ở cấp huyện, cấp xã có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Tham gia chuẩn bị nội dung kỳ họp của HĐND liên quan đến lĩnh vực phụ trách;

- Thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án liên quan đến lĩnh vực phụ trách do HĐND hoặc Thường trực HĐND phân công;

- Giúp HĐND giám sát hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát

nhân dân cùng cấp; giám sát hoạt động của UBND và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp trong lĩnh vực phụ trách; giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi phụ trách;

62

- Tổ chức khảo sát tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về lĩnh

vực phụ trách do HĐND hoặc Thường trực HĐND phân công;

- Báo cáo kết quả hoạt động giám sát với HĐND, Thường trực HĐND;

- Ban của HĐND chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND; trong

thời gian HĐND không họp thì báo cáo công tác trước Thường trực HĐND.

Hình thức hoạt động của Ban là phiên họp do Trưởng ban triệu tập. Tại

phiên họp, các thành viên thảo luận trước các dự án trình HĐND thông qua hoặc chuẩn bị các đề án trình HĐND, kiểm điểm việc thực hiện chương trình, bàn công tác của thời gian tới. Ngoài ra, Ban còn tổ chức các cuộc kiểm tra, giám sát

ở cơ sở, phát hiện những vấn đề để kiến nghị với cơ sở hoặc trình HĐND quyết định. Các kiến nghị của Ban có giá trị bắt buộc các cơ quan nhà nước, tổ chức

xã hội và các cơ quan hữu quan xem xét và thực hiện. Kết quả phải báo cáo lại cho Ban biết. Thường trực HĐND chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của các

Ban của HĐND. Các Trưởng ban được dự các phiên họp hàng tháng của Thường trực HĐND cùng cấp.

(3) Hoạt động của đại biểu HĐND

Đây cũng là phương thức hoạt động cơ bản của HĐND, thông qua hoạt động của chính các đại biểu HĐND. Hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động chung của HĐND.

IV. Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

1. Vị trí, vai trò của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

Theo quy định tại khoản 2, Điều 6, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương

năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) thì: "Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước HĐND về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình. Đại biểu HĐND bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND".

Như vậy, xét về mặt cơ cấu tổ chức thì đại biểu HĐND không phải là một

cơ cấu riêng biệt của HĐND vì HĐND là một cơ quan hoạt động tập thể có hình thức hoạt động chủ yếu là kỳ họp. Ở đó, tất cả các đại biểu đều tham dự, bình

63

đẳng trong thảo luận và quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND. Có một số đại biểu còn tham gia vào các cơ quan thuộc HĐND như: Thường trực HĐND, các Ban của HĐND. Một số đại biểu khác còn tham gia

vào công việc của UBND. Một số hoạt động của đại biểu cùng với tổ đại biểu tại đơn vị bầu cử trực tiếp liên hệ với cử tri, thu thập ý kiến của họ, báo cáo hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Tuy nhiên, cần phải thấy rằng hoạt động của đại biểu HĐND cũng có tính

độc lập nhất định. Bởi lẽ, họ là người phải chịu trách nhiệm trước cử tri và chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Khi làm việc, đại

biểu HĐND phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân địa phương. Đại biểu HĐND là người thay mặt nhân dân địa phương quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương, thể hiện và phản ánh ý chí, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân vào nghị quyết của HĐND.

Với vị trí, vai trò quan trọng như vậy, đại biểu HĐND phải gương mẫu

chấp hành chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vận động gia đình, nhân dân thực hiện, đồng thời vận động nhân dân phát huy tính tích cực chính trị và trách nhiệm công dân vào quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương.

2. Nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

a. Nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Hội đồng nhân dân ở kỳ họp Hội đồng

nhân dân

- Tham gia đầy đủ các kỳ họp, phiên họp HĐND;

- Tham gia thảo luận và biểu quyết chương trình kỳ họp;

- Bầu cử và ứng cử vào các chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND và các

Ban của HĐND;

- Thảo luận và biểu quyết những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của

HĐND.

b. Nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Hội đồng nhân dân trong mối liên hệ

với cử tri

64

- Liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri;

- Thu thập, phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri;

- Bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của cử tri;

- Thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và

của HĐND;

- Trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri;

- Tiếp dân định kỳ theo lịch, nhận và chuyển đơn thư khiếu nại, tố cáo của

công dân, giúp dân theo dõi, đôn đốc việc giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo đó;

- Quyền yêu cầu chấm dứt các hoạt động trái pháp luật: Đại biểu HĐND có

quyền yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân kịp thời chấm dứt những việc làm trái pháp luật, chính sách của nhà nước trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc của cán bộ, công chức, nhân viên cơ quan, tổ chức, đơn vị đó;

- Quyền yêu cầu gặp người phụ trách cơ quan, tổ chức, đơn vị: Đại biểu

HĐND có quyền yêu cầu gặp người phụ trách của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân. Khi đại biểu yêu cầu gặp thì người đó có trách nhiệm tiếp đại biểu;

- Quyền kiến nghị việc thực hiện pháp luật: đại biểu HĐND có quyền kiến

nghị với cơ quan nhà nước về việc thi hành pháp luật, chính sách của nhà nước và về những vấn đề thuộc lợi ích chung. Cơ quan có thẩm quyền, trách nhiệm trả lời kiến nghị của đại biểu HĐND;

- Quyền đề nghị bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do

HĐND bầu;

- Quyền được tạo điều kiện hoạt động;

- Quyền được hưởng các chế độ đối với đại biểu HĐND;

- Quyền miễn trừ của đại biểu HĐND: Điều 100, Luật Tổ chức chính

quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) quy định: "Không được bắt, giam, giữ, khởi tố đại biểu HĐND, khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu HĐND nếu không có sự đồng ý của HĐND hoặc trong thời gian HĐND

65

không họp, không có sự đồng ý của Thường trực HĐND. Trường hợp đại biểu HĐND bị tạm giữ vì phạm tội quả tang thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để HĐND hoặc Thường trực HĐND xem xét, quyết định.

c. Quyền chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu HĐND có quyền chất vấn Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND,

Ủy viên UBND, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Người bị chất vấn phải trả lời về những vấn đề mà đại biểu HĐND chất vấn.

d. Quyền yêu cầu cung cấp thông tin của đại biểu Hội đồng nhân dân

Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu, đại biểu HĐND có quyền

yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó.

e. Việc thôi làm nhiệm vụ đại biểu, tạm đình chỉ và mất quyền đại biểu Hội đồng nhân dân

- Trong nhiệm kỳ, nếu đại biểu HĐND không còn công tác và cư trú tại

đơn vị hành chính mà mình đang là đại biểu thì phải xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu. Đại biểu HĐND có thể đề nghị thôi làm nhiệm vụ đại biểu vì lý do sức khỏe hoặc vì lý do khác. Việc chấp nhận đại biểu HĐND thôi làm nhiệm vụ đại

biểu do HĐND cùng cấp xem xét, quyết định;
- Trường hợp đại biểu HĐND bị khởi tổ bị can thì Thường trực HĐND
quyết định tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND
đó; đại biểu HĐND được trở lại thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu và khôi phục các lợi ích hợp pháp khi cơ quan có thẩm quyền đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đối với đại biểu đó hoặc kể từ ngày có bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật tuyên đại biểu đó không có tội hoặc được miễn trách nhiệm hình sự.
- Đại biểu HĐND bị kết tội bằng bản án, quyết định của Tòa án thì đương
nhiên mất quyền đại biểu HĐND kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
66
A

- Đại biểu HĐND đã thôi làm nhiệm vụ đại biểu hoặc bị mất quyền đại biểu thì đương nhiên thôi đảm nhiệm các chức vụ trong Thường trực HĐND, Ban của HĐND.

3. Các mối quan hệ công tác chủ yếu của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

a. Quan hệ giữa đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã với Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, tổ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

Đại biểu HĐND có nhiệm vụ tham gia đầy đủ các kỳ họp, phiên họp của

HĐND, các sinh hoạt của tổ đại biểu, hoàn thành những nhiệm vụ được giao. Phản ánh các ý kiến của cử tri với HĐND. Trong kỳ họp, đại biểu HĐND có quyền đề nghị ghi vào chương trình nghị sự những vấn đề mà đại biểu xét thấy cần thiết để HĐND xem xét và quyết định; thảo luận, phát biểu ở tổ và tại hội trường; biểu quyết các nghị quyết và kết luận của kỳ họp; chất vấn Chủ tịch và các thành viên của UBND, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND,

Chánh án Tòa án nhân dân và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. dưới nơi bầu ra mình, có quyền phát biểu nhưng không biểu quyết. Nếu là thành Đại biểu HĐND có quyền tham dự các phiên họp của Hội đồng nhân dân cấp viên của các cơ quan của HĐND (Thường trực HĐND, các ban của HĐND) thì

đại biểu có trách nhiệm tham gia đầy đủ các hoạt động của các cơ quan đó, hoàn thành nhiệm vụ được phân công.

Tổ đại biểu là hình thức sinh hoạt tập thể của đại biểu để nghiên cứu tài

liệu chuẩn bị đóng góp ý kiến cho kỳ họp. Đại biểu HĐND có trách nhiệm tham

gia các hoạt động của Tổ đại biểu HĐND chuẩn bị cho kỳ họp HĐND. Tổ đại biểu tập hợp ý kiến đại biểu về các vấn đề thuộc chương trình nghị sự của kỳ họp HĐND để phản ánh với đoàn thư ký kỳ họp

b. Quan hệ giữa đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã với Ủy ban nhân dân cùng cấp

Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã có quyền giám sát đối với hoạt động

của UBND cùng cấp theo quy định của pháp luật.

67

Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã có quyền chất vấn Chủ tịch UBND, Phó

Chủ tịch UBND, Ủy viên UBND cùng cấp. Bỏ phiếu tín nhiệm đối Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND, Ủy viên UBND cùng cấp.

c. Quan hệ giữa đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, cấp xã phối hợp với Thường trực HĐND cùng cấp tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo dõi hoạt động của đại biểu và giúp đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã thực hiện nhiệm vụ đại biểu. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc

và các tổ chức thành viên của Mặt trận thường xuyên giám sát tiêu chuẩn đại biểu và việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu HĐND.

4. Xung đột lợi ích và giải quyết xung đột lợi ích trong quá trình thực

hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

a. Khái quát về xung đột lợi ích trong thực hiện nhiệm vụ của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

Xung đột lợi ích trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ ở Việt Nam hiện nay

được Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định: "Xung đột lợi ích là tình huống mà trong đó lợi ích của người có chức vụ, quyền hạn hoặc người thân thích của họ tác động hoặc sẽ tác động không đúng đắn đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ (khoản 8, Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018).

Quy định này chỉ ra bản chất của xung đột lợi ích là lợi ích của cá nhân

thực hiện nhiệm vụ, công vụ mâu thuẫn với trách nhiệm và nghĩa vụ công của

họ. Như vậy, xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ là tình huống phát sinh khi việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật

của cá nhân bị tác động tiêu cực hoặc sẽ bị tác động tiêu cực bởi lợi ích riêng của họ.

68

Xung đột lợi ích trong trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của

đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã có thể tạo ra tác hại và ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của HĐND từ những khía cạnh cơ bản sau:

- Xung đột lợi ích trong thực hiện nhiệm vụ của đại biểu HĐND cấp huyện,

cấp xã làm cho lợi ích không chính đáng của cá nhân đại biểu đặt lên trên lợi ích chung, là sự thể hiện của việc đại biểu sử dụng quyền lực công để đạt được lợi ích cá nhân. Vì vậy nó đi ngược lại với mục tiêu hoạt động của HĐND.

- Xung đột lợi ích trong thực hiện nhiệm vụ cuả đại biểu HĐND tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến tham nhũng.

- Xung đột lợi ích trong thực hiện nhiệm vụ của đại biểu HĐND ảnh

hưởng đến sự khách quan, đúng pháp luật trong hoạt động của HĐND, từ đó làm suy giảm niềm tin của người dân đối với HĐND.

b. Giải quyết xung đột lợi ích trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

Căn cứ vào quy định của Luật Phòng, chống tham những năm 2018 và

Nghị định số 59/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, xung đột lợi ích

trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp huyện,
cấp xã có thể xảy ra trong những trường hợp sau:
- Nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích khác của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân
liên quan đến công việc do mình giải quyết.
- Tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước
ngoài về công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, công việc thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc tham gia giải quyết.
- Sử dụng những thông tin có được nhờ chức vụ, quyền hạn của mình để vụ
lợi hoặc để phục vụ lợi ích của tổ chức hoặc cá nhân khác.
- Có vợ hoặc chông, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột là người có quyên, lợi
ích trực tiếp liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của mình.
- Can thiệp hoặc tác động không đúng đến hoạt động của cơ quan, tổ chức,
đơn vị, cá nhân có thẩm quyền vì vụ lợi.
69
:

Để giải quyết xung đột lợi ích trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã, có các giải pháp được đưa ra như:

- Thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích, cụ thể:

+ Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã được giao thực hiện nhiệm vụ, công

vụ nếu biết hoặc buộc phải biết nhiệm vụ, công vụ được giao có xung đột lợi ích thì phải báo cáo người có thẩm quyền để xem xét, xử lý.

+ Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khi phát hiện có xung đột lợi ích của đại biểu HĐND thì phải thông tin, báo cáo cho HĐND, Thường trực HĐND để xem xét, xử lý.

+ HĐND, Thường trực HĐND khi phát hiện có xung đột lợi ích và nếu

thấy việc tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, công vụ của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã không bảo đảm tính đúng đắn, khách quan, trung thực thì phải xem xét, áp dụng một trong các biện pháp sau đây: (i) Giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao của người có xung đột lợi ích; (ii) Đình chỉ, tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao của người có xung đột lợi ích.

- Công khai, minh bạch hoạt động của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã:

Hoạt động của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã cần được công khai, minh bạch, trừ nội dung thuộc bí mật nhà nước, và nội dung khác theo quy định của pháp luật.

Việc công khai, minh bạch phải bảo đảm chính xác, rõ ràng, đầy đủ, kịp

thời theo trình tự, thủ tục do cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quy định và phù hợp với quy định của pháp luật.

- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nhằm góp phần giúp đại biểu HĐND cấp

huyện, cấp xã nắm rõ các quy định trong thực hiện nhiệm vụ của đại biểu.

- Tăng cường sự tham gia, giám sát của xã hội đối với quá trình thực hiện

nhiệm vụ của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã.

- Phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh và công khai theo quy định của

pháp luật về các trường hợp vi phạm pháp luật do để xảy ra xung đột lợi ích.

70

CÂU HỎI THẢO LUẬN?

1. Chính quyền địa phương ở nước ta hoạt động trên cơ sở những nguyên

tắc cơ bản nào? Liên hệ thực tế hoạt động của chính quyền địa phương nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác.

2. Việc phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương dựa trên các nguyên tắc nào? Làm rõ sự khác nhau giữa phân quyền, phân cấp và ủy quyền.

3. Nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã được quy

định như thế nào? Những yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã? Liên hệ thực tế hoạt động của cá nhân đại biểu HĐND.

4. Xung đột lợi ích là gì? Trách nhiệm của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp

xã trong giải quyết xung đột lợi ích trong hoạt động của cơ quan, đơn vị. Kinh nghiệm của cá nhân đại biểu HĐND trong việc giải quyết xung đột lợi ích.

7 Giảng viên có thể đưa ra những câu hỏi/tình huống khác để thảo luận, trao đổi phù hợp với thực tế của địa phương, nhu cầu học viên và điều kiện lớp học.

71

TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO HỌC VIÊN

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.

2. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2019).

3. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

4. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

5. Văn bản số 883/HD-UBTVQH14 ngày 02/6/2021 của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội Hướng dẫn một số nội dung về việc tổ chức kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026.

6. Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã (nơi cá

nhân ĐBHĐND công tác).

7. Học viện Hành chính Quốc gia, Pháp luật về tổ chức và hoạt động chính

quyền địa phương, Sách chuyên khảo dùng cho đào tạo thạc sĩ của Học viện Hành chính Quốc gia, Nxb. Bách khoa Hà nội, Hà Nội, năm 2021.

Giảng viên cập nhật, giới thiệu thêm những tài liệu tham khảo khác cho học viên, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và khả năng tìm kiếm tài liệu của học viên.

72

Chuyên đề 3

KỸ NĂNG GIÁM SÁT

CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN, CẤP XÃ

I. Giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

1. Khái niệm, mục đích, yêu cầu đối với giám sát của đại biểu Hội đồng

nhân dân cấp huyện, cấp xã

a. Khái niệm giám sát

Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015

quy định, "Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý"

Giám sát của HĐND được quy định cụ thể trong Luật Hoạt động giám sát

của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015. Theo đó, giám sát của HĐND là việc HĐND, Thường trực HĐND, Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐND, đại biểu

HĐND giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý°.

Giám sát của HĐND bao gồm giám sát của HĐND tại kỳ họp, giám sát của

Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐND và các đại biểu HĐND.

b. Mục đích giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

- Kiểm soát việc thực hiện quyền lực của các cơ quan nhà nước ở địa

phương, đánh giá việc thực hiện nghị quyết của HĐND cấp huyện, cấp xã trong thực tiễn, từ đó, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh, xử lý phù hợp.

2 Khoản 1, Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

30 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

73

- Nắm bắt được tình hình thực tế của địa phương, giúp đại biểu HĐND, HĐND có được những thông tin có giá trị, tạo tiền đề cho việc thực hiện chức năng quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐND cấp huyện, cấp xã.

- Phát hiện kịp thời những gương tốt, điển hình trong thi hành Hiến pháp,

pháp luật ở địa phương hoặc những vi phạm pháp luật để đại biểu HĐND kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định.

c. Yêu cầu đối với giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp

- Xác định được nội dung và hiểu rõ các quy định của pháp luật về hoạt

động giám sát. Trước hết, đại biểu cần nắm rõ quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND về các hình thức giám sát, trình tự thực hiện các hình thức này, nguyên tắc, thẩm quyền của đại biểu khi tham gia giám sát.

- Xác định được nội dung và hiểu rõ quy định của pháp luật, nghị quyết của

HĐND liên quan đến nội dung giám sát. Đây là yêu cầu bắt buộc đối với đại biểu. Trước khi tiến hành giám sát, đại biểu nên nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật từ đó mới đánh giá được đối tượng bị giám sát có thực hiện đúng hay không; nắm vững nghị quyết của HĐND khi tiến hành giám sát thực hiện nghị quyết trong thực tế. Thông thường, đối tượng bị giám sát là những người nắm rõ quy định pháp luật vì họ chính là những người áp dụng pháp luật vào thực tế.

- Thu thập, xử lý thông tin liên quan đến nội dung giám sát. Giám sát là

việc xem xét hành vi của đối tượng bị giám sát, do đó, phải nắm được đối tượng bị giám sát đã làm gì, để đánh giá làm có đúng không, có hiệu quả không.

Thu thập, kiểm chứng thông tin là điều hết sức quan trọng đối với đại biểu

khi tiến hành giám sát. Trong bối cảnh đổi mới, hội nhập, cải cách hành chính và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, hoạt động thu thập xử lý thông tin khá đa dạng và phức tạp bởi không chỉ khối lượng thông tin rất lớn mà thông tin còn được chuyển tải trên nhiều kênh khác nhau, nhiều nguồn khác nhau (như qua internet, zalo, facebook, báo chí và truyền thông, báo cáo của các cơ quan, tổ chức và trực tiếp phản ánh của người dân...). Vì vậy, đại biểu cần có khả năng thu thập

và xử lý thông tin, biết sử dụng công nghệ thông tin để có thể nắm bắt được

74

thông tin kịp thời. Hơn thế nữa, do có quá nhiều nguồn, kênh thông tin nên đại biểu HĐND phải kiểm chứng thông tin nào là chính xác, đáng tin cậy; những nguồn thông tin qua môi trường mạng như facebook, zalo...; kiểm tra, kiểm chứng thông tin cẩn trọng, thậm chí ngay cả hệ thống thông tin được thu thập qua hệ thống văn bản hành chính nhà nước cũng cần phải có sự kiểm tra, bởi vì không phải mọi báo cáo của cơ quan nhà nước đều không có sai sót, mọi thông tin trên báo chí đã hoàn toàn chính xác. Ngoài thu thập thông tin, một trong những hoạt động quan trọng của quá trình này là khâu xử lý thông tin. Nếu đại biểu HĐND xử lý thông tin tốt sẽ hữu ích khi quyết định sử dụng thông tin vào nội dung hoạt động của mình cho có hiệu quả, trong đó có hoạt động giám sát.

2. Đối tượng, nội dung, hình thức giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

a. Đối tượng giám sát

Đối tượng giám sát của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã bao gồm 3 nhóm

đối tượng chính đó là: (i) UBND, thành viên UBND cùng cấp; (ii) HĐND, Thường trực HĐND, Ban của HĐND cùng cấp; (iii) Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác ở địa phương. Trong 3 nhóm đối tượng nêu trên, nhóm đối tượng một (UBND, thành viên UBND cùng cấp) là đối tượng bị giám sát chủ yếu.

Ngoài ra, đối tượng giám sát của đại biểu HĐND cấp huyện còn là Tòa án

nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và HĐND cấp xã.

b. Nội dung giám sát

Nội dung giám sát gồm:

- HĐND giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương và việc

thực hiện nghị quyết của HĐND cùng cấp; giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và Ban của HĐND cấp mình; giám sát quyết định của UBND cùng cấp và nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp;

- Thường trực HĐND giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa

phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND cùng cấp; giám sát hoạt động

75

của UBND, các cơ quan thuộc UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và HĐND cấp dưới; giám sát quyết định của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp; giúp HĐND thực hiện quyền giám sát theo sự phân công của HĐND;

- Ban của HĐND giúp HĐND giám sát hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp; giám sát hoạt

động của UBND, các cơ quan thuộc UBND cùng cấp thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực Ban phụ trách;

- Tổ đại biểu HĐND giám sát việc tuân theo Hiến pháp, luật, văn bản quy

phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên ở địa phương và nghị quyết của HĐND cùng cấp hoặc về vấn đề do HĐND, Thường trực HĐND phân công;

- Đại biểu HĐND chất vấn Chủ tịch UBND, thành viên khác của UBND,

Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Thủ trưởng cơ quan thuộc UBND cùng cấp; trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân ở địa phương.

Khi xét thấy cần thiết, HĐND, Thường trực HĐND, Ban của HĐND tiến

hành giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác ở địa phương.

c. Hình thức giám sát giám sát

Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã tự mình giám sát hoặc tham gia nhiều hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện, cấp xã. Trên thực tế, đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã thường xuyên tham gia các hoạt động giám sát chủ yếu sau:

- Giám sát báo cáo công tác: được thực hiện tại kỳ họp HĐND, thông qua việc đại biểu tham gia phát biểu về báo cáo.

- Chất vấn: được thực hiện tại phiên họp HĐND, phiên họp Thường trực

HĐND, thông qua việc đặt câu hỏi chất vấn trực tiếp bằng lời nói hoặc bằng văn bản.

- Tham gia các đoàn giám sát do HĐND, Thường trực HĐND, Ban của HĐND thành lập: thời điểm thực hiện giữa hai kỳ họp HĐND, thông qua việc nghe báo cáo của cơ quan bị giám sát và trực tiếp giám sát, kiểm tra thực tế.

76

- Lấy phiếu tín nhiệm: thời điểm thực hiện 1 lần trong nhiệm kỳ, thông qua

việc thể hiện chính kiến trên lá phiếu.

- Thẩm tra báo cáo: thời điểm thực hiện trước kỳ họp HĐND, đối với đại

biểu là thành viên Ban của HĐND, thông qua các cuộc họp Ban.

- Giám sát chuyên đề là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá

việc thi hành chính sách, pháp luật, nghị quyết của HĐND trong một hoặc một số lĩnh vực nhất định. Trong thực tế, nội dung giám sát chuyên đề thường tập trung ở những lĩnh vực có nhiều vấn đề bức xúc, bất cập, yếu kém ở địa phương hoặc những lĩnh vực quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Qua đó, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập, nguyên nhân của

kết quả, hạn chế, bất cập làm cơ sở để HĐND có những điều chỉnh phù hợp (nếu thuộc thẩm quyền của HĐND) hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết (nếu không thuộc thẩm quyền của HĐND). Như vậy, giám sát chuyên đề có nội dung, phạm vi đối tượng rộng3. Khác với giám sát chuyên đề, giám sát giải quyết một vụ việc cụ thể luôn có một nội dung, đối tượng, phạm vi cụ thể được xây dựng trước.

- Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân: thời

điểm thực hiện do Thường trực HĐND tổ chức hoặc đại biểu trực tiếp tiếp công dân, hình thức thực hiện thông qua các cuộc tiếp công dân, đôn đốc các cơ quan, tổ chức, cá nhân trả lời.

- Nguyên tắc giám sát:

+ Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật;

+ Bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch, hiệu quả;

+ Không làm cản trở đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá

nhân chịu sự giám sát.

Ví dụ: giám sát chuyên đề về thực hiện chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số; việc quản lý trật tự xây dựng; tình hình quản lý đất đai; việc thực hiện sắp xếp bộ máy, tinh giản biên chế; kết quả triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh, công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo; việc thực hiện chính sách đối với ngành y tế, giáo dục, đối tượng người có công, đối tượng bảo trợ xã hội...

77

Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã tự mình hoặc tham gia vào hoạt động giám sát của HĐND, Thường trực HĐND, Ban của HĐND, cụ thể được trình bày tại Bảng 1.1.

Bảng 1: Các hình thức giám sát

STT
Hình thức giám sát
Đại biểu/cơ quan
tổ chức giám sát
Thời điểm
1
Xem xét báo cáo công tác của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và các báo cáo khác.
HĐND
Kỳ họp HĐND
2
3
4
5
Xem xét việc trả lời chất vấn
HĐND, Thường
trực HĐND
Kỳ họp HĐND, phiên họp
Thường trực
HĐND
2
3
4
5
Xem xét quyết định của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp.
Đại biểu, HĐND, Thường trực, Ban của HĐND, Tổ đại biểu
Trong kỳ họp HĐND, giữa
hai kỳ họp
2
3
4
5
Giám sát chuyên đề
Đoàn giám sát của HĐND, Thường trực HĐND, Ban HĐND,
Giữa hai kỳ
họp HĐND
6
Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu.
HĐND
Kỳ họp HĐND
6
Tổ chức hoạt động giải trình.
Thường trực
HĐND
Phiên họp
Thường trực
HĐND

78

7
Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.
Đại biểu, Đoàn giám sát, Thường trực, Ban của HĐND
Giữa hai kỳ họp, phiên họp Thường trực, Ban của HĐND
8
Giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri.
Đại biểu, Đoàn giám sát, Thường trực, Ban
của
HĐND
Giữa hai kỳ họp, phiên họp Thường trực,
Ban của HĐND
9
Thẩm tra các báo cáo.
Ban của HĐND
Phiên họp Ban của HĐND
10
Giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương.
Đại biểu
Giữa hai kỳ
họp

II. Một số kỹ năng trong thực hiện nhiệm vụ giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

1. Kỹ năng chất vấn

a. Chất vấn và mục đích của hoạt động chất vấn

Chất vấn là việc đại biểu HĐND nêu vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ

tịch UBND, thành viên khác của UBND, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp và yêu cầu trả lời về trách nhiệm của mình đối với vấn đề được nêu.

Trên thực tế, chất vấn là hoạt động chủ yếu của đại biểu HĐND cấp huyện,

cấp xã tại mỗi kỳ họp, phiên họp, có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng quyết định tại kỳ họp, phiên họp khi vấn đề được làm rõ. Chất vấn tại kỳ họp của đại biểu HĐND là hoạt động giám sát trực tiếp, là quyền quan trọng của đại biểu dân cử, mà ở đó thể hiện quyền lực và trách nhiệm của đại biểu với cử tri của mình, đồng thời cũng xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan công quyền. Nếu tại mỗi kỳ họp của HĐND cấp huyện, cấp xã thời gian

∞ Đối với đại biểu HĐND cấp xã không thực hiện chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện.

79

dành cho hoạt động chất vấn phù hợp; nội dung các câu hỏi chất vấn khá sát với thực tế và là những vấn đề đông đảo cử tri quan tâm sẽ phản ánh được nguyện vọng của nhân dân.

- Về mặt hình thức, chất vấn là việc đại biểu đặt câu hỏi, nhưng câu hỏi

chất vấn khác với câu hỏi thông thường và câu hỏi để biết thông tin. Câu hỏi chất vấn cũng có thể hỏi để biết thông tin, nhưng mở rộng hơn ở điểm cách đặt câu hỏi chất vấn trong nhiều trường hợp là để làm rõ trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý của người bị trả lời chất vấn. Thường câu hỏi chất vấn chứa các nội dung sau:

+ Nêu vấn đề cần hỏi, yêu cầu người bị chất vấn làm rõ;

+ Nêu thực trạng, vụ việc xảy ra, yêu cầu người bị chất vấn cho biết có biết

việc đó hay không, trách nhiệm của người bị chất vấn để việc đó xảy ra đến đâu?

+ Yêu cầu người bị chất vấn đưa ra hướng xử lý vấn đề; tự mình hoặc yêu

cầu người bị chất vấn xác định chế độ trách nhiệm.

- Chất vấn có 3 mục đích chính, đó là:

+ Để làm rõ trách nhiệm của người bị chất vấn trong việc điều hành, thực

hiện nhiệm vụ chưa tốt, còn có sai sót, hiệu quả chưa cao;

+ Kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động và trách nhiệm của người bị chất

vấn trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Uy tín của người bị chất vấn nhanh chóng được đánh giá qua việc trả lời chất vấn;

+ Giúp người bị chất vấn có cơ hội tự rà soát lại việc thực hiện nhiệm vụ,

công vụ của mình.

b. Quy trình thực hiện hoạt động chất vấn

Giai đoạn 1: công tác chuẩn bị

Thứ nhất, lựa chọn vấn đề chất vấn

Đại biểu nên lựa chọn vấn đề chất vấn dựa trên sự hiểu biết sâu của đại

biểu về nội dung chất vấn; vấn đề chất vấn có tính thời sự được nhiều người quan tâm; vấn đề chất vấn đang gây bức xúc trong xã hội mà trách nhiệm các cơ quan nhà nước phải giải trình làm rõ vấn đề cho công chúng được rõ. Nói một cách cụ thể hơn, đại biểu nên lựa chọn các vấn đề liên quan đến lĩnh vực mà đại

80

biểu am hiểu, thường là vấn đề bức xúc được cử tri và dư luận quan tâm. Thường trực HĐND cấp huyện, cấp xã có thể gợi ý chất vấn gửi đến các Tổ đại biểu. Trước ngày khai mạc kỳ họp, các đại biểu HĐND sinh hoạt tổ, nghiên cứu tài liệu và thảo luận các nội dung sẽ phát biểu tại kỳ họp, trong đó thảo luận nội dung sẽ đưa ra chất vấn tại kỳ họp. Tổ đại biểu cử những người am hiểu về lĩnh vực chất vấn, có kỹ năng nói tốt, giọng nói rõ ràng, mạch lạc để tham gia chất vấn tại kỳ họp. Do đó, vấn đề được lựa chọn đảm bảo phải được chuẩn bị kỹ và là vấn đề lớn, "nóng" tại địa phương.

Việc lựa chọn đối tượng trả lời chất vấn cũng được Tổ đại biểu quan tâm,

tránh trường hợp chất vấn không đúng người có trách nhiệm, vì thực tế có trường hợp đại biểu chất vấn những việc không thuộc trách nhiệm của người bị

chất vấn. Do đó Tổ đại biểu nên thảo luận kỹ và thống nhất đối tượng trả lời chất vấn sẽ đảm bảo đúng người có trách nhiệm.

Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã cần tìm hiểu sâu về nội dung chất vấn.

Hơn nữa để hoạt động chất vấn có hiệu quả, đại biểu phải thu thập thông tin, có số liệu, tư liệu đầy đủ, nguồn thông tin đáng tin cậy và chính xác để tìm hiểu về

bản chất vấn đề, từ đó giúp cho việc đặt câu hỏi được tốt hơn thể hiện sự hiểu biết sâu, rộng về nội dung mình đặt câu hỏi. Câu hỏi phải chính xác, đúng và trúng vấn đề, đúng với trách nhiệm; đồng thời đại biểu có khả năng đặt câu hỏi sâu để có thể truy vấn khi người chất vấn trả lời. Một trong những nguồn thông tin thường được sử dụng là hệ thống thông tin trong báo cáo của cơ quan nhà nước (UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân...)

Thứ hai, chuẩn bị câu hỏi chất vấn

Thời gian dành cho câu hỏi chất vấn ngắn (khoảng 03 phút), vì vậy, đại

biểu HĐND cấp huyện, cấp xã:

- Nên/phải quyết định đặt bao nhiêu câu hỏi (không nên quá 03 câu - dung

lượng khoảng 01 trang giấy A4 đánh máy);

- Sắp xếp câu hỏi mạch lạc về ý, đầy đủ về nội dung, không nên diễn giải

quá nhiều (sợ rằng người bị chất vấn không hiểu vấn đề), các câu hỏi nên rõ ràng, phù hợp và đúng với vấn đề mình cần hỏi;

81

- Nội dung câu hỏi đề cập đến những vấn đề trọng tâm, trọng điểm mà thực

tiễn đang đặt ra, có cơ sở pháp lý (vấn đề đang hỏi có cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn).

Thứ ba, dự báo câu trả lời của người bị chất vấn

Đại biểu dự báo câu trả lời của người bị chất vấn, để từ đó chuẩn bị thêm

thông tin, nếu câu trả lời mang tính "chiếu lệ" không sát với vấn đề mà đại biểu đặt ra thì mình có thể tiếp tục đặt câu hỏi để làm rõ vấn đề hơn.

Đặt câu hỏi chất vấn thì nên lưu ý:

- Đặt câu hỏi chất vấn phù hợp với nội dung chất vấn mà HĐND đã quyết định;

- Đảm bảo thời gian đặt câu hỏi chất vấn đã được quy định. Đại biểu nên đặt câu hỏi ngắn gọn, tránh giải thích dài dòng. Theo vấn đề đến cùng, tiếp tục truy vấn nếu câu trả lời chưa làm đại biểu thỏa mãn. Đại biểu có thể tiếp tục truy vấn theo câu hỏi của mình đã đặt ra hoặc câu hỏi của đại biểu khác đặt ra.

Thứ tư, xác định và lựa chọn hình thức đưa ra câu hỏi chất vấn

Có hai hình thức chất vấn là chất vấn bằng giấy tại kỳ họp hoặc giữa hai kỳ họp, đại biểu ghi câu hỏi chất vấn ra giấy và gửi tới Thường trực HĐND để chuyển tới người bị chất vấn để có văn bản trả lời đại biểu; chất vấn trực tiếp bằng lời nói tại phiên họp.

Hình thức chất vấn trực tiếp tại phiên họp thường đem lại hiệu quả cao hơn,

do đại biểu được nghe đầy đủ thông tin từ người hỏi và trả lời; cách thức trả lời - hỏi bằng lời nói tác động tới người nghe hơn; cử tri thường chỉ tiếp cận với câu hỏi trực tiếp thông qua truyền hình trực tiếp hoặc phản ánh của báo chí.

Vì vậy, nên lựa chọn được hình thức chất vẫn phù hợp với câu hỏi. Với vẫn

đề chi tiết, cụ thể thì cần hỏi bằng giấy, khi đó thông tin mới chính xác và đầy đủ.

Giai đoạn 2: trong phiên chất vấn

- Điều hành phiên chất vấn đảm bảo linh hoạt, tạo được không khí dân chủ, cởi mở. Chủ tọa điều hành theo hướng gợi mở vấn đề, trường hợp liên quan đến

cơ quan, ngành, cá nhân khác thì chủ tọa yêu cầu người đứng đầu cơ quan,

82

ngành hoặc cá nhân đó giải trình thêm. Một đại biểu chất vấn, nhưng thảo luận chất vấn thì chủ tọa gợi mở để nhiều đại biểu cùng tham gia "truy vấn. Sau mỗi phát biểu giải trình của người bị chất vấn và câu hỏi thêm của đại biểu tham gia chất vấn, Chủ tọa nên chốt/kết luận vấn đề cụ thể, như vậy các vấn đề chất vấn sẽ được làm rõ ngay tại kỳ họp. Những vấn đề của cử tri hỏi lặp đi, lặp lại nhiều lần và mang tính chi tiết thì chủ tọa điều hành tổng hợp, khái quát vấn đề, đồng thời có sự trao đổi để làm rõ, tránh lặp đi lặp lại nhiều lần mà không được giải trình, gây bức xúc cho cử tri.

- Trong quá trình điều hành phiên chất vấn, người chủ tọa ngoài việc gợi

mở, chốt vấn đề làm rõ vấn đề thì lưu ý kiểm soát nội dung, tránh trường hợp nội dung không phù hợp; nếu có định kiến và ứng xử không phù hợp, chủ tọa có cách cư xử khéo léo tránh gây mâu thuẫn trong buổi chất vấn. Trong hoạt động chất vấn, việc giữ thái độ bình tĩnh trong mọi tình huống là rất cần thiết; giữ sắc thái điềm đạm, vui vẻ; tránh có thái độ gay gắt, bực tức.

- Trong phiên chất vấn cần thể hiện thái độ hợp tác, tôn trọng lẫn nhau.

Đại biểu thể hiện thái độ của mình không chỉ với nội dung chất vấn mà còn

thông qua sử dụng các yếu tố phi ngôn từ phù hợp; giọng nói, âm điệu, điệu bộ, cử chỉ, tác phong phù hợp. Không nên cao giọng mặc dù cách đặt câu hỏi không phù hợp hoặc ngược lại câu trả lời chưa phù hợp với câu hỏi mình đặt ra; trường hợp này nên tế nhị đặt lại vấn đề, đặt câu hỏi gợi mở tiếp để nhận được câu trả lời đúng. Có thể đặt câu hỏi, dẫn dắt vấn đề theo phép so sánh, tương phản để làm nổi bật vấn đề chất vấn. Ví dụ, đại biểu có thể mở đầu bài tham luận bằng phương pháp tương phản giữa giá đền bù đất nông nghiệp và đất xây dựng trên cùng một mảnh đất để chất vấn việc đền bù đất, mở khu công nghiệp, xây nhà trên đất nông nghiệp.

- Buổi chất vấn nên được đưa tin rộng rãi bởi việc trả lời chất vấn ảnh

hưởng trực tiếp tới uy tín người trả lời. Do đó, đại biểu cần biết sử dụng sức mạnh của truyền thông để đạt được mục tiêu của mình. Ví dụ, việc nhiều người khiếu khiện vì đền bù chưa thỏa đáng, còn sai phạm... sẽ tạo áp lực lên người trả lời chất vấn.

83

Lưu ý: chú ý lắng nghe câu trả lời, nhanh chóng phân tích, đánh giá câu trả

lời có đáp ứng câu hỏi không, cần làm rõ thêm ý nào, người trả lời đã làm rõ

nguyên nhân, giải pháp, trách nhiệm hay chưa... để tiếp tục có câu hỏi truy vấn.

Giai đoạn 3: sau phiên chất vấn

Kết thúc buổi chất vấn cần có kết luận, đây là vấn đề hết sức cần thiết và

quan trọng. Sau phiên chất vấn, Thường trực HĐND ban hành thông báo kết

luận phiên chất vấn, trong đó giao trách nhiệm, nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ

quan, đơn vị, cá nhân liên quan trong việc giải quyết những vấn đề mà đại biểu

HĐND chất vấn tại kỳ họp, yêu cầu rõ thời gian hoàn thành và báo cáo Thường

trực HĐND; đồng thời báo cáo HĐND tại kỳ họp tiếp theo.

Chất vấn tại phiên họp chỉ đem lại tác động bước đầu tới người có trách

nhiệm, người trả lời chất vấn có thể hứa, nhưng từ lời hứa đến hành động là cả

một quá trình. Ngôn ngữ tiếng Việt rất phong phú và đa dạng, khó phân biệt

thế nào là lời hứa với các từ ngữ thể hiện tư tưởng là lời hứa nhưng nếu căn cứ

vào câu chữ thì lại không phải là lời hứa như: "Sẽ xem xét giải quyết", "Ghi

nhận và nghiên cứu trong thời gian tới,... Để người trả lời chất vấn thực hiện

lời hứa trước HĐND, đại biểu cần sử dụng nhiều biện pháp một cách linh hoạt

2

như quyền của đại biểu đã được pháp luật ghi nhận (gặp gỡ trực tiếp, yêu cầu

trả lời, tiếp tục chất vấn ở kỳ họp sau, đề nghị Thường trực HĐND có ý kiến,

HĐND thảo luận tại kỳ họp ...); sử dụng phương tiện báo chí như một kênh gây

sức ép.

Sau phiên chất vấn là giám sát việc thực hiện kết luận phiên chất vấn. Trên

cơ sở thông báo kết luận hoặc nghị quyết phiên chất vấn, Thường trực HĐND

giao các Ban HĐND, các đại biểu HĐND tiến hành giám sát việc thực hiện "lời

hứa sau chất vấn. Có thể kết hợp với giám sát việc giải quyết kiến nghị cử tri,

Thường trực HĐND, các Ban HĐND tiến hành giám sát việc thực hiện kết luận

phiên chất vấn; báo cáo kết quả giám sát với HĐND tại kỳ họp gần nhất. Trường

hợp không giám sát thì đề nghị UBND báo cáo việc chỉ đạo thực hiện "lời hứa"

chất vấn và báo cáo tại kỳ họp HĐND. Làm như vậy, trách nhiệm của người bị

chất vấn được nâng lên, vấn đề chất vấn được giải quyết kịp thời.

84

Chất vấn là hoạt động giám sát đặc biệt quan trọng, vì vậy, HĐND cấp huyện, cấp xã cần có sự chuẩn bị tốt, hơn nữa nên chọn các vấn đề trọng tâm mà

dư luận, người dân đang quan tâm, thậm chí đang "bức xúc để chất vấn, giải đáp các vấn đề cử tri mong mỏi sẽ phần nào đáp ứng sự kỳ vọng của nhân dân vào hoạt động này. Để hoạt động chất vấn thực sự có chiều sâu, thiết thực, giải quyết được những vấn đề bức xúc, mang tính thời sự, đòi hỏi sự nỗ lực cố gắng của nhiều chủ thể, trong đó, quan trọng nhất là đại biểu HĐND. Do đó, đại biểu HĐND phải nâng cao hơn nữa năng lực và tinh thần trách nhiệm của mình, khẳng định bản lĩnh, vị trí của mình trên diễn đàn chất vấn, xứng đáng với danh hiệu cao quý "Người đại biểu nhân dân'.

- Một số hạn chế đối với hoạt động chất vấn:

+ Về phía đại biểu HĐND vẫn còn biểu hiện nể nang, ngại va chạm, nhiều

câu chất vấn còn mang tính hỏi để biết, hỏi dài, chưa đi vào trọng tâm cần hỏi và chưa đeo bám đến cùng để được giải đáp thỏa đáng ngay tại kỳ họp. Việc chuẩn bị câu hỏi chất vấn chủ yếu vẫn do các đại biểu chuyên trách, chưa có nhiều đại biểu HĐND tham gia nên chưa tạo được không khí thảo luận dân chủ trong kỳ họp. Một số thủ trưởng cơ quan hữu quan trả lời còn chung chung, báo cáo hoạt động của cơ quan, đơn vị mình là chính. Tuy có "hứa" nhưng vẫn còn tình trạng "hứa" rồi để đẩy, chậm hoặc không thực hiện. Có thủ trưởng cơ quan còn giao cho cấp phó trả lời phần việc thuộc trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan phải trả lời nghiêm túc trước HĐND, trước cử tri và nhân dân...

+ Về phía cử tri và người dân, có nhiều vấn đề hỏi lặp đi lặp lại, năm này sang năm khác, mặc dù vấn đề đã giải thích nhiều lần nhưng không tiếp thu.

Nhiều cử tri còn "định kiến" cá nhân, cách nói, cách đặt câu hỏi không mang tính xây dựng, trong quá trình chất vấn không giữ thái độ đúng mực, có những

lời nói, cử chỉ, hành vi không phù hợp.

85

2. Kỹ năng giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp và nghị

quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp

a. Mục đích giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp

Việc giám sát quyết định của UBND cùng cấp và nghị quyết của HĐND

cấp dưới trực tiếp nhằm đảm bảo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật của nhà nước, góp phần bảo đảm quyết định của UBND cùng cấp và nghị quyết của HĐND cấp dưới trực được thực thi có hiệu lực, hiệu quả trong thực tế.

b. Nội dung giám sát

Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã tập trung giám sát các nội dung sau:

- Giám sát tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống các

quyết định pháp luật4 do HĐND, UBND ban hành

Đại biểu cần tìm hiểu Hiến pháp, các bộ luật, luật, nghị quyết, nghị định,

thông tư ... của các cơ quan nhà nước cấp trên có nội dung điều chỉnh liên quan tới quyết định pháp luật được giám sát. Nếu giám sát quyết định pháp luật của UBND thì cần so sánh thêm với nghị quyết của HĐND có nội dung điều chỉnh tương tự. Xem xét xem quyết định pháp luật của cơ quan chính quyền địa phương ban hành có trái với Hiến pháp, pháp luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên hay không. Nội dung quyết định có trái/mâu thuẫn/chồng chéo Hiến pháp, pháp luật hoặc các quy định của cơ quan nhà nước cấp trên hay không, có bất hợp lý không.

- Giám sát sự phù hợp giữa hình thức và nội dung của quyết định

Xem xét quyết định không chứa quy phạm nhưng được ban hành dưới dạng

văn bản quy phạm pháp luật; quyết định chứa quy phạm pháp luật lại được ban hành dưới dạng văn bản hành chính không phải văn bản quy phạm. Xem xét giữa tên gọi quyết định với nội dung quyết định, tránh trường hợp trích yếu nội dung ghi một "đàng" nội dung viết một "nẻo'. Xem xét tham chiếu xem nội dung quyết định phù hợp với thẩm quyền mà pháp luật đã quy định không.

33 Đối với HĐND cấp xã không có nội dung giám sát nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp.

Quyết định pháp luật ở đây được hiểu gồm quyết định quy phạm pháp luật và quyết định áp dụng pháp luật (quyết định cá biệt), được thể hiện qua hình thức văn bản hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

86

- Giám sát trình tự, thủ tục ban hành quyết định pháp luật, thể thức (nếu thể hiện dưới hình thức văn bản)

Đối với hoạt động giám sát trình tự, thủ tục ban hành văn bản pháp luật, đại

biểu HĐND có thể thực hiện một số nội dung sau như:

+ Giám sát để xem xét việc đề xuất văn bản đã phù hợp chưa? Giám sát

việc thành lập tổ soạn thảo; quá trình xây dựng dự thảo văn bản có phù hợp với quy định pháp luật chưa?

+ Giám sát hoạt động lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo văn bản, xem xét

trên thực tế người soạn thảo văn bản pháp luật có lấy ý kiến đóng góp của các đối tượng liên quan trong quá trình xây dựng không, cách thức, phương pháp lấy

ý kiến như thế nào? Lấy ý kiến bằng những hình thức nào, có thực chất không? Đặc biệt là những nội dung văn bản có tác động đến đời sống của người dân; có lấy ý kiến của các ban ngành, đoàn thể... trong cơ quan, tổ chức và các cơ quan, tổ chức đóng trên địa bàn địa phương mình không?

Đây là hoạt động giám sát cần thiết để tránh làm chiếu lệ, không có ý kiến

đông đảo của công chúng dẫn đến việc ban hành văn bản không phù hợp với thực tế. Thực tiễn cho thấy, nếu hoạt động lấy ý kiến của người dân vào quá trình xây dựng văn bản không được thực hiện nghiêm túc, đặc biệt những quy định liên quan trực tiếp đến người dân mà không có sự tham gia của người dân thì khi tổ chức triển khai thực hiện rất có thể không có hiệu quả bởi các quy định không phù hợp với thực tế.

+ Giám sát quá trình thẩm định văn bản;

+ Giám sát hoạt động thông qua văn bản, tổ chức thực hiện văn bản. Đối

với khâu thực hiện văn bản cần giám sát xem cách thức tổ chức triển khai thực hiện; những nội dung quy định trong văn bản có phù hợp với thực tế không? để từ đó có sự phản hồi, đánh giá, rút kinh nghiệm cho hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tiếp theo.

- Đối với việc giám sát, kiểm tra hình thức của văn bản pháp luật, đại biểu HĐND cần nắm rõ quy định trong Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP (tại các văn bản này quy định cụ thể thể thức và cách trình

87

bày văn bản quy phạm pháp luật). Tiếp đến các đại biểu cần xác định được thể thức và cách trình bày thể thức văn bản hành chính được quy định tại Nghị định

số 30/2020/NĐ-CP quy định về công tác văn thư, trong đó có quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính.

- Giám sát tính hợp lý của quyết định pháp luật trong quá trình áp dụng trên

2 góc độ: Phù hợp với thực tiễn và có tính hiệu lực, hiệu quả.

Đây là nội dung giám sát khó bởi để kiểm tra quyết định pháp luật có phù hợp với thực tiễn không cần thông qua thông tin trên báo chí, kiến nghị và phản ánh của người dân, trực tiếp tìm hiểu thực tế. Hiệu quả của quyết định pháp luật cũng khó đánh giá vì tiêu chí đánh giá là gì, mỗi cơ quan có tiêu chí đánh giá khác nhau để chứng minh hiệu quả hay không hiệu quả. Tính hiệu quả thường được xác định dựa trên cơ sở khả năng thực hiện quyết định pháp luật trên thực tế, nguồn lực thực hiện trong mối tương quan với kết quả đạt được.

- Các hoạt động giám sát quyết định pháp luật

Để thực hiện tốt hoạt động giám sát quyết định của UBND cùng cấp, nghị

quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp, trước hết, đại biểu cần phát hiện được vấn đề. Tùy từng cấp HĐND mà cách thức phát hiện vấn đề giám sát của đại biểu

khác nhau. Đối với đại biểu HĐND cấp huyện, ngoài việc đại biểu trực tiếp xem, đọc quyết định của UBND thì cần thông qua nhiều kênh thông tin khác

(báo chí ở địa phương chẳng hạn). Các Tổ đại biểu phân công đại biểu đọc, nghiên cứu văn bản của HĐND cấp dưới, các Ban của HĐND xem xét quyết định của UBND cùng cấp theo lĩnh vực được phân công. Đối với cấp xã, do lượng văn bản ban hành của UBND cấp xã thường không nhiều, đại biểu có thể tự mình nghiên cứu.

Phát hiện vấn đề là khâu quan trọng, bước đầu tiên để tiến hành giám sát

quyết định của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. Với hệ thống văn bản quy phạm lớn, của nhiều cấp, đại biểu nếu không chuyên sâu trong từng lĩnh vực thì khó mà nhớ hết để phát hiện vấn đề kịp thời. Đại biểu nên thông qua tiếp cận thông tin từ cử tri vì cử tri rất đa dạng về trình độ chuyên

88

môn, hiểu biết pháp luật và lĩnh vực chuyên sâu, là những người giúp đại biểu phát hiện vấn đề nhanh và đúng.

Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã nên so sánh quyết định của UBND cùng

cấp, nghị quyết của HĐND cấp xã bị giám sát với quy định của cơ quan cấp trên. Một quy định của UBND liên quan đến nhiều văn bản khác nhau, nhưng có một điểm đại biểu nên lưu ý để xác định phạm vi văn bản của cấp trên đó chính

là phần "căn cứ". Quyết định của UBND, nghị quyết của HĐND đều có phần căn cứ các văn bản quy phạm của cơ quan cấp trên để ban hành, trong đó bao hàm 2 nội dung: quy định về thẩm quyền ban hành văn bản và nội dung văn bản ban hành.

Bên cạnh việc đối chiếu, so sánh với quy định của cơ quan nhà nước cấp trên, đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã nên xem văn bản có phù hợp với thực tế,

tình hình, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương (nơi đại biểu công

tác), có tính hiệu quả hay không để đề nghị cơ quan ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung.

c. Trình tự thực hiện hoạt động giám sát

Điều 68 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm

2015 quy định việc xem xét quyết định của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp, được thực hiện theo trình tự sau đây:

- Thường trực HĐND xem xét quyết định của UBND cùng cấp, nghị quyết

của HĐND cấp dưới trực tiếp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến

pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp;

+ Theo đề nghị của Ban của HĐND, đại biểu HĐND;

+ Theo đề nghị của UBND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.

89

- Ban pháp chế có trách nhiệm thẩm tra đề nghị về văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp.

Ban của HĐND có trách nhiệm chủ trì, phối hợp thẩm tra đề nghị về văn

bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp thuộc lĩnh vực phụ trách.

- Thường trực HĐND xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái

pháp luật theo trình tự:

+ Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có đề nghị trình bày;

+ Trưởng ban của HĐND trình bày báo cáo thẩm tra;

+ Đại diện cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

+ Người đứng đầu cơ quan đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật báo

cáo, giải trình;

+ Thường trực HĐND thảo luận;

+ Chủ tọa cuộc họp kết luận.

- Khi xét thấy văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp,

luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp thì Thường trực HĐND có quyền yêu cầu cơ quan ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản; trường hợp cơ quan ban hành văn bản không thực hiện yêu cầu thì Thường trực HĐND trình HĐND xem xét, quyết định.

3. Kỹ năng giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương

a. Mục đích giám sát thi hành pháp luật

Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã có trách nhiệm thường xuyên theo dõi,

xem xét việc thi hành pháp luật tại địa phương nhằm mục đích bảo đảm cho hệ thống pháp luật được đi vào thực tiễn đời sống xã hội, đồng thời giúp phát hiện những bất hợp lý giữa các quy định trong văn bản pháp luật với thực tế, từ đó có đề xuất chỉnh sửa, hoàn thiện nội dung văn bản pháp luật cho phù hợp thực tế.

b. Vai trò của hoạt động giám sát việc thi hành pháp luật

- Giúp việc thi hành pháp luật có hiệu lực, hiệu quả trong thực tế;

90

- Bảo đảm cho Hiến pháp, pháp luật phát huy đầy đủ vai trò của mình trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, đảm bảo cho nguyên tắc pháp quyền được thực thi trong hoạt động hành pháp;

- Thông qua hoạt động giám sát việc thi hành pháp luật mà phát hiện những

nội dung quy định không phù hợp, không đi vào cuộc sống, góp phần hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp.

c. Các bước thực hiện hoạt động giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương

Việc giám sát thi hành pháp luật ở địa phương được quy định Luật Hoạt

động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 (Điều 86), với nội dung như sau:

- Đại biểu HĐND thường xuyên theo dõi, xem xét việc thi hành pháp luật

tại địa phương;

- Tổ đại biểu HĐND tổ chức để đại biểu HĐND giám sát việc thi hành

pháp luật trên địa bàn nơi đại biểu ứng cử.

Theo đó, hoạt động giám sát thực thi pháp luật ở địa phương của đại biểu

HĐND được triển khai thực hiện như sau:

Bước 1: công tác chuẩn bị

- Xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện giám sát;

- Chuẩn bị nội dung, nghiên cứu tài liệu; nghiên cứu hệ thống văn bản pháp

luật quy định về hoạt động của các cơ quan chính quyền địa phương. Nghiên cứu các quy định liên quan đến hoạt động giám sát thi hành pháp luật, nghiên cứu xác định rõ những nội dung cần triển khai, cách thức triển khai một cách cẩn thận để có cơ sở so sánh các quy định trong văn bản với cách thức tổ chức thi hành pháp luật trong thực tế;

- Xác định thời gian cụ thể và thành phần tham gia giám sát;

- Thông báo nội dung, kế hoạch giám sát cho cơ quan, tổ chức, cá nhân

chịu sự giám sát chậm nhất là 07 ngày trước ngày bắt đầu tiến hành hoạt động giám sát;

- Mời đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia giám sát;

91

- Cần thiết tổ chức cuộc họp đoàn trước khi thực hiện giám sát

Bước 2: khi tiến hành thực hiện giám sát

UBND cấp huyện, cấp xã tổ chức thực thi văn bản pháp luật do chính cơ

quan mình ban hành và tổ chức thực thi các văn bản quy phạm pháp luật do các

cơ quan nhà nước cấp trên ban hành. Do vậy, đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã cần xác định rõ nội dung giám sát cho từng trường hợp cụ thể. Đối với giám sát việc thi hành văn bản pháp luật do chính quyền địa phương ban hành thì đại biểu HĐND quan tâm thêm văn bản hướng dẫn thực hiện.

Đối với hệ thống văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì việc

ban hành văn bản hướng dẫn thuộc cơ quan nhà nước cấp trên, tức cơ quan ban

hành văn bản pháp luật sẽ ra văn bản hướng dẫn. Tuy nhiên, có những điểm chung cho cả hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên ban hành và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan địa phương ban hành mà đại biểu thực hiện giám sát đều phải xem xét đó là: (1) Địa phương có xây dựng kế hoạch, chương trình thực thi pháp luật trên địa bàn địa phương không? (2) Địa phương có phổ biến chương trình, kế hoạch cho người dân biết để thực thi pháp luật; (3) Địa phương có đôn đốc, kiểm tra, theo dõi quá trình thực hiện không và (4) Sau một thời gian thực hiện có đánh giá rút kinh nghiệm?.

Tiếp đến, giám sát việc cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức,

người dân trên địa bàn thực hiện pháp luật như thế nào trong thực tế; có chấp hành đúng pháp luật không? việc áp dụng pháp luât vào trong thực tế như thế nào? Có áp dụng đúng và triển khai có thống nhất trên địa bàn địa phương không..

- Trong quá trình thực hiện giám sát, nếu phát hiện có hành vi vi phạm

pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì đại biểu HĐND có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và khôi phục lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị vi phạm; trường hợp cơ quan, tổ chức không thực hiện hoặc đại biểu

92

HĐND không đồng ý với việc giải quyết thì đại biểu HĐND có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp xem xét giải quyết;

Bước 3: Viết báo cáo kết quả hoạt động giám sát

Chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày kết thúc hoạt động giám sát, đại biểu

HĐND báo cáo kết quả giám sát với Thường trực HĐND cùng cấp.

Báo cáo giám sát việc thi hành pháp luật ở chính quyền địa phương cần

được trình bày bằng văn bản.

Bản báo cáo cần thể hiện rõ:

- Khái quát chung, mục này cần làm rõ một số nội dung cụ thể: (1) Thời

gian thực hiện giám sát thi hành pháp luật trên địa bàn địa phương (năm nào hoặc từ năm nào đến năm nào), cần nêu cụ thể dịa bàn (xã hoặc huyện mình giám sát thực thi pháp luật); (2) Nội dung giám sát; (3) Hệ thống văn bản pháp luật mà địa phương triển khai thực hiện (nêu cụ thể nhóm văn bản pháp luật nào vì có như vậy mới kiểm chứng được);

- Đánh giá kết quả thực thi pháp luật trên địa ở địa phương: Mục này cần

nêu rõ một số nội dung: (1) Hoạt động xây dựng kế hoạch, chương trình, tuyên truyền phổ biến pháp luật của địa phương; (2) Những kết quả đạt được về tuân thủ pháp luật; sử dụng pháp luật; chấp hành pháp luật và áp dụng pháp luật; (3) Một số điểm chưa đạt được, còn hạn chế và nguyên nhân.

- Kết luận: Tóm tắt kết quả giám sát việc thi hành pháp luật trong thời gian

qua; có thể có đề xuất về cách tổ chức thực hiện; về công tác đôn đốc, kiểm tra đối với cơ quan tổ chức thực hiện pháp luật và đề xuất điều chỉnh văn bản pháp lật và cách thức tổ chức thực thi pháp luật (nếu có).

4. Kỹ năng giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công

dân

a. Mục đích giám sát khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân

Điều 30, Hiến pháp năm 2013 quy định: "Khiếu nại, tố cáo là quyền của công dân; việc tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Với trách nhiệm đại diện cho nhân dân, cử tri ở địa phương, được Nhà nước trao quyền lực, đại biểu HĐND có vai trò, trách

93

nhiệm quan trọng trong việc bảo đảm giải quyết khiếu nại, tố cáo tuân thủ pháp luật.

Theo quy định tại Điều 95, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015

(sửa đổi, bổ sung năm 2019), đại biểu HĐND khi nhận được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân thì có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị biết; đôn đốc, theo dõi và giám sát việc giải quyết. Trong trường hợp xét thấy việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đúng pháp luật, đại biểu HĐND có quyền gặp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại; khi cần thiết, đại biểu HĐND yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó giải quyết.

Người có thẩm quyền giải quyết phải thông báo cho đại biểu HĐND về kết

quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân trong thời hạn do pháp luật quy định.

b. Nội dung hoạt động giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo

- Giám sát thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo

Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã nên nắm rõ quy định về thời hạn giải

quyết khiếu nại được quy định trong Luật Khiếu nại năm 2011 (Điều 28): đối với khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý. Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 45 ngày kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày kể từ ngày thụ lý.

Thời hạn giải quyết tố cáo quy định trong Luật Tố cáo năm 2018 (Điều 30)

là không quá 30 ngày kể từ ngày thụ lý tố cáo; đối với vụ việc phức tạp thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo một lần nhưng không quá 30 ngày; đối với vụ việc đặc biệt phức tạp thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo hai lần, mỗi lần không quá 30 ngày. Người giải quyết tố cáo quyết định bằng văn bản việc gia hạn giải quyết tố cáo và thông báo đến người tố cáo, người bị tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

94

- Giám sát về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo

Đại biểu HĐND bám sát quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, thẩm quyền giải quyết tố cáo (được quy định trong Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2018) để xác định rõ ai là người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, giải quyết tố cáo.

- Giám sát nội dung giải quyết khiếu nại, tố cáo các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã nên và cần tìm hiểu cả cơ sở pháp lý,

nội dung đơn khiếu nại, tố cáo, từ đó xác định văn bản quy phạm pháp luật cần tìm hiểu; nghiên cứu kỹ các văn bản trong hồ sơ, trong đó có biên bản của cơ quan nhà nước xử lý vụ việc; chứng cứ đưa ra đảm bảo tính pháp lý.

- Giám sát quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền

Đại biểu cần lưu ý đến thể thức của quyết định xem đã đúng quy định chưa;

nội dung có đảm bảo tính pháp lý, kết luận có rõ ràng, đảm bảo thực hiện được trên thực tế, nội dung nào chưa có kết luận.

c. Một số lưu ý trong hoạt động giám sát công tác giải quyết khiếu nại, tố

cáo, kiến nghị của công dân

- Về phân loại đơn, thư

Để thuận tiện cho việc xử lý đơn, thư, đại biểu cần phân loại đơn, thư khiếu

nại, tố cáo thành các loại: đơn khiếu nại hay đơn tố cáo, đơn, thư trùng lắp, đơn, thư khiếu nại tập thể, nội dung tố cáo (về đất đai, về hành chính, về hình sự ...), đối tượng khiếu nại, tố cáo ... Từ việc phân loại này, đại biểu lựa chọn phương án xử lý đơn thư sao cho phù hợp, hiệu quả.

- Về xử lý đơn, thư

Trên cơ sở đơn, thư đã phân loại, đại biểu tiến hành xử lý đơn theo nguyên

tắc; nắm rõ chức năng, nhiệm vụ của đại biểu được pháp luật quy định (chuyển đơn, đôn đốc và theo dõi việc xử lý, gặp người đứng đầu cơ quan để tìm hiểu và yêu cầu xem xét lại, yêu cầu cấp trên của cơ quan, đơn vị đó giải quyết); nắm rõ trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của từng cơ quan (được quy định trong

95

Luật Khiếu nại năm 2011 và Luật Tổ cáo năm 2018, quy định trong chức năng,

nhiệm vụ của từng cơ quan); xác định các yếu tố pháp lý liên quan tới nội dung

đơn (nội dung vụ việc, bằng chứng, căn cứ pháp lý, cần tìm hiểu hay xác minh

thêm nội dung gì, ...); tập hợp tài liệu, các văn bản có liên quan, phục vụ cho

việc giám sát giải quyết vụ việc (pháp luật, các văn bản hướng dẫn ...).

Đại biểu có thể phải tìm hiểu, xác minh thực tế. Đại biểu HĐND gửi yêu

cầu theo mẫu chuyển đơn, thư khiếu nại, tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền giải

quyết khiếu nại, tố cáo hoặc thông qua Thường trực HĐND để chuyển đơn. Đại

biểu không chuyển khiếu nại, tố cáo trong những trường hợp sau: khiếu nại, tố

cáo nhiều lần đã được hướng dẫn giải quyết hoặc chuyển đơn; nội dung không

rõ ràng; không rõ tên, địa chỉ của người gửi (với đơn, thư nhận qua đường bưu

điện); khiếu nại đã có quyết định giải quyết cuối cùng của cơ quan, tổ chức có

thẩm quyền mà đại biểu xét thấy việc giải quyết đó là đúng pháp luật.

- Về đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị

Để làm hết trách nhiệm của mình, đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã không

chỉ dừng ở việc chuyển đơn mà cần phải theo dõi việc cơ quan, tổ chức, cá nhân

xử lý đơn thư như thế nào. Đại biểu nên lập sổ theo dõi đơn, thư đã được gửi

đến cơ quan, tổ chức, cá nhân nào, gửi ngày nào. Trên cơ sở quy định của pháp

luật về thời hạn trả lời đơn thư, đại biểu đôn đốc người có trách nhiệm giải quyết

thông qua hình thức gặp gỡ trực tiếp hoặc tiếp tục gửi công văn, thư để nhắc về

thời hạn giải quyết. Trong trường hợp đơn, thư được giải quyết nhưng đại biểu

xét thấy việc giải quyết không thỏa đáng, đại biểu gặp người đứng đầu cơ quan,

tổ chức để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại; khi cần thiết, đại biểu yêu cầu cơ quan,

tổ chức cấp trên của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó giải quyết.

96

CÂU HỎI THẢO LUẬN5

1. Khi giám sát thực thi pháp luật ở địa phương, đại biểu HĐND cấp huyện,

cấp xã cần quan tâm tới những nội dung gì? Liên hệ thực tế địa phương (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác).

2. Khi thực hiện giám sát quyết định của UBND cùng cấp và nghị quyết của

HĐND cấp dưới đại biểu cần chuẩn bị những nội dung gì để hoạt động giám sát có kết quả tốt.

3. Nêu những khó khăn, bất cập trong hoạt động giám sát của Đại biểu

HĐND cấp huyện, cấp xã hiện nay; nguyên nhân và giải pháp. Liên hệ thực tế địa phương (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác).

4. Kinh nghiệm của cá nhân đại biểu HĐND trong việc giám sát giải quyết

khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân ở địa phương.

35 Giảng viên có thể đưa ra những câu hỏi/tình huống khác để thảo luận, trao đổi phù hợp với thực tế của địa phương, nhu cầu học viên và điều kiện lớp học.

97

TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO HỌC VIÊN

1. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2019).

2. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm

2015.

3. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung

năm 2020).

4. Luật Khiếu nại năm 2011.

5. Luật Tố cáo năm 2018.

6. Luật Tiếp công dân năm 2013.

7. Nghị định số 20/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2008 của Chính

phủ về tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính (được sửa đổi, bổ sung bởi: Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính; Nghị định số 150/2016/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ; Nghị định số 92/2017/NĐ-CP ngày 07 tháng 8 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính).

8. Nghị quyết về chương trình giám sát của Hội đồng nhân dân (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác).

9. Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác).

Giảng viên cập nhật, giới thiệu thêm những tài liệu tham khảo khác cho học viên, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và khả năng tìm kiếm tài liệu của học viên.

98

Chuyên đề 4

KỸ NĂNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỰC THI NHIỆM VỤ

CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN, CẤP XÃ

I. Năng lực thực thi nhiệm vụ của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp

huyện, cấp xã

1. Khái niệm và những yếu tố cấu thành năng lực thực thi nhiệm vụ

của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

a)Khái niệm

Có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực. Dưới góc độ tâm lý học, năng

lực được hiểu là tổng hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những

yêu cầu của một hoạt động nhất định37. Theo cách tiếp cận của khoa học quản lý nguồn nhân lực, Du Bois38 cho rằng: Năng lực là khả năng của một cá nhân để đáp ứng hoặc đáp ứng vượt mức các yêu cầu của một vị trí công việc nhằm đạt được kết quả công việc mong muốn trong điều kiện nhất định của tổ chức. Theo Parry ScottB: Năng lực là tập hợp các kiến thức, thái độ và kỹ năng ảnh hưởng được cải thiện thông qua đào tạo và phát triển. Bolt (1987) cho rằng, năng lực là đến phần lớn một công việc nào đó; ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc và có thể sự "kết hợp đồng thời những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có để hoàn thành tốt một vai trò hay một công việc được giao.

Tóm lại, năng lực là khả năng đáp ứng yêu cầu công việc. Năng lực không

những phản ánh trình độ được đào tạo của một cá nhân mà còn thể hiện trong thực tiễn hành động. Năng lực là tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ và các đặc điểm cá nhân được vận dụng và phát triển trong quá trình làm việc để đạt được kết quả mong muốn trong những điều kiện nhất định. Năng lực chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi các yếu tố thuộc tổ chức và vị trí việc làm cụ thể. Mỗi một công việc hay vị trí việc làm đều có những yêu cầu cụ thể về năng lực thực hiện công

việc - cơ sở để xác định các tiêu chuẩn mà người đảm nhiệm công việc phải đáp 37 Xem thêm: Nguyễn Quang Uẩn (Chủ biên), 2015, Tâm lý học đại cương, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội.

Dubois, D. (1993), Competency-based performance improvement: A strategy for organisational change, Amherst, MA: HRD Press Inc.

99

ứng. Các vị trí công việc khác nhau sẽ đòi hỏi những năng lực khác nhau°. Vì

vậy, yêu cầu về năng lực thực hiện nhiệm vụ được xác định trên cơ sở các chức năng, nhiệm vụ cơ bản của một vị trí làm việc cụ thể, với các tình huống cụ thể.

Theo cách tiếp cận chung này, đặc thù hoạt động của đại biểu HĐND cấp

huyện, cấp xã sẽ là cơ sở xác định các yêu cầu cụ thể đối với năng lực thực thi nhiệm vụ của họ.

Từ các nhận định trên, năng lực thực thi nhiệm vụ của đại biểu HĐND cấp

huyện, cấp xã được hiểu là sự tổng hòa kiến thức, kỹ năng và thái độ/hành vi cần có để đạt được kết quả thực thi công việc đáp ứng các yêu cầu của chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định. Bên cạnh đó, năng lực thực thi nhiệm vụ của đại biểu HĐND còn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan thuộc về tổ chức và đặc điểm cá nhân của mỗi đại biểu.

Năng lực thực thi nhiệm vụ của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã có ảnh

hưởng trực tiếp đến hiệu quả thực hiện vai trò của người đại diện cho tiếng nói và nguyện vọng của nhân dân trong việc: (i) ban hành nghị quyết và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm; (ii) giám sát việc tuân thủ hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của địa phương; (iii) quyết định các biện pháp

bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, tội phạm, các hành vi vi phạm

pháp luật, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong phạm vi được phân quyền... Vì vậy, năng lực thực thi nhiệm vụ có hiệu quả của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã sẽ góp phần quan trọng đến hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương nhằm phát triển bền vững.

b. Các yếu tố cấu thành năng lực thực thi nhiệm vụ của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

Từ quan niệm đề cập ở trên, năng lực bao gồm 3 yếu tố cấu thành:

- (1) Kiến thức (Knowledge): Thuộc về năng lực tư duy;

- (2) Kỹ năng (Skills): Kỹ năng thao tác;

- (3) Thái độ/phẩm chất (Attitude): Thuộc về phạm vi cảm xúc, tình cảm.

Nguyễn Thị Hồng Hải (2011) Một số vấn đề về phát triển năng lực của cán bộ công chức, Tạp chí Tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ, 2011, Số 9, trang 20.

100

Trong đó, kiến thức là hiểu biết mà cá nhân có được sau khi trải qua quá trình giáo dục - đào tạo, đọc hiểu, phân tích và ứng dụng. Đây là hệ thống các tri thức mà cá nhân tích lũy được, giúp nhận biết về thế giới, xã hội. Kỹ năng là khả

năng thực hiện các công việc, biến kiến thức thành hành động. Đó là khả năng của con người có tri thức, biết vận dụng kiến thức, kinh nghiệm, tận dụng tối ưu sự hỗ trợ của kỹ thuật, công nghệ để có được tập hợp các thao tác trong tư duy và hành động, tạo thành phương thức hành động thích hợp với điều kiện, môi trường nhằm thực hiện một nhiệm vụ, một công việc... đạt được kết quả tốt nhất với chi phí các nguồn lực thấp nhất. Thái độ hay phẩm chất thể hiện cách thức nhìn nhận và phản ứng của cá nhân với công việc, động cơ, cũng như những tố

chất cần có để đảm nhận tốt công việc.

Do đó, năng lực thực thi nhiệm vụ của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã bao gồm các các yếu tố cấu thành:

Một là, kiến thức: Bên cạnh kiến thức chuyên môn được đào tạo, kiến thức

pháp luật và quản lý nhà nước, đại biểu HĐND còn phải tự trang bị các kiến thức tổng hợp về đời sống của địa phương trên tất cả các lĩnh vực chính trị -

kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng,... thấu hiểu đặc thù của địa phương trong mối tương quan với bối cảnh trong nước và quốc tế. Năng lực thực thi nhiệm vụ của đại biểu HĐND được hình hình thành và phát triển bằng trải nghiệm thực tế và nỗ lực học hỏi, rèn luyện thông qua công việc, vì vậy, kiến thức chuyên môn được đào tạo và minh chứng qua văn bằng, chứng chỉ chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ để đảm bảo thực hiện tốt vai trò là người đại biểu dân cử.
Để có thể làm giàu vốn tri thức của mình, người đại biểu HĐND cấp
huyện, cấp xã phải luôn luôn tự trau dồi, rèn luyện khả năng nhận thức, có tinh thần học hỏi để không ngừng nâng cao kiến thức, cập nhật thông tin và tri thức mới.
Hai là, kỹ năng: Khả năng thực hiện công việc trong thực tế, thể hiện qua
sự thành thục trong thực hiện các hoạt động, các thao tác công việc và các quy trình, thủ tục liên quan. Bên cạnh các kỹ năng chuyên môn sâu như kỹ năng
101

phân tích đánh giá lợi thế so sánh của địa phương, kỹ năng giám sát, kỹ năng

tiếp xúc và trả lời chấp vấn của cử tri... đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã còn

phải rèn luyện các kỹ năng lãnh đạo, quản lý và các kỹ năng "mềm khác.

Ba là, thái độ/hành vi: Có quan điểm và hành vi ứng xử thích hợp trong

công việc, có tinh thần phục vụ nhân dân, có tinh thần chịu trách nhiệm cao.

Thực hiện sứ mệnh là người đại diện cho cử tri, đại biểu HĐND cấp huyện, cấp

xã cần có thái độ chủ động, tích cực, nghiêm túc, khách quan trong lãnh đạo, chỉ

đạo, gương mẫu, giữ gìn phẩm chất đạo đức, nói đi đôi với làm, tận tụy trong

công việc, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

2. Xác định nhu cầu phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ của đại biểu

Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, đại biểu HĐND cấp huyện, xã với chức

trách và nhiệm vụ của mình đòi hỏi phải có sự tổng hợp kiến thức, khả năng xử

lý và giải quyết nhiều tình huống trong thực tiễn. Đặc biệt, trong bối cảnh hội

nhập và phát triển hướng đến xây dựng chính phủ số, kinh tế số, xã hội số đòi

hỏi người đại biểu HĐND huyện, xã cần bổ sung và cập nhật kiến thức cũng

như kỹ năng để có thể đảm trách, thực thi nhiệm vụ có hiệu quả. Chính vì vậy,

việc mỗi cá nhân đại biểu HĐND tự đánh giá bản thân về năng lực thực thi, về hiệu quả hoạt động để xây dựng cho cá nhân nhu cầu phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ của bản thân là hoạt động không thể thiếu.
Nhu cầu phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ của bản thân đại biểu HĐND
được hiểu là khoảng "hẫng hụt" giữa năng lực mong muốn để làm tốt công việc với năng lực hiện có của bản thân.
Năng lực cần có: Kiến thức, kỹ năng, thái độ
Năng lực hiện có:
Kiến thức, kỹ năng, thái độ
Nhu cầu phát triển
năng lực cá nhân
102
:

Nhu cầu phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ của đại biểu HĐND có thể được xác định thông qua nhiều kênh:

- Bản thân cá nhân đại biểu tự đánh giá;

- Các đồng nghiệp đánh giá;

- Thủ trưởng đơn vị (nếu có) nhận xét đánh giá;

- Cử tri nhận xét, đánh giá;

- Thông qua lấy ý kiến qua phiếu khảo sát, hòm thư...

Phương pháp xác định nhu cầu phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã tương đối đa dạng. Tuy nhiên, cơ sở quan trọng để xác định nhu cầu phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ của đại biểu HĐND là đối chiếu với các chuẩn mực công việc đã được công nhận. Trong trường hợp tổ chức chưa đưa ra được hệ thống chuẩn mực chung đối với công

việc, có thể lấy kết quả đầu ra đã đạt được hoặc kết quả mong đợi làm chuẩn để

so sánh. Việc xác định nguyên nhân không đạt chuẩn mực đã xác định hoặc kết quả đầu ra sẽ là căn cứ quan trọng để xác định khoảng 'hụt hẫng" về năng lực - nhu cầu phát triển năng lực chuyên môn/năng lực thực thi nhiệm vụ của người đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã.

Có nhiều cách để xác định nhu cầu phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ

của đại biểu HĐND, nói chung, và cấp huyện, cấp xã, nói riêng:

Cách 1: Xác định nhu cầu phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ trên cơ sở

đánh giá thực trạng thực thi công việc của cá nhân đại biểu, bao gồm các bước:

- Đánh giá, phân tích thực trạng thực thi các nhiệm vụ chuyên môn của đại

biểu HĐND huyện, xã (phân tích SWOT)

Những điểm mạnh
1.
2.
Những điểm yếu
1.
2.
Những cơ hội
1..
Những thách thức
1.
2.
2.

103

- Xác định nguyên nhân của những điểm yếu, phân loại các nguyên nhân thuộc về năng lực thực thi nhiệm vụ của bản thân (thiếu kiến thức/kỹ năng hay thái độ chưa đúng? thiếu kiến thức/kỹ năng còn hạn chế/thái độ tích cực);

- Cá nhân tự lập kế hoạch phát triển năng lực chuyên môn, năng lực thực

thi nhiệm vụ của cá nhân: Triệt tiêu các nguyên nhân làm hạn chế kết quả thực

hiện nhiệm vụ (phân theo nhóm gắn với cấu trúc năng lực, phân theo nguyên nhân khách quan, chủ quan; chỉ ra phương thức thực hiện; thời gian...).

Cách 2: Xác định nhu cầu phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ trên cơ sở

đối chiếu với bảng mô tả công việc (nếu có), bao gồm các bước:

- Phân loại các kiến thức, kỹ năng cần có theo mức độ:

+ Chuyên gia (làm tốt và có khả năng hướng dẫn những người khác);

+ Thành thạo (làm tốt một cách độc lập);

+ Chưa thành thạo, cần sự hỗ trợ, hướng dẫn;

+ Chưa biết/chưa biết làm.

- Theo các mức độ trên, cá nhân tự đánh giá, xác định mức độ năng lực

thực thi nhiệm vụ của bản thân.

- Sắp xếp các năng lực cần phát triển của bản thân theo mức độ ưu tiên

(cần gấp/đặc biệt quan trọng) theo mức độ giảm dần.

- Lập kế hoạch phát triển năng lực chuyên môn/năng lực thực thi nhiệm vụ

của cá nhân.

Các mức độ về
kiến thức, kỹ năng
Tự đánh giá
Mong muốn hoàn thiện
Chuyên gia
1.
2.
1.
2.
1.
2.
1.
2.
Thành thạo
1.
2.
1.
2.
1.
2.
1.
2.
Chưa thành thạo
1.
2.
1.
2.
Chưa biết
1.
2.
1.
2.

104

Cách 3: Xác định nhu cầu phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ trên cơ sở so sánh kết quả mong đợi và kết quả thực thi của cá nhân, bao gồm các bước:

- Xác định các kết quả mong đợi của công việc;

- Xác định kết quả đạt được của cá nhân;

- Xác định nguyên nhân không đạt được kết quả mong đợi;

- Phân loại các nguyên nhân theo các nhóm:

+ Nhóm nguyên nhân thuộc về bản thân;

+ Nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế;

+ Nhóm nguyên nhân thuộc về quản lý;

+ Nhóm nguyên nhân thuộc về môi trường;

+ Nhóm nguyên nhân thuộc về công tác phối hợp;

十:

- Phân tích nguyên nhân thuộc về bản thân: xác định sự "hẫng hụt về năng

lực (thiếu kiến thức/kỹ năng hay cần thay đổi thái độ?);

- Lập kế hoạch phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ của cá nhân.

CÔNG VIỆC A
CÔNG VIỆC A
CÔNG VIỆC A
CÔNG VIỆC A
CÔNG VIỆC A
CÔNG VIỆC A
Các bước
trong quá
trình giải
quyết công
việc
Kết
quả
mong
muốn
Kết
quả
thực tế
Chênh
lệch
Ảnh hưởng
của sự
chênh lệch
Nguyên nhân
của sự
chênh lệch
1
2.
3
K
E
n
m
1.
2.
3.

Cách 4: Xác định nhu cầu phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ trên cơ sở đánh giá kết quả thực thi công việc của đại biểu HĐND ở vị trí công việc đang đảm nhiệm so với chuẩn đã xác định đối với từng công việc, bao gồm các bước:

- Xác định thực trạng thực hiện công việc theo các chuẩn đề ra; đối chiếu

để đánh giá mức độ đạt được của kết quả;

105

- Xác định nguyên nhân, phân loại các nguyên nhân và xác định các

nguyên nhân thuộc về năng lực thực thi nhiệm vụ của cá nhân (kiến thức sử dụng trong quá trình thực thi nhiệm vụ đã phù hợp chưa? thiếu kiến thức nào? kỹ năng nào đã được vận dụng đúng? còn thiếu/yếu kỹ năng nào?).

- Đối chiếu yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ cần có để xác định nhu

cầu phát triển năng lực cá nhân;

- Lập kế hoạch phát triển năng lực chuyên môn cá nhân để thực thi công

việc hiệu quả hơn.

Cách 5: Xác định nhu cầu phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ trên cơ sở

phân tích những khó khăn của cá nhân, bao gồm các bước:

- Đánh giá mức độ thực thi công việc;

- Xác định những khó khăn trong việc thực thi công việc;

- Phân loại nguyên nhân của những khó khăn: do cá nhân; do các yếu tố khác;

- Xác định những khó khăn của cá nhân do thiếu kiến thức, kỹ năng, thái độ;

- Lập kế hoạch phát triển năng lực chuyên môn cá nhân.

II. Lập và đánh giá việc thực hiện kế hoạch phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

1. Yêu cầu đối với kế hoạch phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ của

đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

Theo cách chung nhất, có thể hiểu kế hoạch là kịch bản các hoạt động

hướng tới kết quả mong muốn và "cầu nối giữa kế hoạch và kết quả mong muốn chính là mục tiêu. Cách xác định mục tiêu sẽ quyết định rất nhiều đến cách thức đạt được và mức độ chi phí cũng như nỗ lực bỏ ra. Mỗi mục tiêu được

xác định thường có nhiều phương án thực hiện khác nhau và việc lựa chọn phương án hợp lý nhất lại phụ thuộc vào nhận thức, cách tiếp cận của mỗi cá nhân.

Lập kế hoạch phát triển năng lực thực thi nhiệm của cá nhân đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã thực chất là xây dựng một kịch bản về cách thức tổ chức các công việc/hoạt động cần làm, xác định thời gian thực hiện các công

việc đó và các điều kiện hỗ trợ nhằm đạt được mục tiêu đã xác định. Về mặt kỹ

106

thuật chung, để kế hoạch được lập ra có tính khả thi, cần quan tâm đến các nguyên tắc cơ bản sau:

- Kế hoạch phải phù hợp với mục tiêu;

- Không ôm đồm, thực hiện cùng một lúc nhiều công việc, vì vậy, cần phân

chia nhỏ công việc và hoàn thành chúng;

- Sắp xếp công việc theo mức độ ưu tiên, căn cứ vào tính chất quan trọng

và mức độ cấp thiết cần làm ngay;

- Sắp xếp các công việc cần phải được thực hiện theo thời gian phải hoàn

tất (theo mức độ ưu tiên);

- Tìm kiếm cách thực hiện công việc hợp lý nhất;

- Xác định các phương án để kết hợp các nỗ lực cần thiết;

- Đạt được kết quả cụ thể cho mỗi công việc trong giới hạn thời gian đã xác

định;

- Sẵn sàng giải quyết những vấn đề nảy sinh: Dự báo những khó khăn, cản

trở có thể xuất hiện và chuẩn bị sẵn sàng các phương án đối phó.

Căn cứ vào những yêu cầu chung trên, kế hoạch phát triển năng lực thực

thi nhiệm vụ của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã cần đáp ứng yêu cầu sau:

- Kế hoạch phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ của đại biểu HĐND gắn

với vị trí việc làm theo chức năng, nhiệm vụ được phân công;

- Kế hoạch thể hiện rõ mục tiêu, phương thức đạt được mục tiêu, các hoạt

động cần thực hiện, thời gian và kết quả mong đợi;

- Kế hoạch thể hiện được việc lượng hóa mục tiêu và các kết quả mong đợi;

- Kế hoạch thể hiện được rõ lộ trình, các bước đi gắn hướng tời kết quả

mong đợi;

- Kế hoạch cần phải bao gồm dự báo về những khó khăn, thách thức cần

vượt qua cũng như những tác động có thể có trong quá trình thực hiện kế hoạch.

2. Lập kế hoạch phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

Kế hoạch là một hoạt động quan trọng trong quản lý, kế hoạch gắn liền với

việc lựa chọn và tiến hành các chương trình hoạt động trong tương, là việc lựa

107

chọn phương pháp tiếp cận hợp lý các mục tiêu định trước và quyết định cách tốt nhất để đạt được mục tiêu. Đối với kế hoạch phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ của đại biểu HĐND chương trình theo cách chung nhất, có thể hiểu:

- Kế hoạch là kịch bản được xây dựng hướng tới kết quả mong muốn;

- Mục tiêu là cầu nối giữa kế hoạch và kết quả mong muốn;

- Kế hoạch định ra có thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau, huy động

nguồn lực... khác nhau;

- Cách xác định mục tiêu sẽ quyết định phương án thực hiện;

- Mỗi mục tiêu lại có các phương án thực hiện khác nhau: việc lựa chọn

phương án hợp lý nhất phụ thuộc vào nhận thức, nguồn lực... cách tiếp cận của mỗi đại biểu HĐND;

- Chất lượng "kịch bản hướng tới kết quả mong muốn phụ thuộc vào

chính bản thân của đại biểu HĐND.

Lập kế hoạch phát triển năng lực thực thi của đại biểu HĐND cấp huyện,

cấp xã là tổ chức các công việc, các hoạt động cần làm, các điều kiện hỗ trợ và thời gian thực hiện các công việc đó nhằm đạt được mục tiêu đã xác định.

Để kế hoạch phát triển năng lực thực thi của đại biểu HĐND cấp huyện, xã

được lập ra khả thi, cần chú ý đến những điểm sau đây:

- Kế hoạch phải sát hợp với thực trạng cá nhân;

- Kế hoạch phải phù hợp với mục tiêu;

- Phân chia công việc gắn với hoạt động và hoàn thành chúng cần tính đến:

không thực hiện cùng một lúc nhiều công việc;

- Xác định mục tiêu ưu tiên, chia nhỏ các mục tiêu;

- Sắp xếp công việc theo mức độ ưu tiên: căn cứ vào tính chất quan trọng

và mức độ cần làm ngay;

- Sắp xếp các công việc cần phải được thực hiện theo thời gian phải hoàn

thành (theo mức độ ưu tiên gắn với mục tiêu đã định);

- Kết hợp các nỗ lực cần thiết, tận dụng mọi nguồn hỗ trợ (nếu cần);

- Tìm kiếm cách thực hiện công việc hợp lý nhất (trong thời điểm hiện tại);

- Hoàn thành công việc: kết quả cụ thể;

108

- Dự báo và sẵn sàng giải quyết những vấn đề nảy sinh, cản trở có thể xuất hiện và chuẩn bị các phương án giải quyết hợp lý.

BẢN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỰC THI NHIỆM VỤ CỦA ĐẠI

BIỂU HĐND HUYỆN/XÃ K

Họ và tên:

Lĩnh vực đại biểu muốn nâng cao năng lực:

1.

2.

Mục tiêu:

1.

2.

Các bước để đạt được mục tiêu:

1.

2.

Kết quả mong đợi:

1.

2.

Kiến thức, kỹ năng và hành vi mới mà đại biểu mong đợi nhận được sau khi thực hiện kế hoạch:

1. Kiến thức:

2. Kỹ năng:

3. Thái độ:

Kế hoạch thực hiện cụ thể: (theo các hoạt động, kết quả mong đợi và thời gian hoàn thành)

STT
Hoạt động
Kếtquả mong đợi
Thời gian hoàn thành
1
2
3
4

109

Ví dụ 1: Biểu đồ GANTT

THỜI GIAN

Hoạt động T1 T2 T3 T4 T5 Tố π T8 T9 T10 T11 T12

Hoạt động A
Hoạt động B
Hoạt động C
Hoạt động D
Hoạt động E
Hoạt động F
Ví dụ 2:
1. Mục đích:
Kết quả mong đợi
Kết quả mong đợi
Kết quả mong đợi
Kết quả mong đợi
Kết quả mong đợi
Kết quả mong đợi
NÂNG CAO KỸ NĂNG A

2. Kết quả mong muốn/cần đạt được:

3. Các bước tiến hành:

Mô tả tình huống: (Nêu tình trạng khó khăn mà cá nhân đại biểu đang gặp phải trong công việc; có vấn đề gì trục trặc?)

Xác định vấn đề:

KẾT QUẢ CÔNG VIỆC

CẦN ĐẠT ĐƯỢC

1
Phương án 1
Phương án 2
Vấn đề cần
giải quyết
Phương án 3
Phương án 4
Phương án
lựa chọn

Trong quá trình lập kế hoạch có thể sử dụng sơ đồ trên mô tả những yếu tố quyết định chất lượng công việc cụ thể mà đại biểu muốn đạt được. Từ những yếu tố đó, xác định những yếu tố thuộc về cá nhân, xác định vấn đề hiện tại cản trở bản thân thực hiện công việc đạt kết quả mong muốn. Đây là cơ sở xác định khoảng "hẫng hụt" về kiến thức, kỹ năng cần có - nguyên nhân của những khó khăn, cản trở để đạt được kết quả cao trong công việc.

Có thể phân tích SWOT khả năng của bản thân trong thực hiện công việc

hoặc dùng biểu đồ xương cá để tìm nguyên nhân làm ảnh hưởng đến năng lực thực hiện công việc của bản thân để cuối cùng tìm ra vấn đề cần giải quyết trong kế hoạch hành động này là nâng cao khả năng/năng lực...

- Các phương án giải quyết vấn đề: để nâng cao khả năng

của bản thân. Có rất nhiều phương án: (1)....;(2).

- Lựa chọn phương án giải quyết vấn đề: Nâng cao khả năng... của bản thân.

Ví dụ: Kế hoạch chi tiết

TT
Hoạt
động
Kết quả
mong
đợi
Thời gian
Thời gian
Thời gian
Cần hỗ trợ gì?
Cần hỗ trợ gì?
Cần hỗ trợ gì?
Cần hỗ trợ gì?
TT
Hoạt
động
Kết quả
mong
đợi
Tháng
Tháng
Tháng
quan
Đồng
nghiệp
hay
lãnh đạo
Kinh
phí
Khác
・・・
1
A
2
B

111

3. Đánh giá việc thực hiện kế hoạch phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

Đánh giá việc thực hiện kế hoạch phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ của

đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã là khâu cuối cùng, là kết quả đầu ra của một chuỗi các hoạt động đã thực hiện trên cơ sở đối chiếu với mục tiêu đề ra ban đầu. Việc đánh giá kế hoạch phát triển năng lực thực thi của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã có thể tiến hành theo các bước sau:

Bước 1. Cá nhân người đại biểu tự đánh giá bản thân những kết quả đạt được trên 3 mặt:

- Kiến thức: cập nhật được những kết thức mới nào? Lĩnh vực?...;

- Kỹ năng: hoàn thiện kỹ năng nào? Tự đánh giá trên 4 nhóm:

+ Trở thành chuyên gia;

+ Thành thạo;

+ Biết sử dụng chưa thành thạo;

+ Chưa biết cần được trang bị trong thời gian tới.

- Thái độ: tích cực, trung lập, chưa tích cực...;

- Kết quả công việc: Tự đánh giá về kết quả thực thi cá nhân đại biểu

HĐND đã đạt được.

Bước 2. Tổ chức đánh giá (nếu bản kế hoạch được cam kết, thông qua

trước tổ chức).

Trên cơ sở bản tự đánh giá của cá nhân đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã

tổ chức sẽ tiến hành đánh giá và góp ý kiến, biểu quyết trên cơ sở:

- Đối chiếu kết quả thực thi công việc với chức năng, nhiệm vụ được giao;

- Đánh giá kết quả công việc thông qua sản phẩm được đánh giá là hiệu

quả/đạt chuẩn;

- Đánh giá tinh thần thái độ, sự hợp tác trong công việc, tinh thần vượt

khó...

Bước 3. Các cử tri đánh giá: qua tiếp xúc, qua phiếu đánh giá, qua phản hồi

qua hòm thư, qua kênh đánh giá trực tuyến..

112

Từ nhu cầu phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ của cá nhân đến lập kế hoạch và cuối cùng là khâu đánh giá đã khép kín quy trình phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ của cá nhân đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã. Trong quy trình này bản thân cá nhân người đại biểu là người tự đánh giá rõ rệt nhất sự thiếu hụt và tự thay đổi hoàn thiện hơn về năng lực của bản thân thông qua các hoạt động hướng đến mục tiêu đã định. Mỗi cá nhân sẽ có cách thức, con đường riêng của mình để thực hiện mục tiêu hướng đích.

Dưới đây là mô phỏng bản đánh giá thực hiện kế hoạch phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ giữa kỳ, cuối kỳ của đại biểu HĐND:

ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

THỰC THI CỦA ĐẠI BIỂU HĐND GIỮA KỲ

(từ .đến

Họ và tên:

Lĩnh vực đại biểu muốn nâng cao năng lực:

Tiến trình thực hiện kế hoạch (đúng kế hoạch/không đúng/ thay đổi kế hoạch)

Kết quả dự kiến (lượng hóa, gắn với mục tiêu, thời gian)

Những thuận lợi/khó khăn

Nguyên nhân

Việc thực hiện kế hoạch đã đem lại (bản thân, tổ chức, đồng nghiệp...) Những hỗ trợ cần thiết để thực hiện kế hoạch trong thời gian tới

113

Trên cơ sở bản đánh giá giữa kỳ, cá nhân sẽ có thể điều chỉnh mục tiêu, đẩy nhanh tiến trình đạt mục tiêu, điều chỉnh hoạt động và cách thức hoạt động,

thay đổi phương thức/cách thức triển khai... Từ đó xác định lộ trình cho hành động hướng đích ở cuối kỳ.

BẢN ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỰC THI CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CUỐI KỲ (Từ. đến
Họ và tên:
Lĩnh vực đại biểu muốn nâng cao năng lực:
Mục tiêu:
Các bước để đạt được mục tiêu:
Kết quả đạt được:
Kiến thức, kỹ năng và hành vi mới mà đại biểu nhận được sau khi thực hiện kế hoạch:
Kiến thức, kỹ năng vẫn cần phải bổ sung:
Các hoạt động tiếp theo để tiếp tục nâng cao năng lực phát triển thực thi nhiệm vụ của cá nhân:

III. Kỹ năng lập và thực hiện chương trình công tác cá nhân của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

Chương trình công tác cá nhân của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã được phân loại theo thời gian như sau:

- Chương trình công tác năm: là bản thể hiện những mục tiêu, những định

hướng, nhiệm vụ và các giải pháp lớn, quan trọng trong hoạt động của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã.

- Chương trình công tác 6 tháng: có chương trình công tác 6 tháng đầu năm và chương trình công tác 6 tháng cuối năm.

114

- Chương trình công tác quý: để triển khai chương trình công tác năm. Loại

chương trình công tác này có tính cụ thể hơn chương trình năm.

- Chương trình công tác tháng: là cụ thể hóa những mục tiêu của chương

trình công tác quý. Nó thể hiện những công việc phải làm trong tháng.

- Chương trình công tác tuần: để xác định cụ thể, chính xác các hoạt động

cần làm trong tuần.

- Ngoài ra, do đặc điểm hoạt động, đại biểu HĐND còn có chương trình

công tác nhiệm kỳ.

1. Lập chương trình công tác cá nhân của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

a. Căn cứ lập chương trình công tác

Để xây dựng chương trình công tác cá nhân, đại biểu HĐND cấp huyện,

cấp xã nghiên cứu, đánh giá các căn cứ bao gồm cả căn cứ pháp lý và căn cứ thực tiễn nhằm xác định đúng các mục tiêu và các hoạt động của chương trình. Các căn cứ để xây dựng chương trình công tác cá nhân đại biểu HĐND bao gồm:

- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn chung: đây là những căn cứ pháp lý giúp

việc xây dựng nội dung chương trình, kế hoạch công tác không bị trái thẩm quyền;

- Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ;

- Định hướng công tác của HĐND;

- Chương trình, kế hoạch công tác được giao hoặc yêu cầu của cơ quan

quản lý cấp trên đối với hoạt động của đại biểu HĐND.

- Quy mô, tính chất và yêu cầu thực tiễn công việc: Đặc điểm tình hình

chung trên tất cả các lĩnh vực công tác. Trong đó, chú ý tới công tác tồn đọng từ thời gian trước chuyển sang.

- Điều kiện và nguồn lực: kinh phí; phương tiện làm việc; quỹ thời gian;

nhân lực (số lượng và trình độ cán bộ) có trong khoảng thời gian thực hiện chương trình, kế hoạch.

115

b. Quy trình lập chương trình công tác

Quy trình lập chương trình công tác gồm các bước sau:

Bước 1: xem xét khối lượng công việc thuộc thẩm quyền giải quyết

Trong bước này, người đại biểu cần thu thập đầy đủ các thông tin để "nhận

dạng" được tình hình thực tế và khối lượng công việc thuộc thẩm quyền giải quyết cũng như mục tiêu cần đạt được đối với từng công việc cần thực hiện. Các thông tin thu thập được cần thỏa mãn các yêu cầu cơ bản như thông tin phải đầy đủ và toàn diện; thông tin phải chính xác; thông tin phản ánh cả về số lượng và chất lượng.

Ngoài ra, người đại biểu cũng cần phân tích các yếu tố tác động tới quá

trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ, xác định các hoạt động cơ bản cần thực hiện dựa trên cơ sở lựa chọn phương án hành động khả thi nhất, nhiều khả năng đem lại hiệu quả cao nhất.

Để thu thập thông tin và xác định khối lượng công việc thuộc thẩm quyền

giải quyết, đại biểu HĐND có thể sử dụng các phương pháp cơ bản: điều tra xã hội học; thu thập các tài liệu thứ cấp; phương pháp phân tích, đánh giá thông qua so sánh chéo; phương pháp phân tích SWOT.

Bước 2: xây dựng dự thảo chương trình làm việc

Khi viết dự thảo chương trình làm việc cần đảm bảo thể thức văn bản đúng

quy định, các nội dung thông tin đầy đủ. Ngoài phần căn cứ và các phần theo quy định về thể thức, nội dung dự thảo chương trình làm việc có thể được bố cục như sau:

Phần I. Các mục tiêu và nhiệm vụ cần đạt được. Phần này liệt kê các mục

tiêu và nhiệm vụ căn bản cần thực hiện của đại biểu HĐND. Nếu cần thiết thì tiến hành phân nhóm nhiệm vụ, công việc dựa trên nội dung hay tiến trình thời gian thực hiện.

Ngoài ra, trong phần này có thể trình bày khái quát những vấn đề được xác

định là cơ sở khoa học cho việc xây dựng chương trình, những thuận lợi và khó khăn trong xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện chương trình cũng như mục đích của lập chương trình.

116

Phần II. Chương trình công tác (nhiệm kỳ, năm, nửa năm, quý, tháng, tuần). Phần này trình bày chi tiết các nhiệm vụ, công việc của đại biểu HĐND và thường được thiết kế dưới dạng bảng để việc trình bày được rõ ràng, khoa

học, dễ theo dõi. Trong chương trình công tác thường bao gồm cả nội dung về đối tượng, các bên có liên quan, nguồn lực được sử dụng (nếu có) và thời gian bắt đầu, thời gian kết thúc.

Phần III. Tổ chức thực hiện. Phần này nhấn mạnh thêm về cơ chế thực hiện

chương trình công tác, cơ chế phối hợp nếu có và những điểm cần lưu ý trong quá trình tổ chức thực hiện. Đồng thời, có thể trình bày triển vọng của việc thực hiện chương trình công tác và các đề xuất, kiến nghị.

Bước 3: lấy ý kiến góp ý từ các đối tượng có liên quan (nếu cần)

Các đối tượng có liên quan trong quá trình thực hiện chương trình công tác

có vai trò rất quan trọng trong việc góp ý hoàn thiện cho chương trình, tránh được những sai sót chủ quan khi xây dựng dự thảo chương trình, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tổ chức thực hiện chương trình trong tương lai.

Việc lấy ý kiến đóng góp cần được tiến hành khoa học, hợp lý, tránh cách

làm hình thức. Trong quá trình lấy ý kiến, lưu ý đến thời gian cần thiết cho bước

lấy ý kiến đóng góp, tránh cách làm vội vàng, ảnh hưởng đến chất lượng ý kiến của các đối tượng có liên quan.

Bước 4: tổng hợp các ý kiến đóng góp, sử dụng để hoàn thiện bản chương trình

Sau khi thu nhận đầy đủ ý kiến đóng góp cho chương trình công tác của các

bên liên quan, người đại biểu cần thực hiện việc nghiên cứu, đánh giá các nội dung góp ý; trong trường hợp cần thiết, trao đổi lại để thống nhất ý kiến.

Bước 5: hoàn thiện chương trình công tác

Chương trình công tác được xây dựng hoàn chỉnh về nội dung, được trình bày theo đúng các yêu cầu về thể thức.

Khi lập chương trình công tác, lưu ý một số điểm sau:

- Không làm quá tải danh sách công việc mà hãy lập sát với thực tế.

117

- Sắp xếp công việc theo thứ tự ưu tiên. Thứ tự ưu tiên được xác định dựa

trên mức độ quan trọng và mức độ cấp thiết của các công việc cần thực hiện.

- Cần có thời gian cho việc tự kiểm tra, đánh giá kết quả công việc nhằm

rút kinh nghiệm về việc thực hiện công việc của mình trong thời gian đã bị tiêu hao. Việc kiểm tra, đánh giá phải được thực hiện thường xuyên để tránh lãng phí thời gian của cá nhân.

- Dự kiến các tình huống đột xuất để có thể dự phòng được thời gian cần

cho các việc đột xuất đó. Dự kiến trước những khoảng thời gian gián đoạn có thể xảy ra để có những công việc khác thay thế hoặc lấp đầy thời gian đó.

2. Thực hiện chương trình công tác cá nhân của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

Tổ chức thực hiện chương trình công tác là một quá trình gồm nhiều bước

để hiện thực hóa chương trình nhằm đạt được các mục tiêu đã định. Việc tổ chức thực hiện chương trình công tác bao gồm các nội dung sau:

a. Lập kế hoạch triển khai các hoạt động

Để xây dựng được kế hoạch triển khai một hoạt động cụ thể của chương

trình công tác cần tiến hành các nội dung dưới đây:

- Xác định mục đích cụ thể của kế hoạch

Kế hoạch thực thi luôn phải hướng đến một mục đích cụ thể. Ngoài mục tiêu chung là góp phần thực hiện chương trình công tác, kế hoạch thực thi được

xây dựng phục vụ trực tiếp cho một hoạt động cụ thể, vì vậy mục đích của kế hoạch hoạt động cần cụ thể, dễ hình dung, dễ nắm bắt và có giá trị định hướng cho toàn bộ các bước triển khai thực hiện.

Mục đích của kế hoạch triển khai, trong trường hợp này, được hiểu là: giá

trị tích cực mà hoạt động hướng tới trong suốt quá trình tổ chức thực thi. Điều này có nghĩa là: Mục đích của kế hoạch là giá trị tích cực được tạo ra cùng với kết quả cụ thể mà hoạt động cần đạt được.

Việc nhấn mạnh đến mục đích của kế hoạch, trong trường hợp này, nhằm

hạn chế lối tư duy chủ quan và cách thức hành động chủ quan, luôn quan tâm để đạt tới kết quả hình thức mà bỏ quên giá trị thực tế của hoạt động.

118

Để thuận lợi cho việc xác định mục đích cho kế hoạch thực thi, cần đặt ra và trả lời chính xác câu hỏi: Điều gì cần hướng tới khi tiến hoạt động và cần đạt được cùng với kết quả?

- Xác định các đầu việc cơ bản cần tiến hành

Mỗi hoạt động trong chương trình công tác khi được triển khai trên thực tế thường bao gồm nhiều việc, nhiệm vụ cụ thể. Thực thi một hoạt động của chương trình công tác đồng nghĩa với việc tiến hành trong thực tế một số việc, nhiệm vụ cụ thể.

Để xác định đúng và đủ những việc, nhiệm vụ cần tiến hành trong suốt quá trình thực thi một hoạt động thì căn cứ vào:

+ Nội dung hoạt động cần tiến hành;

+ Quy trình mang tính nguyên tắc (nếu có);

+ Mục đích cụ thể của hoạt động (được xác định theo cách thức được nêu trên đây).

Để thuận lợi khi xác định việc, nhiệm vụ cho một hoạt động cần đặt ra và

tìm câu trả lời cho câu hỏi: Tiến hành lần lượt những việc, nhiệm vụ cụ thể nào để hiện thực hóa hoạt động và đạt được mục đích đã xác định?

- Xác định các nguồn lực cần huy động và sử dụng

Mọi việc, nhiệm vụ muốn được tiến hành trong thực tế đều cần huy động

và sử dụng những nguồn lực nhất định. Các nguồn lực bao gồm: nguồn nhân lực: đối tượng chỉ đạo, đối tượng trực tiếp thực thi, đối tượng phối hợp thực thi; nguồn lực tài chính và các phương tiện vật chất; thời gian: thời lượng và thời điểm bắt đầu, kết thúc mỗi đầu việc. Trong thực tế, nếu một trong ba nguồn lực nêu trên thiếu vắng, thì công việc sẽ không thể được tiến hành. Trong trường hợp các nguồn lực không được huy động đầy đủ, không đúng lúc, không đúng tiến độ thì chất lượng công việc chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực.

Khả năng huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực có ý nghĩa quyết

định đến kết quả công việc. Việc tính toán các nguồn lực cần thiết cho mỗi việc, nhiệm vụ là hết sức cần thiết trong quá trình xây dựng kế hoạch thực thi.

- Xác định kết quả đầu ra của việc thực hiện kế hoạch

119

Xác định rõ ràng và cụ thể kết quả đầu ra cho mỗi việc, nhiệm vụ trong quá trình thực thi kế hoạch là việc làm cần thiết. Kết quả đầu ra với tên gọi chính xác

sẽ giúp cho các đối tượng chỉ đạo, thực thi, phối hợp thực thi hình dung rõ ràng và cụ thể về công việc cần tiến hành để có được kết quả cụ thể đó. Kế hoạch thực thi thiếu vắng kết quả đầu ra cụ thể sẽ trở nên mơ hồ, thậm chí không thể kiểm soát.

Để xác định cụ thể kết quả đầu ra cho mỗi đầu việc, cần đặt ra và trả lời đúng câu hỏi: Cái cần được làm ra có tên gọi chính xác là cái gì?

- Xác định tiêu chuẩn để đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch

Sau khi đã xác định được rõ ràng kết quả đầu ra của mỗi đầu việc, cần xác định những tiêu chuẩn để đánh giá kết quả này. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả đầu ra của mỗi đầu việc là cơ sở để đánh giá quá trình thực thi hoạt động.

- Phân công, phối hợp thực hiện kế hoạch (nếu có)

Để triển khai thực hiện chương trình công tác, kế hoạch thực thi các hoạt động cụ thể được xây dựng và là cơ sở để người đại biểu tiến hành thực thi, phân công hoặc phối hợp thực hiện.

Khi cần phân công công việc, nội dung phân công thực hiện kế hoạch được

khai thác từ kế hoạch thực thi đã có. Những nội dung cơ bản được người đại biểu truyền đạt và thảo luận để thống nhất với các đối tượng thực thi như:

+ Đối tượng thực thi (phân công cho ai);

+ Công việc cần tiến hành (làm việc gì);

+ Mục đích hướng tới (để làm gì);

+ Điều kiện nguồn lực được đảm bảo để tiến hành (Ai hỗ trợ, được sử dụng

bao nhiêu kinh phí và các phương tiện cần thiết khác, thời lượng và thời điểm bắt đầu và kết thúc công việc được giao);

+ Sản phẩm cần hoàn thành và tiêu chuẩn đánh giá công việc (Cái cần được

làm ra và tiêu chuẩn để đánh giá).

Về lý thuyết, có hai hình thức phân công, giao việc cơ bản thường được áp dụng khi tổ chức thực thi các hoạt động cụ thể trong kế hoạch công tác là phân công bằng văn bản và phân công trực tiếp.

120

Phân công bằng văn bản được tiến hành thông qua "phiếu giao việc" còn phân công trực tiếp là hình thức phân công, giao việc thông qua giao tiếp trực tiếp giữa người người đại biểu và đối tượng thực thi công việc.

Phân công trực tiếp, có một ưu điểm nổi trội so với phân công bằng văn

bản là tạo điều kiện thuận lợi cho sự trao đổi, thống nhất về công việc giữa người giao việc và người nhận việc. Bằng hình thức phân công này, với khả năng giao tiếp của người giao việc thông qua việc chủ động tạo ra và tiếp nhận ý kiến phản hồi của người nhận việc, những khó khăn trong việc tiếp nhận ý kiến chỉ đạo cùng những khó khăn được dự báo trong quá trình thực thi công việc có thể được phát hiện, tháo gỡ ngay từ khi công việc được giao.

Để tăng cường tính hiệu quả của hoạt động phân công, giao việc, người đại

biểu khi tiến hành hoạt động này cũng có thể kết hợp cả hai cách: phân công trực tiếp kết hợp với phân công bằng phiếu giao việc.

b. Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch

Kiểm tra, đôn đốc là một bước quan trọng trong chu trình quản lý, điều hành công việc nói chung. Kiểm tra, đôn đốc đối với việc thực thi các kế hoạch trong chương trình công tác của đại biểu HĐND có một ý nghĩa thiết thực, đảm

bảo cho hoạt động được tiến hành một cách hiệu quả và đạt tới mục đích đã định.

Trong kiểm tra đôn đốc thực hiện kế hoach, ngoài những yêu cầu chung,

như: Tính khoa học, sự khách quan trong quá trình kiểm tra, đôn đốc; để hoạt động này được tiến hành hiệu quả trên thực tế, cần lưu ý đến những yêu cầu cơ bản dưới đây:

- Kiểm tra đúng việc (kiểm tra cái gì?);

- Kiểm tra đúng người (kiểm tra ai?): Cần phân biệt rõ các đối tượng trực

tiếp thực thi và phối hợp thực thi;

- Kiểm tra đúng thời điểm: (kiểm tra lúc nào?);

- Kiểm tra đúng cách: (kiểm tra bằng cách nào, với sự hỗ trợ của ai, bằng

phương tiện gì?);

121

Một kế hoạch thực thi hoạt động được xây dựng tốt sẽ tạo điều kiện dễ dàng cho việc kiểm tra, đôn đốc. Nội dung một kế hoạch thực thi được xây dựng theo phương cách trên đây cung cấp đầy đủ những thông tin quan trọng, cơ bản, cần thiết nhất cho người đại biểu khi tiến hành kiểm tra, đôn đốc quá trình thực hiện. Những câu hỏi chính yếu cần được nêu ra và trả lời trước khi tiến hành kiểm tra, đôn đốc đều có thể tìm thấy trong nội dung kế hoạch đã được soạn thảo theo cách thức nêu trên. Ví dụ: Kiểm tra ai? kiểm tra nội dung gì? thời điểm kiểm tra?... Ngoài ra, những nội dung về kết quả cần đạt và tiêu chuẩn đánh giá công việc được nêu trong kế hoạch thực thi cũng là những thông tin mang tính công cụ, phục vụ trực tiếp cho hoạt động kiểm tra, đôn đốc.

Một số vấn đề cơ bản mà người đại biểu lưu ý thêm, là:

- Luôn bám sát kế hoạch thực thi để thực hiện kiểm tra, đôn đốc;

- Tiến hành kiểm tra, đôn đốc đúng thời điểm cần thiết;

- Lựa chọn phương pháp thích hợp và sử dụng hiệu quả các tiêu chuẩn đánh

giá đã có để thực hiện việc đánh giá. Kết thúc quá trình đánh giá, cần có những ý kiến khách quan, chính xác nhằm khẳng định những mặt tích cực (nếu có), chỉ rõ những hạn chế (nếu có) và đưa ra những yêu cầu cụ thể cho những đầu việc tiếp theo của quá trình thực thi kế hoạch.

c. Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch

Đánh giá việc thực hiện kế hoạch công tác là bước sau cùng của một chu trình quản lý. Mọi chương trình công tác hay kế hoạch cho từng hoạt động đều cần được đánh giá sau khi thời hạn của chương trình, kế hoạch kết thúc và khép lại các hoạt động thuộc nội dung chương trình, kế hoạch.

Việc đánh giá nói chung luôn hướng tới những mục đích cơ bản, như:

- Xem xét mức độ hoàn thành những nội dung của kế hoạch;

- Xác định những điểm tích cực (nếu có) của toàn bộ quá trình tổ chức thực

hiện kế hoạch;

- Xác định những điểm hạn chế (nếu có) của toàn bộ quá trình tổ chức thực

hiện kế hoạch;

122

- Xác định những nhân tố góp phần tạo nên điểm tích cực và những nguyên

nhân của những tồn tại tiêu cực (nếu có);

- Rút ra những bài học cần thiết: về xây dựng chương trình công tác, kế

hoạch hoạt động, về hoạt động thực thi, v.v...

Các yêu cầu cần lưu ý đối với việc đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch là:

+ Hoạt động đánh giá nói chung đòi hỏi tính khoa học trong phương pháp

tiến hành và sự khách quan tối đa trong việc đưa ra các nhận định đánh giá;

+ Thời điểm đánh giá kế hoạch công tác không nên cách quá xa thời điểm

kết thúc kế hoạch hoạt động.

Việc đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch công tác của cá nhân đại biểu

HĐND có thể được tiến hành theo những cách thức khác nhau. Tuy nhiên, nếu việc lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch được tiến hành theo những phương cách nêu trên thì quá trình đánh giá sẽ có những thuận lợi nhất định và cần được thực hiện theo những bước cơ bản dưới đây:

- Tổng hợp kết quả đánh giá của các kế hoạch thực thi hoạt động (đã có);

- Xây dựng báo cáo đánh giá (dự thảo) trên cơ sở tổng hợp kết quả đánh giá

việc thực hiện các kế hoạch hoạt động (đã có);

- Lấy ý kiến của các bên liên quan đóng góp cho bản dự thảo báo cáo đánh

giá (các đối tượng này cũng đồng thời là các đối tượng đã đóng góp ý kiến cho dự thảo chương trình công tác);

- Tổng hợp ý kiến đóng góp và hoàn thiện báo cáo đánh giá.

123

CÂU HỎI THẢO LUẬN

1. Phân tích các bộ phận cấu thành năng lực thực thi nhiệm vụ của cá

nhân đại biểu HĐND.

2. Xác định nhu cầu của cá nhân đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã trong

việc phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ; nhu cầu nào là cấp thiết? giải pháp để đáp ứng nhu cầu đó.

3. Lập chương trình công tác của cá nhân đại biểu HĐND cấp huyện, cấp

xã; giải pháp để chương trình công tác này được thực hiện có hiệu quả trong thực tế.

4. Phân tích các yếu tố tác động đến chất lượng thực thi nhiệm vụ của cá

nhân đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã. Liên hệ thực tế cá nhân đại biểu HĐND.

40 Giảng viên có thể đưa ra những câu hỏi/tình huống khác để thảo luận, trao đổi phù hợp với thực tế của địa

phương, nhu cầu học viên và điều kiện lớp học.

124

TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO HỌC VIÊN"

1. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

2. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

3. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ của địa phương (cấp tỉnh huyện, cấp xã) nhiệm kỳ 2020- 2025 (nơi cá nhân ĐBHĐND công tác).

4. Chương trình hoạt động/chương trình giám sát toàn khóa/hàng năm của HĐND cấp huyện, cấp xã nhiệm kỳ 2021- 2026 ở địa phương (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác).

5. Quy chế hoạt động của HĐND cấp huyện, cấp xã (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác).

4 Giảng viên cập nhật, giới thiệu thêm những tài liệu tham khảo khác cho học viên, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và khả năng tìm kiếm tài liệu của học viên.

125

Chuyên đề 5

KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH, THẢO LUẬN, TRANH LUẬN

CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN, CẤP XÃ

I. Kỹ năng thuyết trình của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện,

cấp xã

Trong thực tế, "thuyết trình được hiểu là quá trình tuyền đạt thông tin một

cách hệ thống, chặt chẽ và thuyết phục tới một người hoặc một nhóm người nhằm cung cấp thông tin, tri thức, thông điệp cần thiết cho đối tượng nghe.

Theo nghĩa đó, kỹ năng thuyết trình là một trong những kỹ năng giao tiếp

cơ bản. Thuyết trình thường diễn ra trước nhiều người, dưới dạng trình bày về một vấn đề, một chủ đề. Bên cạnh đặc điểm riêng, thuyết trình mang đặc điểm chung của kỹ năng giao tiếp, đòi hỏi người thuyết trình phải có khả năng nắm bắt đối tượng người nghe, xây dựng nội dung thuyết trình một cách chính xác, chặt chẽ, lô-gic và thuyết phục, thực hiện thuyết trình tự tin, đồng thời cần nhận

biết nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và diễn biến tâm lý bên trong, biết sử dụng phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách định hướng để điều

chỉnh và điều khiển quá trình giao tiếp đạt được mục đích đã định.

Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã sử dụng kỹ năng thuyết trình trong

nhiều hoạt động thuộc trách nhiệm của đại biểu HĐND như: thảo luận tại phiên họp toàn thể ở hội trường; thảo luận tại phiên họp Tổ đại biểu; trình bày báo cáo, tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, chất vấn... Trong kỳ họp HĐND, đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã sử dụng kỹ năng thuyết trình để phát biểu ý kiến; khi kết thúc việc phát biểu ý kiến, đến lượt mình, đại biểu HĐND lại trở thành người nghe đại biểu khác thuyết trình.

Thuyết trình của đại biểu HĐND tại các phiên họp có đặc điểm như sau:

- Thời gian thuyết trình được xác định trước;

- Nội dung thuyết trình được chuẩn bị trước, phù hợp với nội dung mà

HĐND đang thảo luận;

- Tuân thủ thực hiện theo nội quy kỳ họp HĐND;

126

- Truyền tải được những thông điệp, tiếng nói của cử tri;

- Được chủ động chọn lọc sử dụng công cụ hỗ trợ;

- Sử dụng ngôn ngữ phi ngôn từ phù hợp, có chọn lọc;

- Là quá trình thông tin hai chiều, có sự thay đổi vai trò của đại biểu thuyết

trình và các đại biểu khác là người nghe.

1. Mục đích, yêu cầu đối với thuyết trình của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

a. Mục đích đối với thuyết trình của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện,

cấp xã

Thuyết trình nhằm mục đích truyền đạt thông tin, chia sẻ, trình bày quan

điểm hướng đến mục tiêu cụ thể nào đó. Tùy thuộc vào bối cảnh hoạt động khác

nhau, hoạt động thuyết trình của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã có thể hướng tới các mục đích khác nhau. Tại Hội trường diễn ra phiên họp toàn thể hay tại cuộc họp Tổ đại biểu, đại biểu HĐND thực hiện thuyết trình để trình bày quan điểm và đóng góp ý kiến của mình vào các dự án, dự thảo nghị quyết do cơ quan trình (thường là UBND cùng cấp) tại kỳ họp HĐND. Ý kiến của đại biểu thức, cách diễn đạt), thuyết phục đại biểu khác và cơ quan trình dự thảo đồng HĐND có thể là đồng tình, phê phán, góp ý để hoàn thiện (về nội dung, hình thuận với ý kiến của đại biểu. Tại các cuộc tiếp xúc cử tri, đại biểu HĐND sử dụng kỹ năng thuyết trình để giải thích, đối thoại với nhân dân nhằm thực hiện trách nhiệm của người đại biểu của dân.

Khi phiên họp của HĐND cấp huyện, cấp xã nếu có các nhà báo tham dự

và đưa tin hoặc được truyền hình, truyền thanh trực tiếp, thì thuyết trình của đại biểu còn có ý nghĩa truyền thông mạnh mẽ tới cử tri và nhân dân. Đại biểu HĐND không chỉ truyền tải tới cử tri thông điệp: "Tôi đã nói/phản ánh/thể hiện tiếng nói của cử tri đến HĐND mà còn thể hiện năng lực, trình độ, khả năng đại diện cho cử tri.

127

b. Yêu cầu đối với thuyết trình của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện,

cấp xã

Tùy thuộc vào mục đích, đối tượng, địa điểm thuyết trình mà sẽ có những

yêu cầu khác nhau. Bên cạnh, những yêu cầu chung đối với thuyết trình, còn có những yêu cầu cụ thể đối với thuyết trình của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã.

(i) Yêu cầu chung đối với người thuyết trình

- Người thuyết trình phải hiểu rõ đối tượng người nghe: nghề nghiệp, trình

độ, nhu cầu, kỳ vọng.

- Xác định rõ mục đích của thuyết trình, thời gian, địa điểm thuyết trình;

- Tìm hiểu kỹ nội dung cần thuyết trình, xác định rõ thông điệp cần chuyển

tải; chuẩn bị kỹ kiến thức, thông tin, tài liệu, số liệu minh họa;

- Xây dựng cấu trúc bài thuyết trình một cách lô gic (thường gồm các phần

chính: mở đầu, nội dung, kết luận);

- Lắng nghe đối tượng và phản hồi kịp thời;

- Nội dung chính xác, chân thực; lập luận chặt chẽ, có căn cứ.

Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã thuyết trình tại kỳ họp để tham gia ý

kiến xây dựng nghị quyết của HĐND cấp huyện, cấp xã, tham gia vào quá trình quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương. Cơ quan trình dự thảo nghị quyết, đề án hiểu rất rõ về vấn đề, nội dung trình ra HĐND. Do vậy, ý kiến của đại biểu HĐND phải chính xác, chân thực, phải có lập luận thuyết phục, có căn cứ pháp lý (trích dẫn quy định của Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị định, thông

tư, văn bản của cơ quan cấp trên ...), có căn cứ thực tiễn (dự thảo nghị quyết, đề án có phù hợp thực tiễn của địa phương không? có đáp ứng mong muốn của cử tri không?) và có căn cứ khoa học. Cách diễn đạt đơn giản, mạch lạc.

- Nội dung thuyết trình phải truyền tải được một cách chính xác, chân thực ý chí, nguyện vọng của cử tri

Đại biểu HĐND cấp huyện và cấp xã chủ động thu thập thông tin để tham

gia phát biểu, chất vấn trong các kỳ họp, đồng thời nắm bắt kịp thời tình hình địa phương để trực tiếp giải thích, đối thoại với nhân dân tại các buổi tiếp xúc cử

tri; nắm bắt và chuyển tải kịp thời tình hình và vướng mắc của địa phương,

128

nguyện vọng của cử tri tới các cơ quan liên quan (trước hết là chính quyền địa phương). Bên cạnh kiến nghị, phản ánh của cử tri, đại biểu HĐND còn phải tìm hiểu, trình bày các phương án giải pháp tháo gỡ khó khăn các vấn đề mà cử tri nêu ra. Ngoài ra, khi đại biểu HĐND kiên trì theo đuổi vấn đề đã chất vấn, kiến nghị đến khi có kết quả, sẽ giúp thể hiện thêm, rõ trách nhiệm, tâm huyết của người đại biểu của nhân dân, tạo niềm tin của cử tri vào HĐND và đại biểu HĐND.

- Thái độ chuẩn mực và phù hợp với bối cảnh

+ Đại biểu HĐND thể hiện sự tôn trọng đối với người nghe, thái độ nghiêm

túc, chân thành, tự tin, khiêm tốn;

+ Tác phong chuẩn mực, không sử dụng tùy tiện ngôn ngữ cơ thể.

2. Các bước thực hiện thuyết trình của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

Bước 1: Chuẩn bị thuyết trình

Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã nên lựa chọn chủ đề thuyết trình phù

hợp với nội dung được đưa ra trình bày, thảo luận. Với các nội dung đã định sẵn trong dự thảo nghị quyết, đề án, các báo cáo công tác, đại biểu có thể lựa chọn những nội dung, những vấn đề mà mình có chuyên môn hoặc có hiểu biết sâu để trình bày. Để tự tin thuyết trình, đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã nên có sự chuẩn bị chu đáo, cẩn thận. Chuẩn bị thuyết trình có nội dung chính như sau:

Thứ nhất, chuẩn bị về kiến thức, kỹ năng đối với cá nhân

- Về tinh thần

Người đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã trước tiên chuẩn bị về mặt tinh

thần để tạo sự tự tin, thoải mái, tâm trạng không lo lắng, tự ti. Những người hay hồi hộp, ngại nói trước đám đông có thể thực hành bằng nhiều cách khác nhau như: Tập nói nhiều lần trước người thân, tham gia các hoạt động tập thể...

- Về kiến thức

HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương, giám sát trên các lĩnh vực. Do đó, yêu cầu về kiến thức đối với đại biểu HĐND rất rộng, từ kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật, quốc

129

phòng, an ninh, giáo dục, khoa học... Để thuyết trình hiệu quả, đại biểu HĐND tự đánh đánh giá mức độ am hiểu về vấn đề của bản thân, đồng thời chủ động, tích cực tìm hiểu thông tin, cũng như thực tế về vấn đề cần trình bày.

Đại biểu HĐND chuẩn bị kiến thức xung quanh vấn đề đại biểu thuyết trình

để có thể chủ động trong các tình huống xảy ra bất ngờ, sẵn sàng trả lời các câu hỏi từ người nghe. Ngoài ra, đại biểu HĐND chủ động lấy ý kiến, huy động sự tham gia của người nghe để giải đáp, xử lý các vấn đề, câu hỏi đặt ra trong quá trình thuyết trình. Để trau dồi kiến thức, đại biểu HĐND cần có ý thức ham học hỏi, luôn chủ động thu thập và xử lý thông tin, cập nhật kiến thức (qua sách vở,

báo chí, internet, qua thực tiễn cuộc sống...). Làm được như vậy, đại biểu HĐND mới có thể chuẩn bị bài tham luận đầy đủ, sâu sắc và thuyết phục.

- Các yếu tố bên ngoài

Các yếu tố bên ngoài như trang phục, thái độ cũng rất quan trọng. Khi tham

gia thuyết trình, đại biểu HĐND sử dụng trang phục phù hợp với bối cảnh và với đối tượng người nghe.

Thứ hai, tìm hiểu về đối tượng nghe

Với mục tiêu chuyển tải thông tin và thuyết phục người nghe, người trình

bày phải lấy người nghe là trung tâm. Cùng một vấn đề nhưng thuyết trình cho

các đối tượng khác nhau thì xây dựng nội dung thuyết trình khác nhau. Để thuyết trình hiệu quả, đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã phải tìm hiểu kỹ đối tượng nghe để xác định nội dung và phương thức trình bày phù hợp với trình độ,

ý chí, nguyện vọng của người nghe.

Bảng 1: Phiếu phân tích thính giả

1. Ai là thính giả chính (thực sự tiếp nhận bài trình bày)?

2. Mình biết những gì về nghề nghiệp, cá nhân họ (tuổi tác, giới tính, học vấn, vị trí xã hội, trách nhiệm nghề nghiệp, xu hướng chính trị, tôn giáo, nền tảng văn hoá, kiến thức về chủ đề, động cơ của thính giả khi tới nghe bài thuyết trình)?

3. Thái độ của họ đối với mình như thế nào?

4. Thái độ của họ đối với chủ đề?

5. Thái độ của họ đối với việc có mặt để nghe mình thuyết trình?

6. Thính giả muốn biết gì về chủ đề mình nói?

7. Mình cần thính giả biết gì?

8. Mối quan tâm mà mình hay nghe thấy từ thính giả là gì?

9. Những thông tin cụ thể nào có thể đáp ứng mối quan tâm đó?

Thứ ba, chuẩn bị bài thuyết trình

- Xác định mục tiêu của bài thuyết trình (thuyết trình để làm gì và chuyển tải thông điệp gì?)

Xác định đúng mục tiêu thuyết trình giúp cho đại biểu HĐND xác định đúng nội dung cần thuyết trình.

Để xác định mục tiêu thuyết trình, cần trả lời các câu hỏi: mục đích của bài thuyết trình là gì? (đóng góp hoàn thiện văn bản, thay đổi chính sách ...); dự liệu mức độ hiểu biết của các đại biểu HĐND khác về vấn đề? (nội dung mang tính chuyên sâu, chuyên ngành khoa học hay đơn giản, phổ thông...); điểm chính cần

đề cập, thông điệp chính cần chuyển tải là gì? mục đích đạt được là gì?

Bài thuyết trình của người đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã phải xác định

thông điệp và nội dung chính cần trình bày, tránh trường hợp có quá nhiều thông

điệp đan xen trong bài thuyết trình, nội dung thuyết trình lan man, dài dòng không xác định được vấn đề trọng tâm.

- Xác định phương thức thuyết trình (thuyết trình như thế nào)

Để tạo sự chủ động, tự tin khi thuyết trình, đại biểu HĐND cấp huyện, cấp

xã có thể/nên xây dựng cấu trúc bài thuyết trình, xem mình sẽ nói những vấn đề

gì trong khoảng thời gian cho phép? Vấn đề nào là vấn đề trọng tâm cần trình bày? Chuẩn bị trước dàn ý bài thuyết trình được giúp đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã trình bày rõ ràng, ngắn gọn, logic, đủ ý, thuyết phục người nghe.
- Chuẩn bị nội dung bài thuyết trình
Nên chuẩn bị nội dung bài thuyết trình ra giấy. Kết cấu bài thuyết trình gồm 3 phần: phần Mở đầu, phần Nội dung, phần Kết luận.
Một bài thuyết trình thành công là kết quả của một quá trình chuẩn bị kỹ
càng, thời gian chuẩn bị thường dài gấp nhiều lần thời gian thuyết trình thực tế. Chuẩn bị kỹ nội dung thuyết trình đối với những vấn đề, những lĩnh vực mà đại biểu hiểu biết sâu và có nhiều thông tin có thể trao đổi, đồng thời cũng phải tìm hiểu những nội dung mà đại biểu chưa có hiểu biết đầy đủ, thấu đáo. Một số đại biểu chuẩn bị rất công phu, thậm chí viết sẵn bài thuyết trình để đọc nguyên văn.
Đây là điều cần tránh, vì dễ gây nhàm chán, trùng lặp. Dù đã chuẩn bị trước nội
131
÷

dung trình bày, đại biểu phải theo dõi liên tục để điều chỉnh ý kiến của mình cho phù hợp, để nâng cao hiệu quả thuyết trình, giảm thiểu sự trùng lặp.

+ Chuẩn bị phần Mở đầu

Phần mở đầu của bài thuyết trình nhằm giới thiệu chủ đề và thu hút sự chú

ý của người nghe. Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã cần biết tận dụng sự tập trung chú ý cao ở những giây phút đầu tiên để dẫn dắt người nghe vào bài thuyết trình (dẫn nhập). Tùy theo tình huống, bối cảnh, đại biểu HĐND có thể chọn một trong nhiều cách dẫn nhập như: (1) dẫn nhập trực tiếp; (2) dẫn nhập bằng cách đặt câu hỏi; (3) dẫn nhập theo lối kể chuyện; (4) dẫn nhập tương phản; (5) dẫn nhập bằng cách trích dẫn lời nói của danh nhân...

+ Chuẩn bị phần Nội dung

Trong quá trình chuẩn bị phần nội dung, phải nêu được vấn đề, đưa ra được các ý chính, phân tích, chứng minh để làm rõ vấn đề muốn trình bày, qua đó thể hiện được ý tưởng của mình. Ý kiến trình bày cần tập trung vào nội dung chính của kỳ họp, mang tính bao quát và thiết thực. Khi chuẩn bị nội dung cần đưa ra ví dụ, số liệu cụ thể minh họa cho mỗi ý, mỗi luận điểm của mình, các đề xuất đưa ra cần cụ thể, rõ ràng, tạo thuận lợi cho các cấp, các ngành tiếp thu trong quá trình chỉ đạo, điều hành. Ngoài ra, có thể chuẩn bị thêm những ví dụ phù hợp để làm cho không khí đỡ căng thẳng và duy trì sự chú ý của người nghe.

+ Chuẩn bị phần Kết luận

Theo quy luật của sự chú ý thì ở những giây phút cuối cùng của bài thuyết trình, người nghe lại một lần nữa dồn sự chú ý vào người thuyết trình. Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã cần biết sử dụng sự chú ý này để chốt lại cho người nghe thông điệp, cùng những điểm quan trọng của bài thuyết trình. Ngoài ra, tùy theo tính chất, mục đích của kỳ họp HĐND có thể đưa ra lời chúc mừng/ lời kêu gọi/ hoặc đề ra nhiệm vụ cho tương lai.

Bước 2: Thực hiện thuyết trình

Khi thuyết trình, thông điệp của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã là điều mà người nghe quan tâm nhất. Một thông điệp hiệu quả cần chính xác, rõ ràng,

đơn giản thể hiện được ý tưởng của người chuyển tải thông điệp, dễ ghi nhớ

132

nhưng thường khuyến khích người nghe phải suy nghĩ về nó. Thông thường, trong một bài thuyết trình, thời điểm hợp lý để đưa ra thông điệp là khi phát biểu phần Mở đầu và khi kết thúc bài phát biểu ở phần Kết luận.

Đại biểu HĐND thuyết trình thật đơn giản, ngắn gọn để người nghe dễ tiếp

cận đồng thời nói trúng và đúng mức vấn đề. Cần tham khảo nguyên tắc: Với thời lượng được thuyết trình tối thiểu mà chuyển tải được thông tin bổ ích tối đa; nói ngắn mà không thiếu, nói dài mà không thừa những thông tin cần nói. Khi phát biểu, đại biểu HĐND thể hiện phong thái điềm tĩnh, cử chỉ tự tin, ánh mắt chân thành, giọng nói có âm lượng, ngữ điệu phù hợp.

Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã khi thuyết trình cần lập luận dựa vào

chứng cứ, có cơ sở/minh chứng thực tế. Với cách lập luận này, đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã không chỉ tiết kiệm được thời gian, tránh được việc công kích lẫn nhau, mà còn tìm ra được giải pháp phù hợp nhất để giải quyết những vấn đề đang phát sinh trong cuộc sống.

Quá trình thực hiện thuyết trình, tập trung vào các hoạt động chính sau:

- Tuân theo kế hoạch, kịch bản, đề cương của bài trình bày;

- Lựa chọn nội dung quan trọng để nhấn mạnh và đầu tư làm nổi bật luận

điểm quan trọng;

- Trình bày một ý chính, một luận điểm, nên theo cách: Nêu ý chính, đưa ra

ý phụ làm nổi bật ý chính và đưa ví dụ minh hoạ, nhằm làm cho các ý trình bày thêm sinh động. Các ví dụ, các minh họa biểu đồ, vật trực quan (nếu có) phải được tính toán cẩn thận, có tính chân thực, có nguồn gốc đáng tin cậy;

- Sắp xếp trình bày các nội dung theo thứ tự lôgíc, có chủ định;

- Lựa chọn thời gian phù hợp cho từng nội dung và cố gắng trình bày theo

dung lượng thời gian đã định.

Kết thúc buổi thuyết trình, nên thực hiện những nội dung sau:

- Tóm tắt phần đã trình bày bằng một thông điệp: thông điệp gửi đến người

nghe khớp với mục tiêu ban đầu đặt ra; chính xác, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ; không dài dòng, không dùng những câu nói gây ức chế cho người nghe.

133

- Gợi mở những nội dung cần tiếp tục quan tâm: cần khái quát những nội

dung, thông điệp đã được trình bày trong bổi thuyết trình. Trên cơ sở đó nêu ra cho người nghe những nội dung, thông điệp cần tiếp tục quan tâm trong thời gian tới, hoặc trong tương lai.

- Tạo dựng ý kiến, quan điểm.

Tóm lại, phần kết thúc buổi thuyết trình cần lưu ý các nội dung sau:

- Đưa ra một nhận xét, đánh giá;

- Đưa ra một luận điểm, quan điểm;

- Tuyên truyền, cổ vũ, kêu gọi.

Một lời kết thúc lịch sự cũng tạo ấn tượng tốt cho người nghe. Khi thực

hiện xong buổi thuyết trình, dù rằng buổi thuyết trình đó thành công hay không thì người trình bày cũng phải cảm ơn người nghe trước khi kết thúc và cam kết

sẽ liên lạc lại/tiếp tục chia sẻ thông tin với họ khi họ có nhu cầu. Cần biết kết thúc đúng lúc.

Bước 3: Đánh giá kết quả thuyết trình

Đánh giá kết quả buổi thuyết trình là khâu cuối của quá trình thuyết trình,

đây là khâu cần phải thực hiện để xác định xem việc thuyết trình có đạt được mục đích đã đặt ra, có làm cho người nghe tiếp thu, cảm nhận, thay đổi như người thuyết trình mong muốn hay không. Để đánh giá kết quả thuyết trình, đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã có thể tự trả lời các câu hỏi như:

- Có nhất quán theo mục tiêu chính không?

- Có tạo lập được quan hệ tốt với người nghe không?

- Có tự tin kiểm soát được mọi diễn biến không?

- Có hài lòng với phần mở đầu và kết thúc không?

- Kỳ vọng của người nghe được đáp ứng không?

- Người nghe có phản hồi tốt không?

- Nội dung và cách trình bày có rõ ràng không?

- Thông tin có cập nhật và phù hợp không?

- Có tránh được những sai lầm và hài lòng với kết quả bài thuyết trình

không?

134

3. Kỹ thuật thuyết trình

a. Tạo và duy trì ấn tượng tích cực ban đầu

Bài phát biểu thảo luận/thuyết trình của đại biểu thường ngắn (trong phiên

họp toàn thể HĐND tại Hội trường khoảng 7 phút, trong họp Tổ đại biểu có thể dài hơn khoảng 10 phút, trong tiếp xúc cử tri khoảng 30 phút). Vì vậy, việc tạo ấn tượng ban đầu để đại biểu HĐND, cử tri chú ý lắng nghe là rất cần thiết. Người nghe ấn tượng và bị thu hút ở 30 giây đầu tiên và 30 giây cuối cùng, nên đại biểu cần có nhiều cách để đi vào mở đầu hấp dẫn. Có nhiều cách mở đầu bài phát biểu khác nhau, tùy vào nội dung để đại biểu lựa chọn:

+ Mở đầu bằng cách nêu rõ ý tưởng dự kiến trình bày, ví dụ, nếu dự kiến

đóng góp 3 ý kiến trong dự thảo nghị quyết, đại biểu có thể mở đầu như sau: "Tôi có 3 ý kiến đóng góp, một là... ".

+ Mở đầu bằng cách đặt câu hỏi khơi gợi sự tò mò, kích thích trí tưởng

tượng của người nghe, khiến người nghe phải suy nghĩ, tự "đào bới" vấn đề đại

biểu dự định nói. Ví dụ, khi HĐND thảo luận về nội dung phòng, chống tham nhũng, đại biểu có thể mở đầu như sau: "Trong số đại biểu ngồi đây, đã ai từng có con, cháu đi xin việc tại cơ quan nhà nước chưa?..." hoặc khi thảo luận về kinh tế, xã hội của địa phương, đại biểu muốn HĐND chú ý tới phát biểu của mình về con đường liên xã đã xuống cấp: "Địa điểm lý tưởng tổ chức đua ô tô chạy chậm là ở đâu? Chính là con đường từ trung tâm huyện X đến xã B, đi 20 km mất 2 giờ đồng hồ".

+ Mở đầu hài hước nhưng rất ngắn và liên quan đến nội dung phát biểu.

Trong cuộc họp HĐND, tiếp xúc cử tri... thường có sự trùng lặp trong nội dung phát biểu, do đó, sự mở đầu hài hước sẽ làm không khí hội trường vui vẻ, đại biểu tập trung lắng nghe phát biểu. Sự hài hước đó phải gắn với nội dung thảo luận. Ví dụ: (1) như thảo luận về hoạt động của cán bộ, công chức ở địa phương có thể lấy hình ảnh công chức sáng cắp ô đi tối cắp ô về; (2) hoặc lấy chính bản thân làm đối tượng hài hước (ví dụ khi phát biểu về chất lượng công trình, đại biểu có thể tạo sự hài hước: "Tôi thấy mình càng già càng khỏe, lúc trẻ tôi đập

135

mãi mới vỡ mảng bê tông, mà giờ đây, tôi có thể dùng tay bóp nát bê tông của công trình X)..

+ Mở đầu bằng cách đưa ra số liệu thống kê: Những con số thống kê

thường nhàm chán, nhưng nếu được nêu đúng lúc, đúng thời điểm thì sẽ gây tác động lớn tới người nghe vì tính thuyết phục của nó. Ví dụ khi nối về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, có thể nêu con số về thu, chi ngân sách (do các cơ quan có thẩm quyền công bố hoặc do đại biểu HĐND tự thu thập, tính toán).

+ Mở đầu theo lối tương phản. Việc nhấn mạnh sự tương phản, mâu thuẫn

là cách thu hút sự chú ý của người nghe. Ví dụ như khi thảo luận về kinh tế - xã

hội hay giám sát bồi thường đất đai, người trình bày có thể tạo sự tương phản giữa giá đền bù đất nông nghiệp và giá trị nhà đất sau khi được đầu tư, sự chênh lệch lớn tạo tương phản rõ nét.

- Phong thái thuyết trình tự nhiên, đĩnh đạc, chân thành, khiêm tốn

Tại kỳ họp và các hoạt động của HĐND, phong thái thuyết trình của người

đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã rất quan trọng. Khi thuyết trình, đại biểu

HĐND có phong thái tự nhiên, bình tĩnh và tự tin; thái độ lịch sự, khiêm tốn, tôn trọng người nghe. Khi trình bày, thể hiện thông điệp rõ ràng, mạnh mẽ, thuyết phục; chân thực, đơn giản; giọng nói truyền cảm, diễn đạt lưu loát với âm lượng, ngữ điệu phù hợp.

- Linh hoạt trong thuyết trình

Khi HĐND thảo luận về một vấn đề cụ thể, sẽ có nhiều đại biểu đóng góp ý

kiến và có thể có sự trùng lặp về nội dung, cách thức giải quyết vấn đề. Vì vậy, khi phát biểu, đại biểu linh hoạt xử lý nội dung tham luận đã chuẩn bị sẵn, lược bỏ nội dung trùng lặp, có phương án dự phòng nội dung phát biểu, nhanh chóng đưa ra phân tích thêm, sâu hơn vào nội dung HĐND đang trao đổi, tránh đọc một bài chuẩn bị sẵn, trùng lặp, vừa làm mất thời gian của HĐND vừa không thể hiện được trí tuệ cũng như chính kiến của người thuyết trình.

- Kiểm soát thời lượng thuyết trình, đại biểu HĐND chủ động kiểm soát dung lượng ở mức vừa đủ để bài trình bày không vượt quá thời lượng cho phép,

136

tránh dài dòng, làm mất thời gian và không thu hút được sự chú ý của người nghe.

- Sử dụng ví dụ thực tế, hình ảnh minh họa nhấn mạnh luận điểm

Khi trình bày phải có những tranh

ảnh minh họa, vật dụng trực quan thì
tính thuyết phục cao hơn. Trăm nghe
không bằng một thấy, hiệu quả của hình
ảnh tác động tới người nghe tức thời.
Tùy thời điểm, nội dung mà việc đưa
Tùy thời điểm, nội dung mà việc đưa
hình ảnh, vật chứng có sức thuyết phục
hơn rất nhiều lần so với việc chỉ trình
Hình ảnh
55%
Giọng nói
38% Ngôn từ
7%

bày luận điểm mà đại biểu muốn chứng minh.

- Kết hợp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ (ngôn ngữ cơ thể) để thể hiện thông

điệp. Một kỹ thuật trong thuyết trình là cách nhấn mạnh vào những luận điểm chính, nội dung quan trọng, nhằm nêu bật nội dung và thu hút người nghe. Đây

là cách trình bày những thông tin, thông điệp phức tạp một cách thu hút, có trọng tâm, trọng điểm.

Sử dụng ngôn ngữ cơ thể, để tạo thiện cảm và ấn tượng tốt đối với người

nghe. Nét mặt tươi tắn, ánh mắt nhìn thẳng, chân thành, tin tưởng; dáng đứng thẳng, tự nhiên, thoải mái, không gò ép hay khép nép, đầu luôn ngẩng lên và nhìn về phía trước. Sử dụng khéo léo sự hỗ trợ của đôi tay để giúp thuyết trình sinh động hơn. Tránh khoanh tay tạo cảm giác như đang phòng thủ, khép mình; cho tay vào túi quần tạo cảm giác kênh kiệu, khó gần; trỏ tay vào ai đó làm người nghe khó chịu.

- Sử dụng đúng mực lời nói và các khoảng lặng

Nghe có vẻ trái ngược nhau như câu nói dân gian "Lời nói gói vàng - im

lặng là vàng", nhưng trong thuyết trình, nếu biết sử dụng hai kỹ năng này một cách hợp lý sẽ tạo ra hiệu quả lớn. Người nghe tiếp nhận thông tin không chỉ bằng nội dung thông tin mà cả bằng âm thanh - ngữ điệu của người nói. Nếu đại

biểu chỉ đọc/nói mà không có điểm nhấn, đọc như một cái máy thì người nghe

137

rất khó tiếp nhận thông tin. Đại biểu không hát trên hội trường, trong cuộc tiếp

xúc cử tri, nhưng những điểm nhấn, giọng điệu lên xuống, trầm bổng sẽ dễ đi vào lòng người nghe.

Khoảnh khắc im lặng cũng sẽ tạo những tác động tâm lý, im lặng sẽ nói lên

rất nhiều điều, khiến cho những người nghe thuyết trình có thời gian để suy nghĩ cẩn thận về những gì đang thực sự diễn ra. Ví dụ: khi đại biểu phát biểu về những khó khăn đồng bào dân tộc phải trải qua, chính sách với đồng bào nghèo, sau khi đưa ra ví dụ, dẫn chứng tác động tới tâm lý người nghe, khoảng lặng trong vài giây khiến người nghe có thời gian suy nghĩ, thông điệp người trình bày đưa ra có thể lắng đọng lại trong lòng người nghe.

II. Kỹ năng thảo luận, tranh luận của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

Hiện nay, hoạt động thảo luận, tranh luận, chất vấn của đại biểu HĐND

được quy định trong một số văn bản như Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân.

Thảo luận, tranh luận trong kỳ họp HĐND cần tuân thủ những nguyên tắc, đó là:

- Tuân thủ nội quy kỳ họp HĐND (về thời gian phát biểu, xin phép phát

biểu, lời nói và ngôn từ lịch sự, điều hành của Chủ tọa kỳ họp, không phát biểu lặp lại nội dung... );

- Người phát biểu thảo luận, tranh luận có trách nhiệm với lời nói của mình, chịu sự giám sát phát biểu của cơ quan báo chí và cử tri;

- Đại biểu thảo luận, tranh luận không có cơ hội phát biểu nhiều lần, thường chỉ từ một đến hai lần, nếu tiếp tục phát biểu sẽ thành tranh cãi và Chủ tọa điều hành phiên họp cũng khó có thể chấp nhận đại biểu phát biểu nhiều lần;

- Thảo luận, tranh luận có điểm dừng, không xác định đúng - sai ngay tại cuộc tranh luận, mà có thời gian để cơ quan trình dự thảo nghị quyết, đề án điều

138

chỉnh nội dung trình hoặc quyết định theo ý kiến của bên tranh luận thông qua việc HĐND biểu quyết về đề án, dự thảo nghị quyết.

1. Mục đích, yêu cầu đối với thảo luận, tranh luận của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã+

a. Mục đích thảo luận, tranh luận của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện,

cấp xã

Kỳ họp HĐND cấp huyện, cấp xã có nhiều hoạt động trong đó thảo luận,

tranh luận là nội dung quan trọng. Thảo luận, tranh luận vừa là hoạt động bắt buộc được luật định trong chương trình nghị sự của kỳ họp HĐND, vừa là giải pháp quan trọng phát huy trách nhiệm và trí tuệ của các đại biểu trước nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng các quyết sách của HĐND, nâng cao chất lượng các kỳ họp của HĐND cấp huyện, cấp xã.

Đây là diễn đàn, kênh thông tin quan trọng để đại biểu HĐND trao đổi,

phân tích làm rõ những vấn đề quan trọng, vấn đề còn có ý kiến khác nhau, vấn đề mới phát sinh, vấn đề bức xúc ở địa phương. Thảo luận, thậm chí tranh luận để đi đến thống nhất, là cơ sở để HĐND quyết định các chủ trương, chính sách quan trọng nhằm phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh của địa phương. Vì vậy, hoạt động thảo luận, tranh luận luôn thu hút sự quan tâm, theo dõi của đại biểu, cử tri và nhân dân.

Các ý kiến phát biểu thảo luận, tranh luận của đại biểu không nhằm tới việc

xác định thắng - thua, thỏa mãn tính hiếu thắng của người tranh luận, mà hướng tới mục đích chung để HĐND tìm ra giải pháp tốt nhất, đưa ra quyết định đúng đắn, phù hợp vì mục tiêu chung của cộng đồng nhân dân địa phương. Ý kiến phát biểu, thảo luận, tranh luận của đại biểu trực tiếp liên quan đến chất lượng, hiệu quả nội dung các nghị quyết được thông qua tại kỳ họp HĐND cấp huyện, cấp xã và kết luận của chủ tọa tại kỳ họp phụ thuộc rất nhiều vào các ý kiến

* Nếu như "thuyết trình" là sự chia sẻ thông tin một chiều (từ người thuyết trình đến người nghe) thì thảo luận, tranh luận là sự trao đổi, chia sẻ thông tin hai chiều. Trong đó, "thảo luận" thường được hiểu là việc trao đổi ý kiến giữa các bên để làm sáng tỏ một vấn đề hoặc đưa ra quan điểm, ý kiến/ý tưởng; "tranh luận" là bàn cãi có lý lẽ để tìm ra lẽ phải của một vấn đề hoặc để bảo vệ quan điểm/ý kiến/ý tưởng. Như vậy, thảo luận và tranh luận có sự tương đồng về nghĩa ở một mức độ nhất định. Tuy nhiên, sự khác biệt nổi bật là về cấp độ giao tiếp và mục tiêu hướng đến. Nếu thảo luận là để làm sáng tỏ vấn đề thì tranh luận là để tìm ra lẽ phải. Trong thực tế, "thảo luận", "tranh luận" thường đan xen chặt chẽ với nhau.

139

phân tích, thảo luận, tranh luận của đại biểu. Thực hiện có hiệu quả hoạt động thảo luận, tranh luận tại kỳ họp góp phần nâng cao chất lượng ban hành các nghị quyết của HĐND tại kỳ họp, góp phần vào thành công của kỳ họp.

b. Yêu cầu đối với thảo luận, tranh luận của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

Trong hoạt động thảo luận, tranh luận, đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã cần lưu ý một số yêu cầu cụ thể như sau:

Một là, tuân thủ nội quy phiên họp HĐND và điều hành của Chủ tọa phiên họp.

Quá trình thảo luận cần tuân thủ sự chỉ đạo nhất quán, nghiêm túc, đồng

thời kết hợp thực hiện tốt nguyên tắc tập trung, dân chủ, tôn trọng pháp luật. Đại biểu HĐND tuân thủ thời gian quy định được phát biểu trong kỳ họp. Thời gian dành cho tranh luận thường ngắn hơn thời gian cho việc thảo luận. Nếu không đủ thời gian thảo luận trong phòng họp, đại biểu có thể tận dụng thời gian trao đổi thêm ngoài hội trường.

Hai là, giữ thái độ đúng mực

Đại biểu HĐND giữ thái độ xây dựng trong quá trình thảo luận, bình tĩnh

lắng nghe, không lồng ghép động cơ cá nhân khi phát biểu, giữ thái độ đúng mực, làm chủ cảm xúc cá nhân.

Người tranh luận dễ bị sa vào tâm lý thắng - thua nên dễ dẫn đến không làm

chủ được bản thân. HĐND là môi trường của những người đại diện cho nhân dân nên tranh luận luôn phải giữ thái độ đúng mực, tranh luận không phải thỏa mãn bản thân mà luôn xác định mình đại diện cho nhân dân, nói lên tiếng nói của nhân dân.

Ba là, thẳng thắn, chân thành, không công kích cá nhân.

Là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, trong thảo luận, tranh luận, đại biểu HĐND cần trình bày trực tiếp vào vấn đề, chủ động, thẳng thắn nêu quan điểm, chính kiến về những vấn đề cần tập trung giải quyết. Mặt khác, đại biểu HĐND không nên quy chụp trách nhiệm, không vội vàng kết luận người khác sai khi chưa đủ căn cứ pháp lý, thực tế; đồng thời cần hết sức tránh công kích cá nhân trong thảo luận, tránh sử dụng ngôn từ để công kích đối tượng

140

tranh luận để làm giảm uy tín của họ, tránh đưa mâu thuẫn cá nhân vào trong phát biểu tranh luận. Quá trình thảo luận, tranh luận cần chân thành góp ý, tránh mang quan điểm cá nhân hay mâu thuẫn cá nhân trong phát biểu tranh luận. Có như vậy, ý kiến của đại biểu mới dễ được tiếp thu, có tính thuyết phục.

Bốn là, tập trung vào nội dung mà HĐND đang thảo luận

Đại biểu HĐND thảo luận tập trung vào các vấn đề trọng tâm của kỳ họp,

nội dung thảo luận đảm bảo ngắn gọn, sắc nét, đi vào chiều sâu vấn đề, tránh sa vào những vấn đề vụn vặt, kỹ thuật văn bản, không trọng tâm, thiếu thuyết phục. Chỉ tranh luận khi nắm chắc vấn đề, có chứng cứ rõ ràng, lập luận chặt chẽ.

2. Các bước thực hiện thảo luận, tranh luận của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

Phần lớn kỹ năng thuyết trình cũng có thể được áp dụng trong thảo luận,

tranh luận tại kỳ họp HĐND. Kỹ năng thảo luận và kỹ năng tranh luận của người đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã được sử dụng kết hợp một cách hài hòa, hỗ trợ cho đại biểu khi phát biểu ý kiến thảo luận, tranh luận tại phiên họp toàn thể HĐND, phiên họp Tổ đại biểu HĐND.

Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã khi thực hiện thảo luận, tranh luận tại

kỳ họp HĐND nên theo các bước dưới đây:

Bước 1: Chuẩn bị thảo luận, tranh luận

Một là, lựa chọn, xác định vấn đề sẽ tham gia thảo luận, tranh luận

Trên thực tế không phải đại biểu nào cũng có thể nắm bắt nhanh, am hiểu

sâu sắc về tất cả các lĩnh vực, các vấn đề sẽ đưa ra kỳ họp. Do vậy, việc đầu tiên là đại biểu lựa chọn, xác định vấn đề mình sẽ tham gia thảo luận. Việc lựa chọn vấn đề sẽ tham gia thảo luận, tranh luận nên được tiến hành sớm để đại biểu có thời gian chuẩn bị, thu thập thêm thông tin, thu thập các văn bản liên quan. Khi lựa chọn vấn đề để phát biểu thảo luận, tranh luận đại biểu căn cứ vào nội dung, chương trình kỳ họp và những tài liệu, văn bản của kỳ họp. Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã nên lựa chọn các vấn đề vấn đề quan trọng, cấp thiết, cần thiết, "nóng"ở địa phương, có tác động nhiều, phạm vi rộng trong đời sống kinh tế xã

hội tại địa phương, được cử tri và dư luận quan tâm, đồng thời là vấn đề liên

141

quan đến lĩnh vực chuyên môn mà đại biểu am hiểu sâu sắc. Đại biểu HĐND cũng có thể lựa chọn những vấn đề khó, đang có nhiều ý kiến trái chiều, nhiều phương án xử lý khác nhau hoặc những vấn đề mà không nhiều đại biểu quan tâm hoặc để ý.

Khác với thảo luận (đại biểu HĐND được chuẩn bị kỹ lưỡng, viết ra giấy

những nội dung phát biểu, có thể đọc bài phát biểu đã chuẩn bị trước), tranh luận thường diễn ra tức thời, việc chuẩn bị tranh luận rất ngắn, thường chỉ vài phút.

Mặc dù không có nhiều thời gian chuẩn bị về câu từ, lập luận nhưng vẫn

phải chuẩn bị, cập nhật từ trước kiến thức về nội dung tranh luận. Trong lúc đại biểu khác hoặc cơ quan trình dự thảo nghị quyết, đề án phát biểu trình bày ý kiến, đại biểu nhanh chóng viết tóm tắt lập luận, gạch đầu dòng những ý tưởng/ý kiến mà mình không đồng tình, lựa chọn phương pháp tranh luận với từng nội dung cụ thể.

Hai là, tiến hành khảo sát, thu thập thông tin, tư liệu phục vụ cho nội dung sẽ thảo luận, tranh luận

Để có ý kiến phát biểu chất lượng tại kỳ họp, trước hết đại biểu HĐND

phải dành thời gian nghiên cứu báo cáo, tài liệu kỳ họp, chủ chương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bám sát gợi ý, thảo luận của chủ tọa. Đồng thời, đại biểu HĐND cần nắm chắc thông tin về những nội dung cần thảo luận, nâng cao tinh thần trách nhiệm, chủ động đi cơ sở, tiếp xúc, lắng nghe, nắm bắt tâm tư nguyện vọng, ý kiến của cử tri; tăng cường quan tâm, lắng nghe ý kiến phản ánh từ nhiều chiều (dư luận, báo chí, phát thanh, cử tri và nhân dân từ thực tế của cơ sở) để chuẩn bị các nội dung thảo luận, tranh luận có chiều sâu và phạm vi ảnh hưởng rộng; những cơ chế chính sách áp dụng chung tại địa phương còn chưa đảm bảo tính khả thi hay vướng mắc trong thực tế. Thông tin phục vụ thảo luận, tranh luận phải đủ lớn về khối lượng, phải đủ tầm, phải nhiều hơn những gì sẽ phát biểu để đại biểu có thể tự tin khi trình bày ý kiến tại kỳ họp. Trong nội dung phát biểu thảo luận, tranh luận nên làm rõ các vấn đề đồng tình, những vấn đề chưa nhất trí đề nghị làm rõ hoặc bổ sung chỉnh sửa, có số liệu hay nhận định, đề xuất kiến nghị cụ thể.

142

Ba là, liên hệ chặt chẽ với các cơ quan tham mưu, giúp việc của HĐND để nắm bắt chương trình và các nội dung của kỳ họp HĐND

Trong quá trình chuẩn bị cho kỳ họp của HĐND, các cơ quan tham mưu,

giúp việc cho HĐND và các cơ quan liên quan được giao chuẩn bị các đề án trình kỳ họp phải bám sát kế hoạch chuẩn bị kỳ họp, chuẩn bị các tài liệu bảo đảm chất lượng, đúng tiến độ; cung cấp đầy đủ kịp thời thông tin cần thiết để đại biểu có căn cứ, thời gian nghiên cứu, chuẩn bị các ý kiến thảo luận, tranh luận. Do vậy, đại biểu HĐND liên hệ chặt chẽ với các cơ quan tham mưu, giúp việc của HĐND để có thể tự khảo sát, giám sát và tham gia quá trình chuẩn bị chương trình và các nội dung trình kỳ họp. Việc liên hệ, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tham mưu, giúp việc của HĐND để nắm bắt chương trình và các nội dung của kỳ họp HĐND sẽ giúp đại biểu HĐND thêm chủ động và tự tin khi

tham gia hoạt động thảo luận, tranh luận tại kỳ họp HĐND.

Bước 2: Thực hiện thảo luận, tranh luận

Phần lớn kỹ năng thuyết trình cũng có thể áp dụng trong thảo luận, tranh

luận tại kỳ họp HĐND. Khi tham gia thực hiện thảo luận, tranh luận tại kỳ họp HĐND, đại biểu HĐND chú ý một số kỹ năng như: Nói thẳng, trực tiếp vào vấn đề, không dẫn dắt quá dài dòng, không trùng lắp với ý nhiều đại biểu khác đã nói; chỉ nói những điều mình nắm chắc, không phỏng đoán hoặc "nghe nói mơ

hồ chưa chính xác; dẫn dắt để mọi người cùng đồng tình với quan điểm của mình; nên sử dụng những dẫn chứng cụ thể bằng hình ảnh, hiện vật... để làm sáng rõ, sinh động và có sức thuyết phục của bài phát biểu. Trong quá trình trình bày, thảo luận, đại biểu HĐND nên tuân theo nguyên tắc 5 rõ:

- Rõ vấn đề;

- Rõ nguyên nhân;

- Rõ trách nhiệm;

- Rõ giải pháp;

- Rõ lộ trình khắc phục.

Khi phát biểu, đại biểu HĐND chú ý giọng nói điềm tĩnh, khiêm tốn; không nên gay gắt, nặng nề; sử dụng từ ngữ trong sáng, giản dị, giúp diễn đạt

143

chính xác quan điểm của mình; nét mặt, ánh mắt luôn thân thiện, dáng điệu tự

nhiên, tự tin, không quá cứng nhắc. Ngoài ra, đại biểu HĐND kiểm soát cảm

xúc trong quá trình thảo luận, tranh luận khi có quan điểm trái ngược nhau tại

phiên họp HĐND, giữa đông đảo đại biểu, cử tri, tránh sử dụng ngôn từ không

phù hợp (đao to búa lớn, không lịch sự...); không kiểm soát được giọng nói

(ngữ điệu, nhấn mạnh, to tiếng, gay gắt ...); tránh dùng từ có tính tuyệt đối hóa

như "tất cả", "duy nhất", "nhất" ... Ví dụ, thay vì phát biểu: "Tất cả cử tri đều

cho rằng không cần ...."' - ý kiến này thường không tạo được sự đồng thuận của

các đại biểu tại kỳ họp - đại biểu có thể sử dụng cụm từ: "Hầu hết cử tri đều cho

rằng..." hay "Tất cả cử tri mà tôi tiếp xúc đều cho rằng ..." - làm như vậy đại

biểu đã giới hạn được "tất cả" ở phạm vi hẹp.

3. Giải quyết vấn đề phát sinh trong quá trình thảo luận, tranh luận

Khi gặp các vấn đề phát sinh trong quá trình thảo luận, tranh luận, đại biểu

HĐND cấp huyện, cấp xã bình tĩnh xử lý, tạo ra được môi trường hợp tác, tôn

trọng lẫn nhau, tìm kiếm các giải pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề. Khi có sự

không thống nhất trong kỳ họp, chủ tọa kỳ họp lắng nghe thêm ý kiến của các

chủ thể khác nhau, của đại diện các cơ quan, đơn vị để xử lý vấn đề trên tinh

e

thần xây dựng, tôn trọng sự thật, vì lợi ích chung, của công dân và địa phương.

Để hoạt động thảo luận, tranh luận thật sự hiệu quả, dự phòng và giải quyết

vấn đề phát sinh trong phiên họp thảo luận, đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã

nên lưu ý một số nội dung sau:

Thứ nhất, đối với đại biểu HĐND

Để chuẩn bị cho phiên thảo luận được tốt, các đại biểu phát huy vai trò,

trách nhiệm, chủ động nghiên cứu trước tài liệu và căn cứ tình hình thực tiễn

công tác tại cơ quan, đơn vị, địa phương, quá trình theo dõi, nắm bắt tình hình ở

cơ sở, nghiên cứu, lựa chọn những vấn đề nổi lên, vấn đề được cử tri và nhân

dân quan tâm, kiến nghị nhiều lần để đăng ký nội dung thảo luận tại kỳ họp.

Trong quá trình thảo luận, không phải đại biểu nào cũng tự tin phát biểu

trước các kỳ họp có đông người tham dự, nhất là trước những người có học vấn,

địa vị, chức vụ cao. Để thực hiện tốt hoạt động thảo luận, tranh luận đại biểu

144

HĐND phải vượt qua rào cản về tâm lý e ngại, sợ va chạm; bỏ suy nghĩ tự cho rằng ý kiến của mình chắc gì đã giải quyết được vấn đề; lo lắng sợ ý kiến của mình chưa chắc đã đúng. Luôn lắng nghe, tôn trọng kiến người khác, khi không đồng tình thì có thể đăng ký tranh luận, công tâm, vì đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cục bộ, cá nhân. Vì thời gian có hạn, đại biểu HĐND trình bày một cách

ngắn gọn rõ quan điểm, lập luận, chứng cứ và đưa ra kết luận theo chính kiến cá nhân. Khi tranh luận, chú ý lắng nghe các nội dung trình bày của đại biểu khác để tranh luận đúng nội dung, tránh lan man, không đúng trọng tâm, làm rối thêm vấn đề. Thường ý kiến tranh luận nảy sinh khi nghe đại biểu khác nói, do vậy khi quyết định tranh luận đại biểu bảo đảm rằng mình nắm chắc vấn đề, có chứng cứ và lập luận chắc chắn. Việc mình đưa ra ý kiến tranh luận là để giúp HĐND có cái nhìn bao quát, đầy đủ hơn về cùng một vấn đề. Việc quyết định đúng, sai thuộc về quyền của HĐND và người điều hành phiên thảo luận, quyết định đó thể hiện ở việc biểu quyết thông qua các nghị quyết.

Trong quá trình thảo luận, tranh luận có thể có những xung đột giữa các đại

biểu tham dự. Xung đột giữa các đại biểu trong phiên họp HĐND có thể hiểu là chưa thống nhất, còn có mâu thuẫn về quan niệm, cách giải quyết vấn đề, kinh

nghiệm, kỹ năng, thái độ tình cảm, dẫn đến có những va chạm, thậm chí đối lập nhau khó dung hòa, khó chấp nhận. Xung đột là một hiện tượng tự nhiên không thể tránh khỏi trong môi trường làm việc, và không tự mất đi. Nếu được giải quyết tốt, xung đột có thể đem lại lợi ích cho tổ chức, tập thể và giải quyết không tốt, xung đột nhỏ sẽ gây ra xung đột to lớn hơn và cuối cùng sẽ phá vỡ tổ chức.
Khi thảo luận, tranh luận, vấn đề đã được đẩy lên cao có dấu hiệu không thống nhất, đối lập nhau, thì đại biểu chú ý kiểm soát cảm xúc, tiếp tục tranh luận với lập luận thuyết phục chặt chẽ. Không để cuốn vào dòng chảy tranh luận mất kiểm soát. Trong trường hợp xung đột lộ rõ, mâu thuẫn được đẩy lên cao, thì tạm thời trấn tĩnh và đưa ra những lập luận cứng rắn hơn cùng các ví dụ điển hình hay các minh chứng để bảo vệ quan điểm của mình, tuyệt nhiên không nghĩ đến chuyện thắng hay thua. Hãy nghĩ đến lợi ích chung, bảo vệ đến cùng lợi ích
145
÷

chung nếu đại biểu thấy có dấu hiệu của lợi ích nhóm hay cách nghĩ nông cạn "lợi bất cập hại'', chạy theo hình thức.

Trong thảo luận, tranh luận, có đại biểu đôi chỗ còn thể hiện những lời nói

thiếu tôn trọng, quá lời, thậm chí có thể mạt sát. Những trường hợp này đại biểu không nên đôi co, ăn miếng trả miếng, cần bình tĩnh, suy nghĩ về lý do người đại biểu đó lại thể hiện không chuẩn mực như vậy. Suy nghĩ cách trả lời theo hướng phân tích, rõ ngọn ngành trong chừng mực có thể, vì nhiều trường hợp chưa cho phép được nói rõ, dùng ngôn từ mạnh mẽ nhưng hòa bình, thể hiện thái độ không đồng tình về cách ứng xử, có thể đề nghị đại biểu đó giữ bình tĩnh, kiểm soát hành vi và ngôn từ phù hợp.

Không kiểm soát được cảm xúc, dẫn đến nổi nóng, tự ái... là những điều

không hay nhưng có thể xảy ra. Nếu ở vào trong những trường hợp như vậy, đại

biểu bình tĩnh, thận trọng, biết dừng đúng lúc, không để cảm xúc cá nhân bị tác động ảnh hưởng từ sự mất kiểm soát cảm xúc của người khác. Trước khi tạm dừng tranh luận, đại biểu vẫn khẳng định quan điểm của mình, thuyết phục sự ủng hộ của những đại biểu khác với thái độ nhẹ nhàng cầu thị và cương quyết cứng rắn trước những thái độ chưa chuẩn mực, đáng phê phán.

Thứ hai, đối với chủ tọa, điều hành kỳ họp

Để chương trình kỳ họp đảm bảo tiến độ đề ra, vai trò của chủ tọa kỳ họp trong công tác điều hành là hết sức quan trọng. Tại các kỳ họp của HĐND cấp huyện, cấp xã công tác điều hành của chủ tọa phải khoa học, linh hoạt, kịp thời nhắc nhở các đại biểu về nội dung, thời gian trình bày; trường hợp nhiều đại biểu đăng ký nhưng chưa được thảo luận được yêu cầu gửi bằng văn bản để tổng hợp.

Điều hành phiên thảo luận đảm bảo thật linh hoạt, tạo được không khí dân

chủ, cởi mở. Chủ tọa điều hành theo hướng gợi mở vấn đề, trường hợp liên quan đến cơ quan, ngành, cá nhân khác thì chủ tọa yêu cầu người đứng đầu cơ quan, ngành hoặc cá nhân đó giải trình thêm. Sau mỗi phát biểu thảo luận của người đại biểu và phát biểu tranh luận (nếu có) của đại biểu khác, chủ tọa nên chốt vấn đề cụ thể, như vậy các vấn đề thảo luận sẽ được làm rõ ngay tại kỳ họp.

146

Căn cứ vào nội dung trình HĐND, chủ tọa kỳ họp nên chọn nội dung quan trọng, bức xúc đang được cử tri, xã hội quan tâm để mở rộng thảo luận.

Khi kết thúc phiên thảo luận, tranh luận, chủ tọa điều hành phải kết luận

nội dung thảo luận, đây là vấn đề hết sức cần thiết và quan trọng. Chủ tọa kết luận, tóm tắt những điểm chính, những vấn đề trọng tâm, nổi bật, những vấn đề đã thống nhất, vấn đề phù hợp với thực tiễn để làm cơ sở cho HĐND quyết định những chủ trương và giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội,... Đồng thời, đề nghị UBND cùng cấp nghiên cứu, chỉ đạo để có các giải pháp để áp dụng, triển khai vào quá trình chỉ đạo, điều hành của ngành, của địa phương. Đối với những vấn đề đại biểu thấy chưa thỏa mãn, đề nghị đại biểu tiếp tục nghiên cứu và đăng ký phát biểu thảo luận trước khi HĐND biểu quyết thông qua.

Trong các phiên họp của HĐND có những đại biểu đưa ra nhiều câu hỏi, có

những câu hỏi "phức tạp', "vòng vo', "thách đố". Nhưng loại câu hỏi này cần suy nghĩ trước khi trả lời.

Câu hỏi phức tạp thì chọn lọc lựa nội dung cần thiết để trả lời, tranh luận,

dễ trả lời trước, khó trả lời sau. Câu hỏi vòng vo thì cân nhắc xem ý đồ của câu hỏi là gì, ý định dẫn đến đâu. Không nhất thiết phải trả lời ngay, vì có thể chưa rõ mục đích của vấn đề câu hỏi đề cập, có thể là đánh lạc hướng nội dung, gây

bế tắc khó khăn trong nội dung thảo luận, tranh luận.

Câu hỏi thách đố, là dạng thách thức câu trả lời, nếu đại biểu trả lời một

cách chân thành cũng khó có kết quả tốt, mà không trả lời cũng ảnh hưởng đến uy tín cá nhân. Đại biểu nên thận trọng cân nhắc khi tranh luận.

Thứ ba, đối với Tổ trưởng tổ đại biểu HĐND

Tổ trưởng tổ đại biểu có trách nhiệm nghiên cứu, tìm hiểu và nắm vững các

vấn đề đòi hỏi phải có các biện pháp để thực hiện chủ trương, chính sách, và với gợi ý thảo luận đã được định hướng có trách nhiệm gợi mở, hướng dẫn các đại biểu trong thảo luận tổ để tập trung bàn thảo các vấn đề HĐND sẽ quyết định tại kỳ họp. Nếu các tổ thảo luận kỹ, đảm bảo chất lượng, có kết quả gửi về Thường trực HĐND cấp huyện, cấp xã tổng hợp thì phiên thảo luận tại kỳ họp HĐND sẽ

147

tập trung vào những vấn đề chính, thời gian dành cho bàn thảo, tranh luận nhiều hơn, nhiều ý kiến tham gia hơn, tăng tính khách quan, toàn diện chắc chắn chất lượng phiên thảo luận sẽ tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng kỳ họp.

Thứ tư, đối với đội ngũ chuyên viên tham mưu, giúp việc cho HĐND cấp huyện, cấp xã

Đội ngũ đội ngũ chuyên viên tham mưu, giúp cho HĐND cấp huyện, cấp

xã tổng hợp, dự kiến nội dung thảo luận tổ, thảo luận tại kỳ họp; kịp thời tổng hợp biên bản thảo luận tổ. Việc tổng hợp ý kiến thảo luận, tranh luận tại kỳ họp phải đảm bảo chính xác, nhanh, bao quát hết ý kiến của đại biểu trên các lĩnh vực, nhưng cũng cần nêu rõ được các ý kiến nhất trí với dự thảo nghị quyết, những vấn đề còn có ý kiến khác nhau cần tiếp tục thảo luận tại Hội trường để làm căn cứ thông qua các nghị quyết tại kỳ họp; đồng thời giúp thư ký kỳ họp kịp thời chỉnh sửa, tiếp thu ý kiến của các đại biểu tham gia vào dự thảo nghị quyết trình chủ tọa kỳ họp. Vì vậy, đội ngũ chuyên viên cần được bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và trang bị các điều kiện cần thiết, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao trong hoạt động của cơ quan dân cử.

Thứ năm, một số kỹ thuật cần thiết

Trong thảo luận, tranh luận ở phiên họp toàn thể của HĐND hay trong phiên họp tổ, trong gặp gỡ cử tri hay các buổi làm việc của đại biểu HĐND, một

số vấn đề nên lưu ý là:

- Tất cả là chung một mục tiêu, là một đội, một thể thống nhất, dù có những

cá nhân đại biểu đôi lúc thể hiện chưa chuẩn mực: Các tranh luận của đại biểu thường là, (1) thuyết phục đại biểu khác tin theo mình, theo quan điểm của mình, (2) mình phải làm tốt hơn đại biểu khác, người là đối thủ của mình và, (3) cùng nhau đưa ra sự thống nhất, chia sẻ, tìm giải pháp tốt hơn. Cần theo đuổi kiểu tranh luận thứ ba này, luôn đặt vấn đề là theo đuổi mục tiêu chung, tinh thần tìm hiểu và nhấn mạnh mọi đại biểu đều cùng chung một mục tiêu. Mục tiêu hướng đến hoàn thành nhiệm vụ, tất cả các quan điểm có ích cho mục tiêu đều được hoan nghênh, không có "người chiến thắng", mọi ý kiến quan điểm đều bình đẳng và có tầm quan trọng.

148

- Không xúc phạm hay công kích cá nhân: Đại biểu tránh những câu hỏi phán xét về người khác, tập trung vào những ý tưởng, những quan điểm của họ. Tránh việc làm đại biểu khác mất mặt, và trong thảo luận của HĐND không ai mất mặt chỉ vì thay đổi suy nghĩ.

- Thể hiện sự khiêm tốn về trí tuệ: Để cuộc thảo luận, tranh luận thực sự

hiệu quả, các đại biểu tham gia cần sẵn sàng tôn trọng mọi quan điểm và thay đổi suy nghĩ khi cần thiết. Đây chính là sự khiêm tốn trí tuệ, sẽ là tốt hơn khi biết lắng nghe và tôn trọng mọi người cùng quan điểm của họ, ngay cả khi không đồng ý. Có thể phải biết thừa nhận khi thấy sai, và vui vẻ công nhận điểm tốt của đại biểu khác. Không bảo thủ luôn khư khư chỉ làm theo cách của mình, nên mở lòng xem xét, ngay cả những ý tưởng có vẻ không hợp lý cũng có thể hữu ích. Chúng có thể giúp đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã tìm ra những ý tưởng mới và tốt hơn.

149

CÂU HỎI THẢO LUẬN

1. Phân tích sự giống và khác nhau giữa thảo luận, tranh luận và thuyết

trình.

2. Từ thực tế hoạt động của cá nhân đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã,

cho biết tác động của thái độ và kiểm soát cảm xúc đến kết quả của thảo luận, tranh luận.

3. Khi thuyết trình, thảo luận và tranh luận, cá nhân đại biểu HĐND cấp

huyện, cấp xã quan tâm tới nội dung muốn truyền đạt hay cách thức truyền đạt thông tin? Tại sao?

4. Kinh nghiệm của cá nhân đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã trong giải

quyết những vấn đề phát sinh khi thuyết trình, thảo luận, tranh luận.

● Giảng viên có thể đưa ra những câu hỏi thảo luận/tình huống phù hợp với thực tế của địa phương, nhu câu học viên và điều kiện lớp học.

150

TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO HỌC VIÊN

1. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm

2015.

2. Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã (nơi cá

nhân đại biểu HĐND công tác).

3. Ngô Thành Can, Phạm Đức Chính, Kỹ năng quản lý hành chính, NXB

Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, năm 2014.

4. Andrew Carnegie (2004), Nghệ thuật ứng xử, Nxb. Văn hoá dân tộc,

Hà Nội, năm 2004.

5. Don Gabor, Sức mạnh của ngôn từ, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí

Minh, năm 2015

6. Dale Carnegie, Nghệ thuật nói trước công chúng, Nxb Văn hóa Thông

tin, Hà Nội, năm 2013.

Giảng viên cập nhật, giới thiệu thêm những tài liệu tham khảo khác cho học viên, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và khả năng tìm kiếm tài liệu của học viên.

151

Chuyên đề 6

KỸ NĂNG TIẾP XÚC CỬ TRI, TIẾP CÔNG DÂN

CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN, CẤP XÃ

I. Kỹ năng tiếp xúc cử tri của đại biểu Hội đồng nhân nhân dân cấp

huyện, cấp xã

1. Mục đích của tiếp xúc cử tri

Để thực hiện được nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp huyện,

cấp xã, giữa đại biểu và nhân dân phải tìm được tiếng nói chung, sự đồng cảm lắng nghe và thấu hiểu thông qua nhiều hoat động khác nhau mà trước hết thông qua hoạt động tiếp xúc cử tri.

Tiếp xúc cử tri là một trong những hình thức giữ mối liên hệ của đại biểu

với cử tri thông qua các hoạt động gặp gỡ giữa đại biểu với cử tri để trao đổi thông tin, giúp đại biểu thu thập và phản ánh ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri với HĐND và các cơ quan nhà nước hữu quan ở địa phương; báo cáo với cử tri kết quả kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của HĐND, vận động nhân dân thực hiện nghị quyết đó; báo cáo với cử tri về kết quả hoạt động của đại biểu.

Hoạt động tiếp xúc cử tri có thể là: Tiếp xúc cử tri theo định kỳ trước và

sau kỳ họp của HĐND cấp huyện, cấp xã; tiếp xúc cử tri nơi cư trú, nơi làm việc của đại biểu; tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, lĩnh vực, đối tượng, địa bàn mà đại biểu quan tâm. Hình thức tiếp xúc cử tri được thể hiện qua hội nghị tiếp xúc cử tri, gặp gỡ, tiếp xúc với cá nhân hoặc nhóm cử tri.

Tiếp xúc cử tri tại nơi làm việc và theo chuyên đề hoặc trực tiếp gặp gỡ cử

tri để tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri và những vấn đề mà đại biểu quan tâm; chuyển những kiến nghị của cử tri đến Tổ đại biểu và Thường trực HĐND để tổng hợp báo cáo HĐND, gửi tới cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

Do đó, mục đích tiếp xúc cử tri là nhằm trao đổi, thu thập thông tin; lắng

nghe ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của công dân; giải thích, tuyên truyền

152

chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho công dân; hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và nhận đơn thư của công dân để chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

Do vậy, đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã tiếp xúc cử tri với mục đích là nghe cử tri nói, nói cho cử tri nghe và làm cho cử tri tin.

- Nghe cử tri nói

Nghe cử tri nói là hoạt động cần thiết của đại biểu tại buổi tiếp xúc cử tri,

với mục đích là lắng nghe dân nói để hiểu được người dân, hiểu được tâm tư, nguyện vọng và cả những bức xúc của người dân. Trên thực tế, có nhiều cách để tìm hiểu thực tiễn, thu thập thông tin về sự vật, hiện tượng trong thực tiễn như: tự cá nhân đại biểu tìm hiểu thông qua báo chí, truyền thông, qua các kênh điện

tử, các trang mạng xã hội; qua quan sát, nghiên cứu thực tế tại địa bàn mình ứng

cử... nhưng hình thức hiệu quả nhất là trực tiếp tiếp xúc cử tri để nghe cử tri nói, bởi vì người dân xuất phát từ những vấn đề thực tiễn của địa phương, nơi người dân sống và làm việc, vậy nên người dẫn sẽ có cái nhìn khách quan mà quan trọng là xuất phát từ thực tế.

Tuy nhiên, để hoạt động tiếp xúc cử tri có hiệu quả, đại biểu HĐND cấp

huyện, cấp xã không chỉ đơn giản ngồi nghe đầy đủ những ý kiến, kiến nghị của cử tri rồi ra về mà đại biểu cần phải ghi chép, tổng hợp, phân tích đầy đủ ý kiến của cử tri. Khi nghe dân nói, đại biểu phải lắng nghe, thấu hiểu những khó khăn, bức xúc của cử tri để yêu cầu, đôn đốc cơ quan chức năng giải quyết kịp thời; để thu thập thông tin và giải trình những thắc mắc của cử tri. Nghe dân nói không chỉ đơn thuần là lắng nghe mà đòi hỏi đại biểu phải biết trăn trở, không vô cảm trước bức xúc của cử tri và đau đáu khi những vấn đề của cử tri chưa được giải quyết đến nơi đến chốn.

Hiệu quả của việc tiếp xúc cử tri, giữ mối liên hệ với cử tri của đại biểu dân

cử không phải chỉ dừng ở việc đến, lắng nghe, thu nhận và chuyển tải ý kiến cử tri mà thước đo chất lượng của các buổi tiếp xúc đó chính là các ý kiến cử tri

được xử lý, giải quyết như thế nào. Sự tin tưởng và gần gũi của cử tri với đại

153

biểu có được khi họ thấy rằng hoạt động của người đại biểu xuất phát từ chính quyền và lợi ích chung của cử tri.

- Nói cho cử tri nghe

Đại biểu HĐND là người có hiểu biết về pháp luật, nắm vững nội dung

HĐND quyết định tại kỳ họp, là người mà cử tri tin tưởng bầu ra, do đó, đại biểu

có trách nhiệm phổ biến, tuyên truyền tới nhân dân chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đồng thời vận động, thuyết phục người dân thực hiện. Có thể có nhiều cách thức tuyên truyền vận động người dân tuân thủ thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhưng hình thức nói cho dân nghe tại buổi tiếp xúc cử tri cũng là cần thiết. Trong thế giới hiện đại, khoa học công nghệ phát triển, cử tri dễ dàng có được thông tin về tình hình kinh tế - xã hội, về hoạt động của đại biểu, về kết quả kỳ họp,.

Vì vậy, đại biểu không cần và không nên nói lại những điều cử tri đã biết mà chắt lọc để cung cấp cho cử tri những thông tin mới hơn, có chiều sâu hơn. Bởi lẽ, đại biểu không chỉ là nói cho dân nghe mà phải làm cho dân hiểu, dân tin, dân ủng hộ, dân làm từ đó mới góp phần định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận trong nhân dân, vận động, thuyết phục cử tri tham gia thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng như những quyết sách cụ thể của địa phương.

- Làm cho dân tin

Nghe dân nói và nói cho dân nghe đã khó, làm cho dân tin lại càng khó

hơn. Câu hỏi đặt ra ở đây là đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã làm thế nào để dân tin, dân ủng hộ và làm theo trong suốt cả nhiệm kỳ đại biểu giữ trọng trách và cả về sau. Có thể nói, mục đích cuối cùng trong chuỗi mắt xích thể hiện tâm và tầm của đại biểu dân cử là "làm cho dân tin" - tin vào vai trò đại diện của bản thân đại biểu, tin vào bản chất nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Lắng nghe những điều cử tri muốn nói, những tâm tư, nguyện vọng của cử

tri và không chỉ nói những điều cử tri muốn nghe mà đại biểu phải là người đại diện tận tụy, nhiệt tâm trong giải quyết những vấn đề cử tri đặt ra "nói và làm"

154

đi đôi với nhau. Tất nhiên đại biểu không có thẩm quyền giải quyết kiến nghị

của cử tri nhưng có trách nhiệm phản ánh, theo đuổi đến cùng vấn đề để có câu trả lời thỏa đáng cho cử tri; để những vấn đề liên quan đến đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được chăm lo tốt hơn. Đại biểu cũng phải làm tốt vai trò cầu nối giữa cử tri với Đảng, với chính quyền: mang chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với cử tri; mang tiếng nói của cử tri đến với chính quyền, từ đó góp phần làm cho mọi hoạt động của đời sống xã hội đều hợp ý Đảng, thuận lòng dân. Có làm được như vậy thì dân mới tin vào đại biểu.

Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2019) quy định đại biểu HĐND có trách nhiệm thực hiện chế độ tiếp xúc cử tri.

Còn quy định cụ thể về chế độ tiếp xúc cử tri do HĐND quyết định. Thông thường, đại biểu HĐND tiếp xúc cử tri trước, sau kỳ họp HĐND.

Nguyên tắc chung tiếp xúc cử tri: tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND được

thực hiện theo nguyên tắc dân chủ, bình đẳng, công khai; phát huy vai trò, trách nhiệm của đại biểu, của cử tri và của các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan.

2. Quy trình tiếp xúc cử tri

Có nhiều hình thức tiếp xúc cử tri, mỗi hình thức tiếp xúc có những điểm

tương đồng và khác biệt, vì vậy, không thể có một quy trình chung cho tất cả các hình thức tiếp xúc cử tri nhưng cũng không thể đi xây dựng quy trình tiếp xúc cử tri cho từng hình thức một. Chính vì vậy, trong nội dung này, chuyên đề chỉ đề cập đến quy trình tiếp xúc cử tri tại hội nghị tiếp xúc cử tri là chủ yếu.

Thông thường, buổi tiếp xúc cử tri chính thức do Mặt trận Tổ quốc Việt

Nam tổ chức gồm các bước sau:

- Đại diện Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức tiếp

xúc cử tri, nếu là hội nghị tiếp xúc cử tri ở cơ quan thì đại diện Ban Chấp hành công đoàn cơ quan chủ trì hội nghị, tuyên bố lý do, giới thiệu thành phần đại biểu, chương trình, nội dung hội nghị và cử thư ký ghi biên bản hội nghị.

- Tùy vào hình thức tiếp xúc cử tri, trước hay sau kỳ họp, tiếp xúc cử tri nơi

cư trú, nơi công tác, tiếp xúc cử tri theo chuyên đề mà đại biểu HĐND lựa chọn để báo cáo với cử tri những vấn đề sau đây:

155

+ Dự kiến chương trình, nội dung kỳ họp (đối với hội nghị tiếp xúc cử tri

trước kỳ họp);

+ Kết quả kỳ họp và kết quả giải quyết kiến nghị của cử tri (đối với hội

nghị tiếp xúc cử tri sau kỳ họp);

+ Việc triển khai thực hiện nghị quyết của HĐND về nhiệm vụ kinh tế - xã

hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương;

+ Hoạt động của đại biểu và của HĐND đối với hội nghị tiếp xúc cử tri sau

kỳ họp cuối năm.

Việc tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND đặt ra hai vấn đề đó là: (i) Cử tri

chủ động trực tiếp chuẩn bị những kiến nghị đề xuất của mình phản ánh tới đại biểu HĐND, đại biểu HĐND lắng nghe những ý kiến, kiến nghị phản ánh của cử tri và tổng hợp, tiếp thu có chọn lọc những ý kiến đó; (ii) Đại biểu HĐND chủ động chuẩn bị nội dung để tiếp xúc với cử tri, cử tri nghe người đại biểu của mình báo cáo và nêu ra các ý kiến, kiến nghị của mình. Hai vấn này liên quan chặt chẽ với nhau, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa đại biểu với cử tri, đại biểu HĐND chính là cầu nối giữa cử tri với cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.

- Cử tri phát biểu ý kiến.

- Đại diện UBND, cơ quan, tổ chức hữu quan phát biểu, trả lời những vấn

đề cử tri nêu lên thuộc thẩm quyền giải quyết của mình.

- Đại biểu HĐND phát biểu, tiếp thu ý kiến, kiến nghị của cử tri.

- Đại diện Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát biểu

kết thúc hội nghị, nếu là hội nghị tiếp xúc cử tri ở cơ quan thì đại diện Ban Chấp hành công đoàn cơ quan phát biểu ý kiến kết thúc hội nghị.

Trên thực tế, rất ít trường hợp chỉ có một đại biểu tiếp xúc cử tri mà thường

là một số đại biểu tham gia tiếp xúc cử tri. Vì vậy, cần có sự phân công nội dung công việc rõ ràng, cụ thể cho các đại biểu. Chẳng hạn phân công đại biểu phụ trách việc báo cáo với cử tri về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, tình hình an ninh trật tự tại địa phương; tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội nói chung trên địa bàn cả nước. Phân công cho đại biểu sẽ chịu trách nhiệm ghi

156

chép, tiếp thu ý kiến cử tri. Để buổi tiếp xúc cử tri có hiệu quả nên phân công cho đại biểu có chức vụ/chức sắc, kinh nghiệm chịu trách nhiệm việc tiếp thu ý

kiến của cử tri, bởi nếu trong trường hợp cử tri đặt câu hỏi khó hoặc câu hỏi liên quan đến thẩm quyền giải quyết của đại biểu thì đại biểu giải trình hoặc có thể trả lời và giải quyết cho cử tri.

Đối với đại biểu được phân công báo cáo, cần chuẩn bị cho việc trình bày

báo cáo tại các buổi tiếp xúc cử tri. Thực tế, một số đại biểu do chưa nghiên cứu

kỹ báo cáo và nắm bắt tình hình thực tế nên hầu như chỉ trình bày, đọc nguyên văn nội dung báo cáo đã được chuẩn bị trước, nói dài, báo cáo chưa ngắn gọn, súc tích, chưa có điểm nhấn đối với những vấn đề cử tri quan tâm theo từng địa bàn, từng nhóm đối tượng tiếp xúc,... gây mất thời gian và làm cử tri nhàm chán.

Để thu hút được cử tri lắng nghe, đại biểu phải nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cử tri để linh hoạt lựa chọn những nội dung báo cáo tại cuộc tiếp xúc cho phù hợp với từng đối tượng cử tri, nói đúng và trúng những vấn đề cử tri quan tâm. Hơn nữa, đại biểu cần xem xét, đọc báo cáo trước để khi tiếp xúc cử tri, đại biểu đọc trước cử tri một cách lưu loát, mạnh lạc, có điểm nhấn, ngắn gọn và rõ ràng, có trọng tâm, đúng với mong đợi của cử tri, có sức cuốn hút người nghe. Tránh đọc dài dòng, giọng đọc đều đều sẽ không thu hút người nghe.

3. Một số lưu ý trong quá trình tiếp xúc cử tri

a. Đối với công tác chuẩn bị

Những nội dung công việc cần chuẩn bị trước khi tiếp xúc cử tri bao gồm:

- Xác định địa điểm tiếp xúc cử tri

Địa điểm tiếp xúc cử tri cần bố trí ở nơi thuận tiện cho việc đi lại, phù hợp

với địa bàn địa phương nhưng cần lưu ý địa điểm tiếp xúc có thể sử dụng được nhiều loại phương tiện khác nhau như: đi bằng thuyền, bằng phương tiện cơ giới, đi bộ... để bố trí thời gian đi phù hợp, lựa chọn các phương tiện đi lại cho thuận tiện.

157

Tiếp đến đại biểu nên nghiên cứu rõ đối tượng cử tri mà mình tiếp xúc trên địa bàn, thông thường đối tượng cử tri rất đa dạng, với nhiều thành phần khác nhau, trình độ học vấn, tuổi tác, giới tính... về thành phần có thể bao gồm: Trí thức, nông dân, công nhân,... việc nghiên cứu, tìm hiểu rõ cử tri sẽ giúp đại biểu HĐND chuẩn bị nội dung, tâm lý, cách ứng xử phù hợp khi tiếp xúc với cử tri. Chẳng hạn, tiếp xúc cử tri với đối tượng là người nông dân thì mức độ quan tâm tới lĩnh vực thu hút nhân tài của địa phương hoặc những vấn đề chính trị trong nước và thế giới... có thể cử tri không quan tâm bằng lĩnh vực giá nông sản, sản xuất nông nghiệp, đổi mới về cách tiêu thụ sản phẩm với giá thành cao. Tiếp xúc

cử tri khu dân cư thì đa dạng về đối tượng, đa dạng về nội dung kiến nghị, nhưng thường xoay quanh các vấn đề của địa phương (xã, phường, thị trấn, tổ dân phố, thôn, làng, ấp, bản,..) nên địa biểu cần tìm hiểu nắm bắt thông tin thực tế tốt để khi trao đổi thông tin cho phù hợp với đối tượng người nghe.

- Phân công công việc rõ ràng trong tổ đại biểu tiếp xúc cử tri

Một buổi tiếp xúc cử tri không chỉ có một đại biểu tiếp xúc mà thường có

một số đại biểu cùng tham gia. Vì vậy, nên có sự phân công trong các đại biểu dự tiếp xúc cử tri, trong đó có phương án dự phòng trường hợp đại biểu nào đó vì lý do công tác đột xuất không thể dự cuộc tiếp xúc cử tri thì có đại biểu khác thay thế đảm nhiệm công việc, tránh trường hợp không có người đảm nhiệm thay hoặc đảm nhiệm thay được nhưng không nắm bắt được công việc.

- Đại biểu nghiên cứu trước kế hoạch để xác định được nội dung kế hoạch

tiếp xúc cử tri, thậm chí có kịch bản cho buổi tiếp xúc cử tri để trong trường hợp có những vấn đề không mong muốn xảy ra, đại biểu có thể xử lý tốt.

- Nắm bắt tình hình chung của địa phương nơi mình tiếp xúc.

Đây là nội dung quan trọng, đại biểu nên có sự chuẩn bị trước, nghiên cứu

tình hình thực tế địa phương nơi mình tiếp xúc, hiểu rõ được thực tế về mọi mặt

của đời sống xã hội nơi đại biểu tiếp xúc có thể nói buổi tiếp xúc đã thành công 50%. Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã lưu ý tới tình hình cấp xã nơi tiếp xúc và tình hình cụ thể tại thôn, ấp, làng, bản, tổ dân phố nơi tiếp xúc, nhất là các vấn đề nóng, gây bức xúc trong dư luận.

158

Ví dụ, nếu như ở nơi tiếp xúc đang tiến hành giải phóng mặt bằng để làm công trình công cộng thì đại biểu cần quan tâm tìm hiểu các văn bản về đền bù, giải phóng mặt bằng, các văn bản quy định về quy hoạch khu đất ở, đất trồng

cây công nghiệp, nông nghiệp; về việc làm đường đi qua địa phương,... Nghiên cứu, xem xét về tình hình khiếu nại của công dân về đền bù, giải phóng mặt bằng xây dựng các công trình công cộng hoặc xây dựng các khu công nghiệp, khu dân cư hiện đang diễn biến như thế nào? Có nhiều vấn đề bức xúc không? có vấn đề gì nổi cộm nhất tại địa bàn mình tiếp xúc cử tri...

- Thu thập tài liệu phục vụ cho tiếp xúc cử tri

Việc chuẩn bị tài liệu phải căn cứ vào mục đích của buổi tiếp xúc cử tri, đối tượng cử tri và địa bàn tiếp xúc. Chẳng hạn, nếu tiếp xúc cử tri trước kỳ họp, đại biểu cần chuẩn bị chương trình kỳ họp, các nội dung kỳ họp HĐND sẽ bàn tới, sẽ thông qua; thông tin về tình hình kinh tế - xã hội... Nếu tiếp xúc cử tri sau kỳ họp, đại biểu chuẩn bị báo cáo kết quả kỳ họp, nội dung các nghị quyết đã được HĐND thông qua, nội dung chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp, kết quả giải quyết các kiến nghị của cử tri đã giải quyết đến đâu, nội dung nào/vấn đề nào đã giải quyết được, vấn đề nào chưa giải quyết được và lý do vấn đề chưa giải quyết?

b. Hoạt động trong tiếp xúc cử tri

- Trong buổi tiếp xúc cử tri, dành nhiều thời gian để cử tri được thể hiện

tâm tư nguyện vọng, đề xuất ý kiến, kiến nghị; có cách thức huy động sự tham gia ý kiến của nhiều cử tri, tránh tình trạng có cử tri nói quá nhiều, lần tiếp xúc nào cũng nói, trở thành cử tri "chuyên nghiệp nói, còn các cư tri khác không có

thời gian để trình bày ý kiến của mình. Quá trình tiếp xúc cử tri tại các địa phương nơi dự báo có nhiều vấn đề bức xúc thì mời đại diện lãnh các cơ quan chuyên môn cùng tham dự để nắm bắt, trả lời và làm sáng tỏ thêm những vấn đề mà cử tri kiến nghị.

Tại buổi tiếp xúc cử tri nhất thiết phải có sự tham gia của đại diện lãnh đạo

chính quyền địa phương để giải đáp, giải quyết tại chỗ những vấn đề thuộc thẩm quyền, tránh tình trạng đại biểu HĐND chuyển giao toàn bộ ý kiến cử tri đến cơ

159

quan có trách nhiệm giải quyết mà không có một sự giải thích nào trong buổi tiếp xúc, buổi tiếp xúc chỉ nghe và tiếp thu ý kiến trình cấp có thẩm quyền không thôi thì không thuyết phục được người dân.

Ngoài việc huy động sự tham gia của cử tri vào quá trình trao đổi, cho ý

kiến, khi thực hiện các hoạt động tiếp xúc cử tri, các đại biểu cần tuân thủ nguyên tắc 4T, đó là: Thời gian - Tươm tất (trang phục, tác phong của người đại biểu) - Thân thiện (thái độ, cử chỉ) - Trí tuệ, cụ thể hơn cần lưu ý 4 nguyên tắc này như sau:

- Về mặt thời gian: đại biểu đến dự tiếp xúc cử tri đúng giờ và tốt nhất là

nên đến sớm hơn để chuyện trò, trao đổi với cử tri nhằm xây dựng mối quan hệ thân thiện, gần gũi với cử tri, đồng thời hiểu thêm tình hình của địa phương, nhất là những vấn đề nóng nhưng mới xảy ra.

Trong quá trình tiếp xúc cử tri, đại biểu tránh phát biểu/nói quá dài làm mất

thời gian của buổi tiếp xúc, cử tri không còn thời gian phát biểu. Tránh độc thoại mà nên đặt câu hỏi cho cử tri về những nội dung mình chuẩn bị nói để biết được cử tri nắm bắt vấn đề mình nói đến đâu? Liệu vấn đề đại biểu nói cử tri có quan tâm không? Cử tri đã hiểu vấn đề mà đại biểu sắp nói đến đâu?

Việc đặt câu hỏi trong quá trình trình bày vấn đề cho cử tri nghe vừa thu

hút cử tri nghe chăm chú và nắm bắt được sự mong đợi của người nghe, từ đó

đại biểu có cách trình bày trình trọng tâm, trọng điểm. Mặt khác, đại biểu chuẩn bị thời gian để có thời gian nghe cử tri nói, tránh trường hợp vừa tiếp xúc cử tri nhưng đồng thời cũng xếp lịch cho công việc khác nên không có đủ thời gian nghe và nói, giải trình đầy đủ, cặn kẽ mọi vấn đề cho cử tri nghe.

Việc kết thúc buổi tiếp xúc có đúng giờ hay kéo dài thời gian còn tùy thuộc

vào tình hình thực tiễn của buổi tiếp xúc cử tri, nhưng nhìn chung nên kết thúc buổi tiếp xúc cử tri đúng giờ đã quy định, trường hợp cử tri bức xúc muốn trao đổi thêm thì đại biểu có thể kéo dài thời gian hơn nhưng cũng không nên quá dài làm cho cử tri mệt mỏi.

- Về trang phục

160

Trang phục gọn gàng, lịch sự thể hiện sự tôn trọng cử tri. Đại biểu chú ý tới trang phục nghiêm túc, lịch sự, một mặt thể thể hiện sự tôn trọng, mặt khác

giữ hình ảnh của mình trước cử tri. Hơn thế nữa, trang phục cũng cần phù hợp với cử tri, nếu trang phục quá cầu kỳ, quá sang trọng khi tiếp xúc cử tri ở địa phương có đời sống kinh tế khó khăn rất có thể tạo nên khoảng cách giữa đại biểu và cử tri.

Vì vậy, đại biểu nên lựa chọn trang phục phù hợp với từng nhóm đối tượng,

với cử tri nơi địa bàn mình tiếp xúc. Chẳng hạn, tiếp xúc với người lao động, người dân ở nông thôn thì không nên mặc diêm dúa quá, với đại biểu nữ không nên dùng son môi, kẻ mắt quá đậm...; tiếp xúc với cử tri ở thành thị, cử tri trí thức thì nên sử dụng trang phục công sở. Với đại biểu nữ, trang phục kín đáo nhưng vẫn cần thể hiện vẻ đẹp người phụ nữ.

- Về tác phong, thái độ của người đại biểu

Đại biểu nên thể hiện tác phong nhanh nhẹn, không được đến muộn để cử

tri phải chờ đại biểu. Cách đi lại, nói năng đĩnh đạc, đàng hoàng, cử chỉ thân thiện từ việc chào hỏi, bắt tay, cho đến việc nghe cử tri nói và nói cho cử tri nghe với thái độ cầu thị, tôn trọng, ánh mắt, điệu bộ, phải thân thiện, luôn giữ thần thái vui vẻ, đặc biệt là nét mặt, giọng nói với âm lượng và ngữ điệu phù hợp, luôn đón nhận mọi ý kiến từ cử tri và đồng thời thể hiện luôn sẵn sàng hợp tác giải thích cho cử tri hiểu. Nội dung trao đổi lại với cử tri có trọng tâm, trọng điểm, thể hiện sự am hiểu cả về mặt pháp lý và cả về tri thức thực tiễn.

Đại biểu thân thiện, cởi mở với cử tri được thể hiện từ cách lựa chọn từ

ngữ, âm lượng, giọng điệu; cách cư xử không quá hạ thấp vai trò người đại biểu

đại diện cho dân nhưng cũng không quan cách, xa rời dân. Đại biểu thể hiện sự tập trung vào cử tri khi cử tri phát biểu bằng ngôn ngữ, bằng cử chỉ, hành động (gật đầu, ánh mắt chăm chú, ghi chép, tư thế ngồi...). Việc thể hiện sự chú ý lắng nghe rất quan trọng vì tạo mối liên hệ thân thiết giữa đại biểu và cử tri, khuyến khích được cử tri phát biểu, đồng thời không tạo ra cảm giác cử tri bị coi thường dễ dẫn tới phản ứng tiêu cực của cử tri. Việc ghi chép cũng rất cần thiết, giúp đại

biểu có tư liệu khi phát biểu tại kỳ họp HĐND, trả lời ngay tại cuộc họp cử tri

161

đầy đủ nội dung cử tri phản ánh; tổng hợp ý kiến cử tri để phản ánh tới cơ quan, tổ chức hữu quan.

Đại biểu lưu ý tới một số hành động KHÔNG: Mím môi, nhắm mắt, chỉ

trỏ, đút tay túi quần, khoanh tay trước ngực; điện thoại (nghe điện thoại, nhắn tin, đọc báo, vào facebook trên điện thoại); nói đều đều dễ làm người nghe không tập trung, nói quá nhanh hay quá chậm; chỉ nhìn giấy đọc; hướng ánh mắt tới một cá nhân cụ thể hoặc nhìn trần nhà, nhìn qua cửa sổ không quan sát khán phòng, không nhìn bao quát cử tri để kiểm soát được cử tri có còn muốn nghe mình nói nữa hay không.

- Về cách ứng xử với cư tri

Đại biểu nên có ứng xử thông minh, biết giải tỏa bức xúc của cử tri, làm giảm nhiệt của cuộc tiếp xúc cử tri, biết trả lời khéo léo, tránh câu hỏi trực diện. Hầu hết các cuộc tiếp xúc, cử tri nêu khó khăn ở địa phương mình, đề nghị chính quyền đầu tư nhiều hơn, vì vậy, đại biểu lưu ý, việc của cấp nào thì đề nghị đại diện chính quyền cấp đó trả lời; tiếp thu, ghi nhận để kiến nghị các cơ quan thực hiện, điều gì khó có thể đáp ứng thì cần trình bày để cử tri hiểu; việc gì làm được thì mới hứa/cam kết.

Đại biểu cân nhắc khi hứa trước cử tri, cái gì làm được thì hứa, và đã hứa là

phải bằng mọi giá thực hiện. Biết cách tránh trả lời trực diện những câu hỏi ít mang tính xây dựng. Có những câu hỏi, nếu đại biểu trả lời trực diện dù cách này hay cách khác đều ít mang lại hiệu quả, có tác dụng tiêu cực, do vậy, cần có cách trả lời thông minh sao cho người nghe vẫn thấy hài lòng. Việc gì đại biểu biết thì trả lời, nếu không biết thì ghi nhận và hẹn sẽ trả lời sau; việc gì của địa phương thì yêu cầu lãnh đạo địa phương trình bày, trả lời cử tri.

Đại biểu nên thực hiện tốt kỹ năng thuyết trình và thuyết phục trong hoạt động tiếp xúc cử tri.

Thuyết trình, thuyết phục có vai trò quan trọng đối với đại biểu HĐND các

cấp, cấp huyện và xã cũng không là ngoại lệ. Đại biểu tiếp xúc cử tri nếu có khả năng thuyết trình, thuyết phục tốt sẽ là lợi thế cho đại biểu. Thuyết trình, thuyết

phục tốt sẽ giúp đại biểu vận động, tuyên truyền làm cho người dân nghe, biết,

162

hiểu, tin tưởng và ủng hộ các hoạt động của cơ quan chính quyền địa phương. Thuyết trình, thuyết phục tốt tác động đến người người dân và giúp họ chấp hành pháp luật đúng, tuân thủ thực hiện mọi chủ trương, chính sách của nhà nước và cũng có thể là để giải trình, hoà giải sự bất đồng, mâu thuẫn giữa cử tri, người dân với cơ quan nhà nước, phải làm sao để thống nhất về quan điểm, lập trường trong việc giải quyết tâm tư, nguyện vọng của người dân hoặc những vấn đề mà người dân khiếu nại, khiếu kiện. Trong trường hợp này người đại biểu có đạt được mục đích hay không phụ thuộc vào khả năng thuyết trình, thuyết phục của mình.

Lắng nghe dân nói một cách thấu hiểu, nghe chăm chú của đại biểu đã phần

nào có tính thuyết phục người dân rồi nhưng vẫn chưa đủ mà cần phải có tính thuyết phục bằng cách: (i) Mở đầu nói cho dân nghe cần có sự thu hút bằng cách đề cập vấn đề liên quan để gợi lên mối quan tâm với người nghe nhưng nói ngắn

gọn, rõ nghĩa. (ii) nội dung trình bày các ý then chốt, chỉ nên nêu từ 3 - 4 ý chính; trình bày có chứng cứ, lập luận rõ ràng, có số liệu cụ thể để chứng minh. Nên trình bày rõ ràng từng ý và không nêu quá nhiều ý để người nghe dễ bị nhầm lẫn hoặc thiếu tập trung. (iii) Kết thúc ấn tượng, tóm tắt nhắc lại ý chính,

nếu có thể giải trình làm rõ vấn đề luôn hoặc cũng có thể để lại phần kết có tính mở, tiếp tục nghiên cứu. (iv) Có sự thuyết phục tức là đưa ra sự kiện, tình tiết, phân tích, giải thích làm cho cử tri thấy đúng, thấy hay mà tin theo, làm theo.

Các yếu tố giúp thuyết phục thành công như: uy tín; phẩm chất, phong thái,

thiện chí, hình ảnh, trang phục. Thuyết phục người khác nghe, tin tưởng, ủng hộ và làm theo là không hề đơn giản, bởi thông thường, khi một người đã có ý kiến về một vấn đề nào đó thì cũng có niềm tin nhất định vào ý kiến của mình và không muốn tiếp thu ý kiến người khác. Hơn nữa không phải đại biểu nào cũng biết cách thuyết phục.

Để thuyết phục có hiệu quả thì chú ý một số điểm sau:

- Tìm hiểu đối tượng/cử tri và vấn đề cần thuyết phục; biết rõ ý kiến của cử

tri về vấn đề cần giải quyết; thái độ chân thành; chú ý đến thái độ của cử tri. Trình bày cho cử tri nghe cần phải tác động đồng thời đến cả nhận thức, tình

163

cảm và ý chí của cử tri. Nhận thức là điều kiện quan trọng để con người đi đến một quyết định, một việc làm nào đó.

- Một số kỹ thuật thuyết phục: Bắt đầu bằng sự đồng ý, tìm điểm chung

giữa đại biểu với cử tri nhằm xây dựng môi trường tích cực và giảm khả năng không đồng ý. Không hứa điều mình không làm được. Tự nhận lỗi trước.

c. Hoạt động sau khi tiếp xúc cử tri

Sau khi tiếp xúc cử tri, đại biểu cần thực hiện một số các hoạt động tiếp theo đó là:

(i) Tổng hợp kiến nghị của cử tri

Ý kiến, kiến nghị của cử tri ở địa phương phần lớn mang tính đơn lẻ, hoặc

vụ việc, vì vậy, khi tiếp xúc ở nhiều điểm trên địa bàn thì phải tổng hợp các ý kiến đơn lẻ để đi tới cái tổng thể, khái quát. Tuy nhiên, cũng có thể có trường hợp chỉ có một ý kiến đơn lẻ nhưng lại quan trọng thì nắm bắt và phản ánh kịp thời tới cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giải quyết.

(ii) Đại biểu phải đưa được tiếng nói của cử tri tới diễn đàn HĐND, đưa được ý kiến cử tri vào trong nghị quyết của HĐND.

Nếu đại biểu chỉ dừng ở việc tiếp xúc với cử tri thì chưa thực sự hoàn thành

nhiệm vụ của người đại biểu mà qua cuộc tiếp xúc cử tri, đại biểu phải đưa được tiếng nói của cử tri tới diễn đàn HĐND, đưa được ý kiến cử tri vào trong nghị quyết của HĐND. Đại biểu phải thực sự quan tâm tới đời sống nhân dân, tới mong muốn của cử tri, phải trăn trở với đời sống của nhân dân, từ đó tìm ra biện pháp, giải pháp giúp đỡ cử tri. Đại biểu phải theo đuổi kiến nghị của mình đến cùng để các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm phải giải quyết.

d. Nhận diện một số hạn chế trong hoạt động tiếp xúc cử tri và cách khắc phục hạn chế

- Một số hạn chế trong hoạt động tiếp xúc cử tri cần lưu ý:

+ Tại một số địa phương, số điểm tiếp xúc còn ít, mỗi đợt tiếp xúc cử tri đại biểu chỉ đi đến được một hai điểm của xã, thị trấn nơi ứng cử (ở trụ sở UBND hoặc một điểm thôn) chưa tiếp xúc được hết cử tri của các địa bàn khác nhau nên đại biểu HĐND không thể nắm bắt, thu thập hết ý kiến, nguyện vọng của

164

nhân dân. Các cuộc tiếp xúc cử tri thường chỉ được tổ chức trước và sau kỳ họp, tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, theo lĩnh vực còn hạn chế.

+ Hệ thống chính sách, pháp luật của nhà nước có sự thay đổi, điều chỉnh

nhưng đại biểu chưa cập nhật kịp thời, vì vậy khi tuyên truyền, phổ biến cho cử tri nghe những nội dung văn bản pháp luật đã hết hiệu lực nên không tạo được sự tin tưởng của cử tri. Một số ít đại biểu còn chưa nắm vững pháp luật, các chính sách của Nhà nước để giải thích, giải đáp cho cử tri.

+ Một số đại biểu do thu thập thông tin tại địa bàn mình ứng cử chưa đầy

đủ nên nhiều thông tin cử tri thắc mắc nêu ra trong buổi tiếp xúc mà đại biểu chưa nắm được. Kỹ năng, nghiệp vụ tiếp xúc cử tri của một số đại biểu HĐND

còn hạn chế.

+ Tại một số địa phương cử tri đến ít hoặc đến muộn hoặc đến nhưng chỉ

nghe được khoảng 30 phút, một tiếng rồi ra về, vì vậy, khi đại biểu trả lời giải thích không nghe nên lần sau tiếp tục tham dự và nói tiếp những điều đã nói ở buổi tiếp xúc lần trước. Thậm chí, trong nhiều buổi tiếp xúc cử tri tại một số địa bàn dân cư, nhiều cử tri đến tham dự buổi tiếp xúc nhưng khi không nhìn thấy có mặt đại biểu có vị trí là lãnh đạo xã, quận/huyện trong buổi tiếp xúc nên cử tri của ngồi nghe khoảng 15 - 20 phút, sau đó ra về luôn, vì thế nhiều buổi tiếp xúc, đầu buổi có khá nhiều cử tri tham dự nhưng cuối buổi thưa dần.

+ Cử tri chủ yếu là những người lớn tuổi ở độ tuổi 65 trở lên.

+ Nhiều cử tri có định kiến cá nhân, đến chỉ để nói những điều họ bức xúc, tham gia đầy đủ buổi tiếp xúc cử tri, không ở lại nghe đại biểu nói và giải trình về những vấn đề mà chủ trương, chính sách của nhà nước đã thay đổi.

+ Có những cử tri, có một vấn đề nhưng nói đi nói lại nhiều lần. Chẳng

hạn, nội dung liên quan đến vấn đề đền bù đất xây dựng các công trình công cộng đã được nhà nước giải quyết rồi nhưng do cảm thấy không thoả đáng nên kỳ tiếp xúc nào cũng nói đi nói lại.

+ Đại biểu chưa có sự tổng hợp, phân loại ý kiến, kiến nghị của người dân để gửi đúng địa chỉ cần giải quyết.

- Cách khắc phục hạn chế nêu trênt

165

+ Công tác tổ chức, chuẩn bị cần thực hiện tốt hơn, cụ thể, trước khi tiếp xúc cử tri, Thường trực HĐND phối hợp chặt chẽ với Ban Thường trực Ủy ban

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và lãnh đạo UBND cùng cấp cần phối hợp xây dựng kế hoạch tiếp xúc cử tri, đồng thời thông báo lịch tiếp xúc cử tri trên các phương tiện thông tin đại chúng để cử tri bố trí thời gian và tham dự. Kế hoạch tiếp xúc cử tri phải cụ thể chi tiết, để có thời gian chuẩn bị chu đáo. Khi xây dựng kế hoạch cần căn cứ vào nội dung từng kỳ họp để lựa chọn hình thức, địa điểm và thành phần cử tri tham dự hội nghị cho phù hợp và hiệu quả. Đa dạng hoá các hình thức tiếp xúc cử tri, có thể tổ chức tiếp xúc với tất cả cử tri hoặc chỉ tiếp

xúc cử tri theo lĩnh vực, ngành nghề mà HĐND dự kiến sẽ thảo luận, quyết định.

Đối với các huyện, xã miền núi, địa hình phức tạp nên tổ chức tiếp xúc cử tri theo từng bản, tổ dân phố tạo điều kiện để cử tri tham gia đông đủ.

+ Tăng số điểm tiếp xúc cử tri, mỗi điểm tiếp xúc nên có từ hai đến ba đại

biểu; có thể kết hợp để đại biểu HĐND cấp tỉnh/cấp huyện/cấp xã cùng tiếp xúc cử tri để tổng hợp, phân loại ý kiến và xử lý. Đối với địa bàn có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, việc tổ chức tiếp xúc cử tri gặp trở ngại do cử tri chưa thông thạo tiếng phổ thông nên khó khăn trong việc diễn đạt tâm tư, nguyện vọng của mình. Những trường hợp như này, đại biểu phải thường xuyên

xuống tận các bản, tổ dân phố, kết hợp với công tác chuyên môn để có thêm nhiều cơ hội tìm hiểu, tổng hợp đầy đủ tình hình thực tế ở cơ sở.

+ Sắp xếp thời gian tổ chức tiếp xúc cử tri phù hợp để cử tri có thể tham gia

được, tránh chỉ có những người không trong độ tuổi lao động tham gia.

+ Các cuộc tiếp xúc cử tri yêu cầu đại biểu có tinh thần trách nhiệm cao.

Đại biểu không chỉ tham gia đủ các cuộc tiếp xúc với cử tri mà đại biểu còn phải định hướng, gợi mở, tạo điều kiện cho cử tri phát biểu; ý kiến, kiến nghị của cử tri phải được giải thích rõ ràng. Không chỉ "ghi nhận và chuyển kiến nghị tới các cơ quan hữu quan, đại biểu phải giám sát, đôn đốc cho đến khi vấn đề được giải quyết thỏa đáng để trả lời cử tri trong những cuộc tiếp xúc sau; vấn đề nào đòi hỏi thời gian hoặc chưa có điều kiện giải quyết, cần giải thích rõ, không từ chối, né tránh hoặc hứa hẹn. Đây là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng,

166

hiệu quả hoạt động tiếp xúc cử tri, đòi hỏi đại biểu HĐND trước khi tiếp xúc cử tri cần nắm chắc về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, nhất là các vấn đề bức xúc của địa phương tại nơi tiếp xúc cử tri và chuẩn bị các tình huống giải đáp

thắc mắc của cử tri hoặc giao cho các cơ quan có trách nhiệm giải quyết, trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri.

+ Đại biểu nên thường xuyên cập nhật chủ trương, chính sách pháp luật

mới, đặc biệt là hệ thống văn bản pháp lật liên quan đến đời sống của người dân trên địa bàn mình ứng cử, mình tiếp xúc cử tri.

+ Phân loại và chuyển ý kiến, kiến nghị đúng địa chỉ: khi xây dựng báo cáo

tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri phải quan tâm đến những vấn đề bức xúc, những vấn đề đã kiến nghị nhiều lần nhưng chưa được giải quyết, đồng thời phải tuân thủ các yêu cầu: đầy đủ, chính xác để chuyển ý kiến, kiến nghị tới đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Việc phân loại, chuyển ý kiến, kiến nghị tới đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết sẽ giúp cho việc giải quyết ý kiến, kiến nghị nhanh hơn, chính xác hơn, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân đối với đại biểu HĐND.

II. Kỹ năng tiếp công dân của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện,

cấp xã

1. Mục đích, nội dung tiếp công dân

a. Mục đích tiếp công dân

Đại biểu HĐND tiếp công dân nhằm thu thập ý kiến, nguyện vọng, kiến

nghị của công dân; giải thích, tuyên truyền chính sách của Đảng, pháp luật của

Nhà nước cho công dân; hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và nhận đơn thư của công dân để chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật. Tiếp công dân bao gồm tiếp công dân thường xuyên, tiếp công dân định kỳ và tiếp công dân đột xuất.

Giữa tiếp xúc cử tri và tiếp công dân có những điểm giống và khác nhau.

Tiếp xúc cử tri và tiếp công dân đều nhằm thu thập ý kiến, nguyện vọng,

kiến nghị của công dân, nhưng cách thức tổ chức khác nhau, mục đích khác

167

nhau. Nếu như tiếp xúc cử tri là đại biểu tìm đến dân (xuống đến tận địa bàn, mời cử tri đến dự) thì tiếp công dân là người dân tìm đến đại biểu (đại biểu có địa điểm tiếp công dân để những người dân có nhu cầu tìm gặp). Tiếp xúc cử tri

là thu thập ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri chủ yếu về nội dung, chương trình sẽ thông qua tại kỳ họp HĐND (nhưng thực tế thì cử tri phát biểu cả những vấn đề không liên quan đến kỳ họp, những vấn đề dân sinh ở địa phương), tiếp công dân là lắng nghe mọi ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của người dân.

Nội dung phổ biến của tiếp công dân là hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực

hiện quyền khiếu nại, tố cáo và nhận đơn thư của công dân để chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tiếp công dân là vấn đề được luật và các văn bản quy định cụ thể và chặt

chẽ, nhằm thể hiện vai trò, trách nhiệm của người đại biểu dân cử, khi người dân có những vấn đề liên quan đến chính sách, pháp luật và có những yêu cầu, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh với các cơ quan công quyền.

Có thể nói, tiếp công dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng của đại

biểu HĐND, là giải pháp thiết thực nhằm tăng cường mối quan hệ, củng cố niềm

tin của nhân dân vào đại biểu của mình, đồng thời còn là cầu nối đặc biệt quan trọng giữa đại biểu HĐND với công dân, góp phần xây dựng và không ngừng nâng cao vị thế, vai trò và trách nhiệm của HĐND trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương và là phương thức hữu hiệu để công dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua việc tham gia đóng góp ý kiến vào công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Hoạt động tiếp công dân của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã có ý ngĩa quan trọng:

Thứ nhất, tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến cử tri

Hoạt động tiếp công dân của đại biểu HĐND là cả một quá trình hoạt động

thể hiện sự quan tâm của đại biểu với cử tri, đồng thời thể hiện sự dân chủ của các cấp chính quyền địa phương theo phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm,

168

dân kiểm tra" của một Nhà nước "của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân". Thông qua hoạt động tiếp công dân, đại biểu có cơ hội nghe dân nói và nói cho dân nghe, có cơ hội trả lời, giải thích các vấn đề liên quan đến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của địa phương mà có thể người dân chưa hiểu rõ hoặc hiểu chưa chính xác. Vì vậy, thông qua hoạt động tiếp công dân để có thể nghe được tâm tư, nguyện vọng của người dân và đồng thời tuyên truyền, hướng dẫn cho người dân về pháp luật và về những lĩnh vực mà người dân đang còn bức xúc để người dân hiểu và ủng hộ cơ quan chính quyền địa phương thực hiện tốt hơn các chủ trương, chính sách đã đặt ra.

Thứ hai, nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của người dân

Hoạt động tiếp công dân giúp cho đại biểu HĐND nắm được tâm tư,

nguyện vọng của nhân dân về vấn đề xã hội cần được giải quyết, từ đó kịp thời điều chỉnh những hoạt động cần thiết hoặc có thể đề xuất kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ sung, sửa đổi hoặc hủy bỏ các nội dung không còn phù hợp trong các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đây là biểu hiện cụ thể của quan điểm "dân là gốc" và phát huy tính dân

chủ của nhân dân và của người lao động, luôn lắng nghe người dân địa phương mình để từ đó phát huy được sức mạnh của người dân, nâng cao hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND cấp huyện, xã.

Thứ ba, phát huy trí tuệ tập thể của người dân

Làm tốt hoạt động tiếp công dân một mặt góp phần khơi dậy tiềm năng,

tranh thủ trí tuệ của nhân dân, huy động được sự tham gia rộng rãi của nhân dân vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội; đảm bảo việc thực hiện quyền khiếu nại,

tố cáo của công dân, quyền giám sát của nhân dân đối với cán bộ, công chức nhà nước, góp phần xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh. Mặt khác, thông qua tiếp công dân giúp đại biểu HĐND có điều kiện kiểm tra, đánh giá lại cơ chế chính sách, từ đó có những điều chỉnh thích hợp, kịp thời nhằm phục vụ nhân dân ngày một tốt hơn. Hơn thế nữa, làm tốt hoạt động tiếp công dân sẽ hạn

chế việc khiếu nại, tố cáo, xây dựng được uy tín của đại biểu đối với dân.

Thứ tư, duy trì mối quan hệ tốt đẹp giữa đại biểu HĐND với người dân

169

Thực hiện tốt hoạt động tiếp công dân ngoài những vai trò nêu trên, nó còn giúp cho đại biểu HĐND cấp huyện, xã duy trì mối quan hệ tốt với người dân. Bởi khi đại biểu HĐND lắng nghe người dân nói, từ đó đại biểu mới có thể trao đổi, giải thích để người dân hiểu thấu đáo mọi hoạt động của nhà nước, của địa phương, để người dân có thể cảm thông, chia sẻ, tin tưởng, đồng cảm với đại biểu HĐND. Như vậy, mới có thể giải quyết tốt những tâm tư, nguyện vọng của người dân từ đó duy trì được mối quan hệ tốt đẹp với người dân.

b. Nội dung tiếp công dân

Nội dung tiếp công dân của đại biểu HĐND gồm:

- Thu thập ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị, phản ánh của công dân;

- Giải thích, tuyên truyền chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tới

công dân;

- Tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân;

- Hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo. Đại biểu

hướng dẫn công dân gửi đơn đến đúng cơ quan có quyền giải quyết, giải thích cho công dân hiểu nội dung khiếu nại, tố cáo của họ xem có đúng không;

- Xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo

Nhìn chung, đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã không có quyền giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân vì đại biểu không có trách nhiệm và quyền hạn làm việc này, trừ một số đại biểu đồng thời là lãnh đạo UBND (họ nhận đơn, thư và giải quyết không phải với vai trò đại biểu mà là vai trò lãnh đạo chính quyền). Đại biểu chỉ có quyền xử lý đơn, thư bằng hình thức chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

c. Đối tượng tiếp công dân

Đối tượng đại biểu tiếp thường là những công dân cho rằng mình bị xâm phạm về quyền lợi. Nguyên nhân là do các cơ quan nhà nước trong thực thi công

vụ đã xâm phạm quyền của công dân, các cơ quan tố tụng (Công an, Tòa án, Viện kiểm sát, Thi hành án) đã vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng tới quyền của

công dân. Chính vì vậy, đặc điểm của công dân tới các buổi tiếp công dân là thường là chứa đựng tâm trạng bức xúc. Nhiều người dân khiếu kiện dài ngày,

170

khiếu kiện nhiều lần, khiếu kiện nhiều cấp mà chưa được giải quyết theo đúng mong muốn của họ (có mong muốn là đúng luật nhưng có mong muốn không đúng luật, không hợp lý) nên dễ có tâm lý tìm tới người đại biểu trút giận.

d. Địa điểm tiếp công dân

Theo quy định, đối với đại biểu HĐND cấp tỉnh và cấp huyện, việc tiếp công dân ở 2 địa điểm gồm: trụ sở tiếp công dân do Thường trực HĐND, UBND cấp tỉnh, cấp huyện bố trí. Các Tổ đại biểu có thể tổ chức tiếp công dân, đại biểu tự mình tiếp công dân, đối với đại biểu cấp tỉnh thì tiếp ở nơi tiếp công dân do Thường trực HĐND cấp huyện nơi đại biểu ứng cử bố trí; đối với đại biểu cấp huyện thì do Thường trực HĐND cấp xã nơi đại biểu ứng cử bố trí. Đại biểu

HĐND cấp xã tiếp công dân ở tại trụ sở UBND cấp xã. Nhưng do là đại biểu

của dân, đại biểu không chỉ tiếp công dân ở trụ sở, cơ quan mà có thể tiếp công dân ở những nơi khác phù hợp.

Lịch tiếp công dân phải được niêm yết công khai tại nơi tiếp công dân,

đồng thời công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương; bố trí nơi tiếp công dân để đại biểu HĐND tiếp công dân; đề nghị đại diện các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tại địa phương cùng tham dự tiếp công dân để tiếp nhận, xử lý những vấn đề liên quan khi cần thiết.

2. Quy trình tiếp công dân

a. Chuẩn bị cho buổi tiếp

Thứ nhất, để buổi tiếp công dân được diễn ra thuận lợi, công tác chuẩn bị phải được chu đáo. Công tác này bao gồm việc chuẩn bị tốt tâm lý cho bản thân đại biểu HĐND. Chuẩn bị tâm lý tốt bởi đối tượng công dân mà đại biểu tiếp có thể là những người có bức xúc, tâm tư, có thể có người dân đã khiếu kiện, khiếu nại các cơ quan chính quyền mà chưa được giải quyết theo mong muốn của họ nên dễ có tâm lý tìm tới người đại biểu để trao đổi, nhưng đồng thời có thể họ nói gay gắt, thậm chí "trút giận, sử dụng ngôn từ không lịch sự". Chính vì vậy, đại biểu chuẩn bị tâm lý tốt để có thái độ ứng xử đúng mực, lịch sự, tạo niềm tin để công dân trình bày vấn đề mà không gây bức xức, căng thẳng.

171

Thứ hai, sắp xếp, chuẩn bị phòng tiếp dân và bố trí các trang thiết bị cần thiết tại phòng tiếp dân. Tuy nhiên, tuỳ theo điều kiện và khả năng của địa phương mà lựa chọn địa điểm tiếp công dân sao cho phù hợp, đặc biệt là đối với hoạt động tiếp công dân của đại biểu HĐND cấp xã không nhất thiết phải có phòng chờ riêng cho người dân nhưng nơi tiếp công dân cần có bàn, ghế, chỗ ngồi khang trang, nhằm thể hiện sự tôn trọng, lịch sự với người dân.

Thứ ba, người đại biểu thu thập thông tin về người dân, đối tượng mình

tiếp về tính cách, trình độ; về nội dung mà người dân đang bức xúc, tìm hiểu

xem vấn đề mà người dân khiếu nại nhiều cấp đến thời điểm này đã giải quyết đến đâu để có thể trao đổi, giải thích cho người dân rõ hơn về vấn đề này trên cơ sở pháp lý mà nhà nước quy định và cả những vấn đề thực tế đang diễn ra, tức có cả lập và luận rõ ràng khi trao đổi, giải thích cho người dân.

b. Thực hiện tiếp công dân

- Khi thực hiện tiếp công dân, đại biểu trước hết yêu cầu công dân nêu rõ họ tên, địa chỉ hoặc xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền (nếu có)

Đây là yêu cầu bắt buộc đối với người dân được quy định tại Luật Tiếp

công dân 2013, Luật quy định, người dân đến phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo phải mang theo giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền (nếu là người được ủy quyền), đơn phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, khiếu kiện và các tài liệu, chứng cứ chứng minh (nếu có).

- Tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của người dân

Khi người khiếu nại có đơn trình bày theo quy định tại của Luật Khiếu nại

thì người tiếp công dân cần xác định nội dung vụ việc, yêu cầu của người khiếu nại.

Trường hợp không có đơn khiếu nại thì đại biểu tiếp công dân hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại theo các nội dung quy định.

Đối với trường hợp người dân không biết viết đơn, đại biểu hướng dẫn người dân trình bày nội dung vụ việc cụ thể để đại biểu ghi lại thành văn bản và đề nghị công dân ký xác nhận hoặc điểm chỉ vào đơn. Đại biểu ghi chép đầy đủ, trung thực, chính xác nội dung khiếu nại do công dân trình bày; những nội dung

172

chưa rõ thì đề nghị người khiếu nại trình bày bổ sung sau đó đọc lại cho người khiếu nại nghe và người tiếp công dân, người khiếu nại cùng ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào biên bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định.

Sau khi kiểm tra, đối chiếu các giấy tờ cần thiết và căn cứ vào đơn khiếu

nại hoặc nội dung trình bày của người khiếu nại, những thông tin, tài liệu, chứng

cứ có liên quan mà người khiếu nại cung cấp, đại biểu tiếp công dân ghi thông tin vào sổ tiếp công dân.

Trường hợp trong đơn vừa có nội dung khiếu nại, vừa có nội dung tố cáo,

kiến nghị, phản ánh thì đại biểu tiếp công dân hướng dẫn người đến khiếu nại, tố

cáo, kiến nghị, phản ánh viết thành đơn riêng để khiếu nại, tố cáo, kiến nghị hoặc phản ánh với cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật.

Trường hợp khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền giải

quyết của đại biểu (tức đại biểu giữ vị trí lãnh đạo, quản lý đứng đầu cơ quan, tổ chức, có thẩm quyền giải quyết) thì người đại biểu tiếp công dân tiếp nhận, xem xét thụ lý để giải quyết và thông báo cho đại diện của những người khiếu nại, tố cáo về kết quả xử lý theo quy định của pháp luật; nếu vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết thì chuyển đơn hoặc hướng dẫn người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến cấp có thẩm quyền giải quyết.

- Xử lý khiếu nại

Trường hợp công dân trực tiếp đến trình bày khiếu nại mà khiếu nại đó thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND, đại biểu tiếp công dân hướng dẫn công dân viết thành đơn hoặc lập thành văn bản ghi lại nội dung khiếu nại công dân trình bày và yêu cầu người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ vào văn bản đó; vào sổ theo dõi khiếu nại; báo cáo người có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật;

- Xử lý tổ cáo, kiến nghị, phản ánh

Trường hợp công dân trực tiếp đến trình bày tố cáo, kiến nghị, phản ánh, đại tiếp công dân ghi chép nội dung tố cáo, kiến nghị, phản ánh; vào sổ tiếp công dân; đối với tố cáo, đề nghị người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ vào biên bản

173

ghi nội dung tố cáo; đối với kiến nghị, phản ánh, xét thấy cần thiết hoặc công dân yêu cầu thì đề nghị họ ký tên.

- Xử lý đơn thư có nội dung tố cáo khẩn cấp

Với đơn thư tố cáo có nội dung khẩn cấp, đại biểu tiếp nhận cần phải báo ngay với cấp có thẩm quyền đưa ra các biện pháp xử lý kịp thời, ngăn cản hậu quả xấu có thể xảy ra. Ví dụ, phát hiện tội phạm ẩn náu; phát hiện buôn bán, vận chuyển ma túy...

Đối với đơn thư khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết: Thông báo

và hướng dẫn bằng văn bản cho người khiếu nại biết cơ quan có thẩm quyền giải

quyết. Nếu người khiếu nại gửi kèm theo các giấy tờ, tài liệu và bản gốc thì cơ quan nhận được phải gửi trả lại cho người khiếu nại.

Đối với đơn thư tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết: chậm nhất

trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đơn hoặc bản ghi nhớ lời tố cáo và các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến nội dung tố cáo, đại biểu tiếp nhận đơn thư phải làm thủ tục chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Trường hợp đơn thư khiếu nại, tố cáo đã được giải quyết đúng chính sách,

pháp luật thì người tiếp công dân giải thích, hướng dẫn để người đến khiểu nại, tố cáo chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo và yêu cầu công dân chấm dứt việc khiếu nại, tố cáo.

c. Hoạt động sau khi tiếp công dân

- Chuyển đơn thư, kiến nghị và quản lý hồ sơ tiếp dân;

- Thông báo về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh;

Đại biểu HĐND thông báo việc tiếp nhận khiểu nại, tố cáo, kiến nghị, phản

ánh do cơ quan, đại biểu quy định Luật tiếp công dân chuyển đến trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được.

- Thông báo kết quả xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến người đã khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh

Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của

mình có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân và giám sát theo

174

quy định của pháp luật.

Trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết của cấp trên, của người

đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền thì đại biểu HĐND báo cáo với HĐND cùng cấp để thực hiện việc giám sát theo quy định của pháp luật.

3. Một số lưu ý trong quá trình tiếp công dân

Trong quá trình tiếp công dân, đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã nên lưu ý một số vấn đề sau:

- Cần có sự phối hợp giữa đại biểu HĐND với Ban tiếp công dân cấp tỉnh và cấp huyện

Phối hợp trong hoạt động tiếp công dân giữa đại biểu với Ban tiếp công dân

là rất cần thiết. Bởi hoạt động phối hợp giữa đại biểu cấp tỉnh và huyện phối hợp với Ban tiếp công dân cấp tỉnh và cấp huyện sẽ có những giúp cho đại biểu nắm bắt được tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân, đặc biệt là những trường hợp khiếu nại, tố cáo nhiều lần, đồng thời Ban tiếp công dân chỗ trợ trong hoạt động của đại biểu trong quá trình tiếp công dân và xử lý các vấn đề có thể phát sinh trong buổi tiếp công dân được tốt hơn. Sở dĩ như vậy vì cán bộ trong Ban tiếp ánh, kiến nghị. Hơn thế nữa, cán bộ làm việc tại Ban tiếp công dân có kỹ năng công dân là những người nắm rõ về tình hình cử tri đến khiếu nại, tố cáo, phản trong việc tiếp công dân và xử lý tình huống khi xảy ra tốt hơn bởi họ thường

xuyên phải tiếp dân nên họ hiểu sâu sắc hơn tâm lý của người dân, từ đó có cách ứng xử phù hợp.

- Đại biểu HĐND cũng cần có kỹ năng định hướng và điều hành/điều khiển cuộc tiếp công dân.

Trên thực tế, đối tượng người dân rất đa dạng với nhiều thành phần khác

nhau trong xã hội (công nhân, nông dân, tri thức, thương nhân...), một số người dân khi đến khiếu nại, khiếu kiện có sẵn tâm tư, bức xúc. Vì vậy, đại biểu HĐND là người chủ của buổi tiếp công dân, một mặt nên nhận diện rõ người được tiếp để trao đổi cho phù hợp, mặt khác cần biết định hướng và điều khiển cuộc tiếp công dân. Đại biểu chủ yếu là lắng nghe công dân trình bày nhưng có

175

sự định hướng để công dân trình bày đúng thực tế, nhưng đầy đủ thông tin dưới

góc độ pháp lý; thái độ đúng mực, hành vi cử chỉ phù hợp.

- Đại biểu cần có kỹ năng đọc nhanh văn bản

Trong buổi tiếp công dân, đại biểu có thể nhận được nhiều đơn, thư khiếu

nại, khiếu kiện,... để trả lời hoặc hướng dẫn cho người dân, đại biểu cần đọc

nhanh văn bản để nắm được thông tin. Đối với công dân đã chuẩn bị sẵn đơn,

đại biểu dành vài phút, xin phép công dân để đại biểu đọc nhanh, đọc lướt nắm

bắt nội dung chính mà công dân muốn khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị.

- Trong buổi tiếp công dân đại biểu cần áp dụng thành thạo nguyên tắc 4

chữ N, đó là: NGHE - NÓI - NHÌN - NHẬN.

Trong thực tiễn cuộc sống cũng nói chung và trong hoạt động tiếp công dân

nói riêng, việc sử dụng tốt nguyên tắc 4 chữ N sẽ giúp giao tiếp thành công, giải

quyết công việc đạt hiệu quả hơn. Câu hỏi vì sao đại biểu cần áp dụng nguyên

tắc chữ 4N này, liệu có đưa lại lợi ích gì cho hoạt động tiếp công dân không? Sử

dụng tốt nguyên tắc chữ 4N là thể hiện được sự tôn trọng công dân. Mục đích

của hoạt động tiếp công dân là nghe dân nói, nói cho dân nghe và cuối cùng là

giải quyết được mọi tâm tư, nguyện vọng của người dân làm cho dân nghe, dân

hiểu, dân chấp nhận, tin tưởng và làm theo, tạo uy tín cho cá nhân và tổ chức.

Trước hết đại biểu nên sử dụng nguyên tắc chữ N đầu tiên là NGHE, tức có

kỹ năng, nghệ thuật nghe tốt đã, biết nghe ở đây là nghe ai nói, nghe cái gì, nghe

như thế nào? Có người nói lịch sự, có người nói không lịch sự, có người nói hay

có người nói dở nhưng điều quan trọng đại biểu phải chú ý nghe đã. Bởi có nghe

thì mới hiểu được họ, hiểu được tâm tư, bức xúc của họ. Nghe, thể hiện với công

dân là đại biểu đang chú ý lắng nghe thông qua các biểu hiện trên khuôn mặt,

gật đầu (biểu lộ sự đồng tình với ý kiến nào đó của công dân), tư thế ngồi

nghiêm chỉnh, hơi cúi về phía người nói.

Nguyên tắc sử dụng chữ N thứ hai là NÓI, đại biểu luôn suy nghĩ Nói khi

nào, cái gì nên nói; câu ngạn ngữ của người Việt là "uốn lưỡi bảy lần trước khi

nói"; "lời nói gió bay nhưng cũng có câu đối lại "trăm năm bia đá cũng mòn,

ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ". Vì vậy, đại biểu nên biết sử dụng nguyên

176

tắc này, nói cái gì, cái gì phải nói, cái gì không nên nói; trong quá trình nói chú ý âm lượng vừa phải, không nói to cũng không nói nhỏ quá, ngôn từ lịch sự, thể

hiện rõ vị thế của đại biểu được pháp luật quy định và cử tri bầu ra. Nguyên tắc sử dụng chữ N thứ 3 là NHÌN. Đại biểu luôn chú ý đến cách mình nhìn người dân, nhìn người dân khi nghe họ nói để thể hiện sự đồng tình, tán thành, sự cảm thông với họ, động viên họ và nhìn khi mình nói để xem người dân có quan tâm đến những điều mình đang nói, đang giải thích với họ không? Nhìn, ánh mắt thể hiện được rất nhiều điều, vừa thể hiện sự chú ý lắng nghe của đại biểu (không lơ đãng, nhìn xung quanh; nên tập trung ánh mắt vào người nói), vừa thể hiện sự tôn trọng người dân.

Nguyên tắc sử dụng chữ N thứ 4 là NHẬN, ở đây là sự cảm nhận của đại

biểu với người dân xem những điều mình nói, trao đổi cảm nhận thế nào? Phù hợp, chưa phù hợp, có điều gì mình cảm nhận còn thiếu hay thừa hay chưa hợp lý không. Nhận cũng có thể là đại biểu thể hiện với người dân là mình đang nhận những gì người dân nói thông qua hành vi ghi chép, dù có thể là những ghi chép không cần thiết nhưng nếu trong quá trình tiếp xúc cử tri đại biểu không ghi chép sẽ làm cho cử tri thấy đại biểu không quan tâm.

- Tránh tâm lý đổi đầu mà cần chuyển sang đổi thoại.

Về khiếu nại, tố cáo, phản ánh của công dân thường là công dân bức xúc

với cơ quan công quyền, công dân hoàn toàn không có mâu thuẫn, bức xúc với đại biểu, công dân muốn dựa vào đại biểu để đạt được mong muốn, mục đích của mình, vì thế, ngay từ khi gặp đầu tiên, giữa công dân và đại biểu không có sự đối đầu mà là hợp tác. Nếu tạo ra tâm lý đối đầu giữa đại biểu và công dân thì buổi tiếp công dân không đạt yêu cầu.

- Có sự hướng dẫn người dân khi cần thiết

Trong trường hợp, người dân trình bày không rõ ràng, mạch lạc, không nói rõ được vấn đề mà họ đang muốn nói, người đại biểu còn phải có khả năng phán đoán sự việc, gợi mở, hướng dẫn công dân trình bày vào bản chất, nội dung trọng tâm của sự việc, tránh mất thời gian.

- Có khả năng làm giảm bức xúc của cử tri, hạ nhiệt cử tri

177

Cử tri có sẵn trong người nỗi niềm, bức xúc và họ mang tới gặp đại biểu, vì

vậy, đại biểu nên thể hiện sự chân thật, chân thành và cởi mở với người dân,

cùng trao đổi những nội dung thông tin mình nắm bắt chắc chắn; động viên, khích lệ, có thể nêu lên các biện pháp, kế hoạch hành động cụ thể để người dân lựa chọn. Cảm thông với công dân, đặt vị trí của mình về phía người dân, có như vậy người dân mới tin tưởng vào đại biểu HĐND.

Hài hước, dí dỏm cũng là một trong những nghệ thuật của giao tiếp. Đại

biểu HĐND cũng có thể rèn luyện để sử dụng trong những trường hợp cần thiết nhằm làm giảm được sự căng thẳng cho người dân mà tăng hiệu quả hơn cho hoạt động tiếp dân. Một số kinh nghiệm hạ nhiệt tức thời: khi công dân nói to,

sự việc căng thẳng, đại biểu tỏ thái độ nhẹ nhàng, mềm mỏng, mời công dân uống nước (để ngắt mạch của cử tri). Chuyển hướng câu chuyện, lái câu chuyện khỏi vấn đề bức xúc mà công dân đang trình bày. Nếu đại biểu ngắt lời cử tri sẽ gây tâm lý đối đầu giữa 2 bên, việc mời cử tri uống nước cũng là để cử tri dừng

lời tạo cơ hội để đại biểu được nói một cách hợp lý và chuyển hướng câu chuyện. Trong quá trình lắng nghe, đại biểu cần hỏi thêm để làm rõ vấn đề, khi

cử tri trình bày về gia cảnh khó khăn do bị giải phóng mặt bằng, đại biểu nên hỏi hỏi, đại biểu khéo léo hỏi dẫn dắt cử tri sang câu chuyện khác. Chẳng hạn, khi cử tri về gia đình, về những cuộc sống thường nhật mà cử tri đang sống và làm

việc, thể hiện sự quan tâm và cũng là để hiểu rõ hơn người dân, từ đó có sự cảm thông, chia sẻ với họ.

- Trong khi tiếp công dân, đại biểu cần nghe và tìm hiểu xem họ là đối tượng nào: là người khiếu nại hay tố cáo - khiếu nại lần đầu hay nhiều lần - là người có quyền và lợi ích trực tiếp bị xâm hại hay chỉ là người đại diện đến gửi đơn... để có cách tiếp cận nội dung, vấn đề khiếu nại, tố cáo phù hợp.

- Cử tri khi trình bày thường có xu hướng kể lễ dài dòng, nhiều thông tin

không còn phù hợp, thông tin không có trọng tâm, trọng điểm vào vấn đề mà cử tri đang bức xúc, nên đại biểu cần nắm bắt được thông tin chính mà cử tri trình bày, từ đó tìm hiểu, hỏi thêm những thông tin liên quan, hỏi để định hướng cử tri trình bày đúng vào trọng tâm vấn đề, tránh nói dài mà không có nội dung, nội

178

dung thông tin không có tính thuyết phục. Đại biểu phân tích, tổng hợp thông tin ngay trong quá trình nghe để nắm nội dung vấn đề mà cử tri muốn trình bày. Sử

dụng khả năng phán đoán để xác định tính trung thực trong sự việc trình bày, của người trình bày. Trong quá trình lắng nghe, đại biểu cũng cần sử dụng kỹ năng đọc lướt để biết được họ tên người khiếu nại, tố cáo; các dữ liệu về người khiếu nại, tố cáo; nội dung đơn về vấn đề gì.

- Văn hoá ứng xử của người đại biểu HĐND khi tiếp công dân

Trong tiếp công dân, đại biểu HĐND chú ý bảo đảm có văn hóa ứng xử phù hợp với công dân. Cụ thể, đại tiếp công dân cần có thái độ: công khai, tôn trọng, bình đẳng, phù hợp hoàn cảnh, tin cậy, cộng tác - hài hòa lợi ích, tôn trọng các quy luật tâm, sinh lý, thẩm mỹ hành vi.

Khi cần thiết, đại biểu HĐND từ chối tiếp công dân nếu đó là "Người trong

tình trạng say do dùng chất kích thích, người mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh

khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình (Điều 9, Luật Tiếp công dân 2013). Nhưng trên thực tế, gặp những trường hợp này đại biểu cần ứng xử khéo léo tránh bị người khác nhìn vào hiểu nhầm là không tiếp dân, không có trách nhiệm hoặc xảy ra những trường hợp "đáng tiếc" vì họ là những người đang trong tình trạng say rượu, say chất kích thích nên có thể không làm chủ được bản thân.

+ Ứng xử trong trường hợp nhiều người cùng khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung

Đây là vấn đề thực tiễn khá phổ biến và có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Tuỳ theo từng địa phương, từng lĩnh vực mà nội dung khiếu nai, khiếu kiện khác nhau, nhưng những nội dung phản ánh chủ yếu hiện nay là về lĩnh vực đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng, về y tế, về xây dựng, giáo dục. Do vậy, đại biểu tiếp công dân lưu ý nghiên cứu, tìm hiểu kỹ những vấn đề trên để khi tiếp dân đại biểu có đủ năng lực để khi tiếp dân, giải thích cho dân rõ hoặc đối với đại biểu có thẩm quyền giải quyết thì có thể hiểu và trực tiếp tiếp dân và giải quyết cho công dân.

179

Đại biểu tại địa bàn có nhiều người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tập trung có trách nhiệm hướng dẫn cho người dân hoặc có thể đề nghị người dân cử người đại diện cho mình và tiếp đại diện của những người khiếu nại, tố

cáo, kiến nghị, phản ánh để lắng nghe người đại diện trình bày về nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và các thông tin, tài liệu do họ cung cấp.

Trường hợp gặp cử tri có hành động vi phạm quy chế tiếp công dân, vi

phạm pháp luật thì phải báo ngay cho cơ quan chức năng để có biện pháp xử lý kịp thời.

Ngoài những điểm nêu trên, về phía đại biểu tiếp công dân phải tránh một

số điểm như:

- Quan liêu mệnh lệnh, hách dịch, cá nhân hoặc vì tình cảm riêng mà xa rời

chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;

- Phiền hà, sách nhiễu hoặc cản trở người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,

phản ánh;

- Thiếu trách nhiệm trong việc tiếp công dân; làm mất hoặc làm sai lệch

thông tin, tài liệu do người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cung cấp;

- Phân biệt đối xử trong khi tiếp công dân.

180

CÂU HỎI THẢO LUẬN5

1. Những khó khăn, bất cập trong hoạt động tiếp xúc cử tri và tiếp công

dân tại địa phương (nơi cá nhân dân đại biểu HĐND công tác). Nguyên nhân và giải pháp.

2. Bằng ví dụ thực tế, nêu sự khác biệt giữa tiếp xúc cử tri với tiếp công dân của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã.

3. Nêu quy trình tiếp xúc cử tri và tiếp công dân trong thực tế. Để buổi tiếp xúc cử tri thành công, đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã cần có những kỹ năng cần thiết nào? Liên hệ cá nhân đại biểu HĐND.

4. Kinh nghiệm của cá nhân đại biểu HĐND trong tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, xử lý các tình huống khi tiếp xức cử tri, tiếp công dân.

45 Giảng viên có thể đưa ra những câu hỏi/tình huống khác để thảo luận, trao đổi phù hợp với thực tế của địa phương, nhu cầu học viên và điều kiện lớp học.

181

TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO HỌC VIÊN

1. Luật Tiếp công dân năm 2013.

2. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

3. Luật Khiếu nại năm 2011.

4. Luật Tố cáo năm 2018.

5. Quy chế hoạt động của HĐND (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác).

Giảng viên cập nhật, giới thiệu thêm những tài liệu tham khảo khác cho học viên, phù hợp với điều kiệnt hực tế của địa phương và khả năng tìm kiếm tài liệu của học viên.

182

Chuyên đề 7

KỸ NĂNG CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN,

CẤP XÃ TRONG THAM GIA XÂY DỰNG, BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT

I. Khái quát về nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

1. Khái niệm, phân loại nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

Ban hành văn bản là một trong những hình thức hoạt động chủ yếu của các

cơ quan nhà nước để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, trong đó có các nghị quyết.

Theo các quy định hiện hành, nghị quyết (trong quản lý nhà nước) là một trong những hình thức văn bản củaQuốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân các cấp.4

Nghị quyết của HĐND được HĐND ban hành để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của HĐND. HĐND thảo luận và thông qua các loại nghị quyết sau:4

a. Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng,

an ninh 5 năm, hàng năm và 6 tháng. Đây là loại nghị quyết được ban hành trong các kỳ họp định kỳ của HĐND các cấp. Riêng với nghị quyết 5 năm, HĐND sẽ ban hành ngay trong kỳ họp thứ nhất của nhiệm kỳ HĐND (trường hợp chưa chuẩn bị kịp thì có thể thông qua vào kỳ họp thứ hai).

b. Nghị quyết cụ thể hóa các chính sách của cấp trên (trong trường hợp cần

thiết phải ban hành những văn bản để giải thích, hướng dẫn cho phù hợp với đặc

điểm của địa phương nhưng không được trái với quy định của cấp trên). Những nghị quyết loại này không phải kỳ họp HĐND nào cũng ban hành mà chỉ ban

47 Chẳng hạn, theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2020), Hội đồng nhân dân cấp huyện ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật, nghị quyết của Quốc hội giao hoặc để thực hiện việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới theo quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương; Hội đồng nhân dân cấp xã ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật, nghị quyết của Quốc hội giao.

8 Xem thêm trong Ban Công tác đại biểu - UBTV Quốc hội: Kiến thức và kỹ năng cơ bản dành cho đại biểu HĐND. Hà Nội, 2021, trang 90-93.

183

hành khi cần thiết. Thông thường, những nghị quyết loại này chỉ cần ban hành khi pháp luật quy định.+

c. Nghị quyết ban hành các chính sách riêng của địa phương: HĐND có

thẩm quyền ban hành các chính sách của địa phương để đề ra các mục tiêu, giải pháp và huy động các nguồn lực để đầu tư, phát triển các ngành, lĩnh vực cũng như để thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp theo quy định của pháp luật. Thông thường, những nghị quyết loại này thường gắn liền với sự chủ động về ngân sách địa phương nên chủ yếu do HĐND cấp tỉnh ban hành, HĐND cấp huyện và cấp xã thường không ban hành.

d. Nghị quyết về chương trình giám sát, thành lập đoàn giám sát của

HĐND; chương trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật; kế hoạch tổ chức

kỳ họp HĐND hàng năm,... của HĐND. Các loại nghị quyết này thường do Thường trực HĐND chuẩn bị và trình ra HĐND thông qua theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

e. Nghị quyết cá biệt về nhân sự của HĐND

Các loại nghị quyết này thường được ban hành trong kỳ họp thứ nhất của nhiệm kỳ để phê duyệt các chức danh chủ chốt của chính quyền thuộc thẩm quyền bầu và phê duyệt của HĐND và có thể có cả trong các kỳ họp khác khi có yêu cầu thay đổi bộ máy nhân sự chính quyền địa phương ở những vị trí do HĐND bầu và quyết định theo quy định của pháp luật, chẳng hạn cần phải bầu bổ sung, thay thế các ủy viên UBND là trưởng các phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện khi có người về hưu hay được điều chuyển công tác khác.

Thông thường, các nghị quyết này được chia thành 2 nhóm lớn: các nghị

quyết có quy phạm pháp luật (nghị quyết là văn bản quy phạm pháp luật) và các nghị quyết cá biệt. Để xác định nội dung nghị quyết cần được ban hành dưới hình thức nghị quyết có quy phạm pháp luật hay nghị quyết cá biệt, phải căn cứ vào Điều 3 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một

4 Chẳng hạn, Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 (Điều 30) quy định: Hội đồng nhân dân quyết định dự toán thu, chi ngân sách địa phương và HĐND cấp tỉnh quyết định việc phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách ở địa phương. Dựa vào đó, HĐND cấp tỉnh đều ban hành Nghị quyết quy định về phân cấp ngân sách này.

184

số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và khoản 1 Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. Theo đó, Nghị quyết do HĐND ban hành không phải là văn bản quy phạm pháp luật trong các trường hợp sau:

(1) Nghị quyết miễn nhiệm, bãi nhiệm đại biểu HĐND và các chức vụ

khác;

(2) Nghị quyết phê chuẩn kết quả bầu cử đại biểu HĐND và bầu các chức

vụ khác;

(3) Nghị quyết giải tán HĐND;

(4) Nghị quyết phê chuẩn cơ cấu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp

tỉnh, cấp huyện;

(5) Nghị quyết thành lập, sáp nhập, giải thể cơ quan chuyên môn thuộc

UBND; quyết định thành lập các ban, ban chỉ đạo, hội đồng, ủy ban để thực hiện nhiệm vụ trong một thời gian xác định;

(6) Nghị quyết tổng biên chế ở địa phương;

(7) Nghị quyết dự toán, quyết toán ngân sách địa phương;

(8) Nghị quyết về chương trình, đề án, dự án, kế hoạch;

(9) Các nghị quyết, quyết định khác không có nội dung quy định tại các

Điều 27, 28, 29 và 30 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

2. Thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã trong ban hành nghị quyết

Việc ban hành nghị quyết của HĐND cấp huyện, cấp xã phải phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND°.

Theo quy định tại Điều 26 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015

(sửa đổi, bổ sung năm 2019), HĐND cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp mình.

Về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp huyện, cấp xã, xem thêm trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) và chuyên đề 2 "Chính quyền địa phương và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã" trong Tài liệu này.

185

Để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình, HĐND cấp huyện, cấp

xã phải ra các văn bản, trong đó chủ yếu là nghị quyết và giám sát việc thực hiện

các nghị quyết này. Theo quy định tại Điều 30 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), HĐND cấp huyện và cấp xã ban hành nghị quyết để quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền, cụ thể:

(1) HĐND cấp huyện ban hành nghị quyết để quy định những vấn đề được

luật, nghị quyết của Quốc hội giao hoặc để thực hiện việc phân cấp cho chính

quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

(2) HĐND cấp xã ban hành nghị quyết để quy định những vấn đề được luật, nghị quyết của Quốc hội giao.

3. Trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

Như đã phân tích ở trên, nghị quyết của HĐND nói chung và HĐND cấp

huyện, cấp xã nói riêng gồm 2 loại là nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật và nghị quyết cá biệt không chứa quy phạm pháp luật. Hai loại nghị quyết này có trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành khác nhau.

a. Đối với nghị quyết chứa đựng quy phạm pháp luật

Trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành nghị quyết của HĐND cấp huyện,

cấp xã gồm 3 giai đoạn chủ yếu (mỗi giai đoạn có thể gồm nhiều bước khác nhau), cụ thể:

(i) Xây dựng, thông qua đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND cấp huyện, cấp xã;

(ii) Soạn thảo dự thảo và thẩm định dự thảo nghị quyết (đối với dự thảo do UBND trình);

(iii) Thẩm tra, trình, xem xét, thông qua nghị quyết.

Ba giai đoạn này có nhiều bước thực hiện, trong đó phải đảm bảo lấy ý kiến

của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, Phòng Tư pháp thẩm định (với nghị quyết của HĐND cấp huyện) và các ban của HĐND thẩm tra.

51 Xem Điều 30 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

186

b. Đối với nghị quyết cá biệt không chứa đựng quy phạm pháp luật

Hiện nay, đối với việc ban hành nghị quyết cá biệt, không chứa các quy

phạm pháp luật của HĐND, chưa có quy định pháp luật thống nhất, quy định cụ thể về trình tự, thủ tục ban hành.

Về nguyên tắc, việc ban hành nghị quyết cá biệt của Hội đồng nhân dân các

cấp thực hiện phải đảm bảo quy định tại khoản 4 Điều 6 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), trong đó quy định "Ban của HĐND là cơ quan của HĐND, có nhiệm vụ thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trước khi trình HĐND, giám sát, kiến nghị về những vấn đề thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND."

Đối với việc ban hành nghị quyết cá biệt của HĐND, và tùy theo nội dung nghị quyết, có thể có các bước:

(i) Các ban của HĐND, đại biểu HĐND, UBND hoặc các cơ quan khác đề xuất việc ban hành nghị quyết theo thẩm quyền;

(ii) Soạn thảo dự thảo nghị quyết;

(iii) Lấy ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan, người dân

(nếu cần thiết);

(iv) Họp, thông qua tập thể UBND trước khi trình (nếu có);

(v) Lấy ý kiến thẩm tra của các Ban của HĐND cùng cấp;

(vi) Hoàn chỉnh dự thảo, trình HĐND xem xét, thông qua.

4. Vai trò của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã trong việc xây dựng, ban hành nghị quyết

Ban hành nghị quyết là một trong những nhiệm vụ cơ bản của HĐND các

cấp. Mọi khâu của quy trình ban hành nghị quyết của HĐND đều cần có sự tham gia của đại biểu HĐND.

Sự tham gia của đại biểu HĐND vào việc ban hành nghị quyết của HĐND

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ là yếu tố quyết định tới việc thông qua nghị quyết mà còn giúp cho các nghị quyết này đi đúng định hướng, phản ánh

187

hết tâm tư, nguyện vọng cũng như mong muốn của cử tri thông qua người đại diện của mình là các đại biểu HĐND.

Trong quá trình xây dựng và ban hành nghị quyết của HĐND, các đại biểu

HĐND có thể tham gia vào các hoạt động sau đây:

- Tham gia vào quá trình xác định vấn đề cần phải được HĐND ban hành

nghị quyết và đưa vấn đề đó vào nghị trình giải quyết vấn đề của HĐND (thiết lập nghị trình ban hành nghị quyết);

- Tham gia quá trình thu thập và cung cấp thông tin phục vụ việc phân tích

vấn đề cần ra nghị quyết để giải quyết;

- Tham gia quá trình xây dựng nội dung của nghị quyết qua việc xem xét,

góp ý vào dự thảo nghị quyết do UBND hay cơ quan có thẩm quyền dự thảo;

- Tham gia quá trình trao đổi, thảo luận để chỉnh sửa, bổ sung các nội dung

của nghị quyết;

- Tham gia quá trình biểu quyết để thông qua nghị quyết.

Sau khi nghị quyết được ban hành, đại biểu HĐND còn có thể tham gia vào

quá trình giám sát việc thực hiện nghị quyết đó cũng như giám sát việc thực hiện kiến nghị giải quyết các vấn đề phát sinh từ việc thực hiện nghị quyết đó.

II. Một số kỹ năng của đại biểu Hội đồng nhân dân trong tham gia xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

1. Tham gia xác định mục tiêu của dự thảo nghị quyết

Tham gia thường được hiểu là góp phần hoạt động của mình vào một hoạt động chung nào đó. Sự tham gia của đại biểu HĐND là việc đại biểu HĐND can dự vào quá trình đề xuất cũng như xem xét, đánh giá dự thảo nghị quyết của HĐND. Đây có thể xem là một trong những nội dung quan trọng nhất trong hoạt động của đại biểu HĐND. Việc tham gia tích cực của đại biểu HĐND góp phần bảo đảm cho nội dung các nghị quyết của HĐND phản ánh được chính xác quyền lợi của cử tri - những người đã tín nhiệm bầu ra đại biểu HĐND và gửi gắm niềm tin của mình vào hoạt động của đại biểu. Sự tham gia của đại biểu HĐND vào việc ban hành nghị quyết của HĐND góp phần nâng cao chất lượng

188

của nghị quyết, giúp cho nghị quyết đi đúng hướng, giải quyết được các vấn đề diễn ra trên địa bàn.

Đại biểu HĐND có thể tham gia vào bất cứ giai đoạn nào trong quy trình

ban hành nghị quyết của HĐND, cụ thể họ có thể tham gia vào quá trình hình thành ý tưởng, thiết lập nên chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND hàng năm cũng như toàn khóa của hội đồng; tham gia vào quá trình xem xét, đánh giá nội dung và hình thức của dự thảo nghị quyết trước khi trình ra Hội đồng; tham gia vào quá trình thông qua nghị quyết của Hội đồng.

Sự tham gia của đại biểu vào việc xây dựng và ban hành nghị quyết trước

hết là sự tham gia của họ vào quá trình sáng kiến nghị quyết, tham gia vào việc

hình thành chương trình xây dựng nghị quyết. Chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND nói chung và HĐND cấp huyện, cấp xã nói riêng có thể được thực hiện theo từng năm hoặc cho toàn khóa của Hội đồng.

Một trong những nhiệm vụ và chức năng quan trọng của nghị quyết của

HĐND, đặc biệt là các nghị quyết chứa quy phạm pháp luật, là giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐND trên địa bàn. Mỗi nghị quyết như vậy đều

có một mục tiêu nhất định, hướng vào giải quyết một hay một số vấn đề bức xúc

trên địa bàn. Vì thế, vấn đề xã hội là nguồn gốc để hình thành nghị quyết. Các nghị quyết của HĐND đều chứa đựng cách thức giải quyết những vấn đề nhất định diễn ra trên địa bàn, vì vậy, lựa chọn chính xác vấn đề cần giải quyết để đưa vào nghị trình ban hành nghị quyết của HĐND có ý nghĩa đặc biệt quan trộng và sự tham gia của đại biểu HĐND vào việc xác định các vấn đề để đưa vào chương trình ban hành nghị quyết là hết sức cần thiết.

Đại biểu HĐND cần phát huy vai trò và chức năng thiết lập nghị trình ban

hành nghị quyết. Việc thực hiện tốt điều này vừa thể hiện tính trách nhiệm và tính đáp ứng của đại biểu HĐND trước cử tri và nhân dân, vừa góp phần thúc đẩy tính đáp ứng và tính trách nhiệm của HĐND và bộ máy chính quyền nói chung.

Để có thể tham gia vào việc xác định những nội dung vấn đề cần thiết phải

ban hành nghị quyết của HĐND để giải quyết, các đại biểu HĐND phải xác định

189

được vấn đề xã hội và biết cách lựa chọn vấn đề xã hội nào cần thiết để đưa vào chương trình ban hành nghị quyết để giải quyết.

Một vấn đề xã hội có thể được nhận biết qua thực tiễn quản lý các mặt của

đời sống xã hội trên địa bàn; cũng có thể được phát hiện qua các phương tiện thông tin đại chúng hay các nghiên cứu chính sách. Chính vì vậy, đại biểu HĐND phải chủ động trong việc tìm hiểu, nghiên cứu các mặt của đời sống xã

hội trên địa bàn, tích cực tiếp xúc cử tri để lắng nghe ý kiến của họ để thấy được những vấn đề bức xúc cần giải quyết. Có như vậy, nội dung của các nghị quyết của mới mang "hơi thở của cuộc sống hiện thực", mới đi vào giải quyết được các vấn đề cụ thể, bức xúc của người dân và xã hội trên địa bàn và qua đó mới tạo nên niềm tin của người dân đối với chính quyền nói chung và với đại biểu HĐND nói riêng.

Trong xã hội hiện đại, thường xuất hiện nhiều vấn đề xã hội cùng lúc, vấn

đề xã hội này xuất hiện kế tiếp vấn đề xã hội khác. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân cả chủ quan và khách quan, không phải tất cả các vấn đề xã hội đều được

giải quyết, tức là không phải vấn đề nào cũng có thể được HĐND dự kiến đưa vào nghị quyết. Chỉ những vấn đề xã hội mà HĐND thấy cần thiết và có thể thực hiện được mới nằm trong nghị trình ban hành nghị quyết. Như vậy, điểm cốt yếu ở bước này là làm thế nào để xác định "đúng" và "trúng vấn đề xã hội cần giải quyết bằng nghị quyết. Điều đó có nghĩa là các đại biểu HĐND phải xác định được chính xác các vấn đề bức xúc trên địa bàn, cần thiết phải ban hành nghị quyết để giải quyết để có thể đưa ra đề xuất hoặc đánh giá các đề xuất ban hành nghị quyết của các cá nhân, cơ quan khác có thẩm quyền, hạn chế được tình trạng có những vấn đề xã hội bức xúc nhưng lại chậm trễ trong việc đưa vào nghị trình ban hành, hoặc có những vấn đề xã hội chưa thật sự bức thiết nhưng lại được ưu tiên đưa vào nghị trình ban hành nghị quyết. Nội dung thảo luận cần tập trung vào những vấn đề "nóng", được nhiều người quan tâm hay trực tiếp liên quan tới đời sống của người dân trên địa bàn.

Thực tiễn cho thấy, một số vấn đề gắn liền với nhu cầu, yêu cầu bức thiết

của xã hội cũng như liên quan đến lợi ích và cuộc sống của người dân chậm

190

được đưa vào nghị trình ban hành nghị quyết của HĐND. Do đó, để thực hiện tốt vai trò tham gia thiết lập nghị trình ban hành nghị quyết, đại biểu HĐND cần: (i) tăng cường nắm bắt tình hình thực tế của địa phương; tăng cường tương tác và tiếp xúc với cử tri nhằm nắm bắt kịp thời và đầy đủ tâm tư, nguyện vọng cũng như những phản ánh của cử tri; (ii) đại biểu HĐND, Văn phòng HĐND và UBND cần có cơ chế để tổng hợp, tiếp nhận và xử lý thông tin do báo chí phản ánh; (iii) đại biểu HĐND cần chủ động hơn nữa trong hoạt động nêu sáng kiến ban hành nghị quyết; (iv) tăng cường tương tác và tiếp xúc với giới chuyên gia và đội ngũ trí thức để lắng nghe các ý kiến, kiến nghị của họ về các vấn đề xã hội bức xúc cần quan tâm giải quyết.

2. Tham gia phân tích nội dung trọng tâm của dự thảo nghị quyết

Trước khi nghị quyết của HĐND được thông qua trong phiên họp toàn thể, các đại biểu HĐND nghiên cứu kỹ dự thảo để xem xét xem nội dung của dự thảo có phù hợp và giải quyết được các vấn đề mà nghị quyết đề cập hay không. Để làm được điều này, thì phải phân tích được các nội dung của nghị quyết. Đây có thể xem như một bước trong quy trình phân tích các chính sách chứa đựng trong nội dung của nghị quyết.∞

Việc phân tích nội dung nghị quyết trước hết được các ban của HĐND

cùng cấp các cơ quan có liên quan thực hiện trước khi trình ra HĐND.ω Theo quy định hiện hành, chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp HĐND, cơ quan trình dự thảo nghị quyết 4 phải gửi đầy đủ hồ sơ dự thảo nghị quyết tới các ban của HĐND để thẩm tra. Chẳng hạn, Điều 136 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định về việc thẩm tra dự thảo nghị quyết của HĐND cấp huyện: dự thảo nghị quyết của HĐND cấp huyện phải được Ban của HĐND cùng cấp thẩm tra trước khi trình ra HĐND. Chậm nhất là 10 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp HĐND, UBND có trách ∞ Đánh giá tác động của chính sách là việc phân tích, dự báo tác động của chính sách đang được xây dựng đối với các nhóm đối tượng khác nhau nhằm lựa chọn giải pháp tối ưu thực hiện chính sách.

* Xem thêm, Ban công tác đại biểu - Ủy ban thường vụ Quốc hội: Kiến thức và kỹ năng cơ bản dành cho đại biểu HĐND, Hà Nội, 2021.

4 Khoản 1 Điều 133 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định: Dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện do Ủy ban nhân dân cùng cấp trình. Căn cứ vào tính chất và nội dung của nghị quyết của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện phân công cơ quan chủ trì soạn thảo. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm xây dựng dự thảo và tờ trình dự thảo nghị quyết.

191

nhiệm gửi dự thảo nghị quyết đến Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra.

Hồ sơ trình để thẩm tra bao gồm:

i) Tờ trình HĐND về dự thảo nghị quyết;

ii) Dự thảo nghị quyết;

iii) Báo cáo thẩm định và báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định đối

với dự thảo nghị quyết do UBND trình;

iv) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá

nhân; bản chụp ý kiến góp ý;

v) Tài liệu khác (nếu có).

Việc phân tích chính sách nên tập trung vào việc phân tích, đánh giá tác động của chính sách tới đời sống kinh tế - xã hội của địa phương. Để làm điều đó, trước hết làm rõ: Nghị quyết đề cập tới vấn đề trọng tâm nào? Vấn đề đó có tạo ra bức xúc của người dân hay không? Những giải pháp mà nghị quyết đưa ra sẽ giải quyết được các nguyên nhân nào trong vấn đề chính sách? Giải quyết được đến mức độ nào? Tác động của các giải pháp này đối với xã hội, nhất là đối với nhóm đối tượng chính sách như thế nào?

Theo quy định của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện Luật

Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 154/2020/NĐ-CP), tác động của chính sách được đánh giá gồm:5

- Tác động về kinh tế được đánh giá trên cơ sở phân tích chi phí và lợi ích

đối với một hoặc một số nội dung về sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, môi trường đầu tư và kinh doanh, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tổ chức

và cá nhân, cơ cấu phát triển kinh tế của quốc gia hoặc địa phương, chi tiêu công, đầu tư công và các vấn đề khác có liên quan đến kinh tế;

- Tác động về xã hội của chính sách được đánh giá trên cơ sở phân tích, dự

báo tác động đối với một hoặc một số nội dung về dân số, việc làm, tài sản, sức

55 Xem Điều 6 Nghị định 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 và Nghị định 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ.

192

khỏe, môi trường, y tế, giáo dục, đi lại, giảm nghèo, giá trị văn hóa truyền thống, gắn kết cộng đồng, xã hội và các vấn đề khác có liên quan đến xã hội;

- Tác động về giới của chính sách (nếu có) được đánh giá trên cơ sở phân

tích, dự báo các tác động kinh tế, xã hội liên quan đến cơ hội, điều kiện, năng lực thực hiện và thụ hưởng các quyền, lợi ích của mỗi giới;

- Tác động của thủ tục hành chính (nếu có) được đánh giá trên cơ sở phân

tích, dự báo về sự cần thiết, tính hợp pháp, tính hợp lý và chi phí tuân thủ của thủ tục hành chính để thực hiện chính sách;

- Tác động đối với hệ thống pháp luật được đánh giá trên cơ sở phân tích,

dự báo khả năng về thi hành và tuân thủ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, tác động đối với tổ chức bộ máy nhà nước, khả năng thi hành và tuân thủ của Việt Nam đối với các điều ước quốc tế.

Việc phân tích kỹ những nội dung chủ yếu của nghị quyết và tác động của

những chính sách trong dự thảo nghị quyết lên đời sống xã hội cho phép người đại biểu:

- Xem xét, cân nhắc về các giải pháp đang có trong dự thảo dựa trên việc

phân tích chi phí-lợi ích; dựa trên các đánh giá tác động tích cực và tiêu cực để có thể dự báo được những ưu điểm và khiếm khuyết của các phương án này;

- Giúp nâng cao chất lượng của nghị quyết, tăng cường tính thực tế và qua

đó nâng cao tính khả thi cho nghị quyết khi được thông qua;

- Giúp đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ giữa các chính sách chứa đựng

trong các nghị quyết đã có hoặc sắp ban hành của HĐND;

- Giúp cho việc thực hiện chính sách dễ dàng hơn, đáp ứng tốt hơn các nhu

cầu của nhóm đối tượng của nghị quyết;

Để có thể có đóng góp tích cực vào phân tích nội dung của nghị quyết cần

nắm được đầy đủ các thông tin cần thiết để phân tích vấn đề, do đó cần nắm được kỹ năng thu thập và xử lý thông tin.

Những yêu cầu cơ bản đối với nguồn thông tin mà đại biểu HĐND cần để

phục vụ cho quá trình ra quyết định là: Thông tin phải chính xác, đầy đủ, kịp

193

thời và phù hợp. Để có được thông tin chính xác, khách quan, đầy đủ và kịp thời, trong quá trình xác định vấn đề cần lưu ý các điểm sau đây:

- Để đảm bảo tính chính xác của thông tin, cần lựa chọn đúng nguồn thông

tin khách quan và đáng tin cậy.

- Để có được thông tin kịp thời, cần thường xuyên và chủ động thu thập các

thông tin có liên quan tới hoạt động trên địa bàn một cách định kỳ.

- Cần xây dựng một hệ thống xử lý thông tin tin cậy.

- Biết lựa chọn đúng các thông tin cần thiết.

Những thông tin cần thu thập khi phân tích nội dung vấn đề trong nghị quyết của HĐND có thể bao gồm:

- Thông tin chính trị - pháp lý: Là những thông tin có trong các văn bản, quy định của Đảng và trong các văn bản quy định pháp luật của Nhà nước. Đây là loại thông tin không thể thiếu trong mọi hoạt động của đại biểu HĐND, trong đó có hoạt động phân tích nội dung dự thảo nghị quyết vì những thông tin này giúp cho đại biểu HĐND đánh giá được mức độ tuân thủ pháp luật của các quy định, giải pháp được nêu trong nghị quyết. Các thông tin thuộc nhóm này thường được thu thập bằng phương pháp nghiên cứu thư viện (desk study).

- Thông tin thực tế: Là những thông tin từ thực tiễn đời sống kinh tế - xã

hội của địa phương; những kết quả thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn. Những thông tin này có thể có được quan các báo cáo của các đơn vị có liên quan, các cơ quan nằm dưới sự giám sát của HĐND, qua việc tiếp xúc với công dân, với cử tri tại các cuộc tiếp xúc cử tri theo kế hoạch hoặc các buổi gặp gỡ, trao đổi với người dân, cán bộ, công chức, viên chức,... thông tin nhóm này cũng có thể thu thập được thông qua các hoạt động điều tra khảo sát bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu hay quan sát.

Chẳng hạn, nếu HĐND dự kiến ban hành nghị quyết 'Phát triển giáo dục

và đào tạo trên địa bàn huyện giai đoạn 2021 - 2025" thì các thông tin cần thiết phải tiến hành thu thập sẽ bao gồm:

- Thông tin chính trị - pháp lý: Chủ trương của Đảng về đổi mới toàn diện

công tác giáo dục và đào tạo; nội dung liên quan tới giáo dục, đào tạo cấp tỉnh

194

trong Luật Giáo dục; các nghị định của Chính phủ, thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các quy định đã có của HĐND tỉnh và HĐND huyện các khóa trước và của UBND tỉnh, huyện; các chính sách về giáo dục hiện đang thực hiện,..

- Thông tin thực tế: các thông tin trong các báo cáo của ngành giáo dục -

đào tạo của tỉnh; các báo cáo giám sát của Ban Văn hóa - Xã hội của HĐND tỉnh đã có; nội dung phản ánh qua các cuộc tiếp xúc với đội ngũ giáo viên và các báo cáo giám sát của Ban Văn hóa - Xã hội của HĐND huyện đã có; cán bộ quản lý giáo dục trên địa bàn;..

3. Tham gia nhận xét tính hợp pháp, hợp lý của dự thảo nghị quyết

Đại biểu HĐND trong công việc của mình thường tham gia vào đánh giá một số lượng lớn các dự thảo nghị quyết trước khi có thể tham gia vào tranh luận và biểu quyết thông qua các nghị quyết này. Có những nghị quyết mang tính đơn lẻ, cá biệt, không phức tạp nhưng cũng có những nghị quyết có nội dung rất phức tạp, bao trùm mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội của địa phương. Để làm tốt nhiệm vụ này, các đại biểu cần nắm được kỹ năng, cách thức đọc và hiểu về dự thảo nghị quyết (cả về mặt nội dung và hình thức) với mục đích là không

bỏ sót các yếu tố quan trọng, phát hiện được các điểm thiếu sót hay không chính xác, không hợp lý trong các dự thảo để yêu cầu bổ sung, hoàn chỉnh và từ đó lựa chọn được các vấn đề trọng tâm, nổi bật để có ý kiến tham gia của mình khi ban hành nghị quyết.

a. Nhận xét, đánh giá về quy trình, thủ tục

- Dự thảo nghị quyết do cơ quan nào đề xuất và tiến hành biên soạn? Các bước lập hồ sơ để xây dựng dự thảo đã chính xác chưa?

- Xem xét hồ sơ do cơ quan soạn thảo trình đã đầy đủ chưa? Trường hợp

chưa đủ, đại biểu có thể yêu cầu cơ quan soạn thảo dự thảo nghị quyết bổ sung thêm cho đầy đủ theo yêu cầu, nhất là những văn bản như ý kiến đóng góp của các bên có liên quan tới dự thảo nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật.

Xem Ban Công tác đại biểu - Ủy ban thường vụ Quốc hội: Kiến thức và kỹ năng cơ bản dành cho đại biểu HĐND. Hà Nội, 2021, trang185-186.

195

- Các góp ý của các cơ quan, đơn vị có liên quan và báo cáo thẩm định của phòng Tư pháp.

b. Nhận xét, đánh giá về nội dung của dự thảo nghị quyết

Dự thảo nghị quyết của HĐND cấp huyện, cấp xã sau khi được soạn thảo và lấy ý kiến của các bên liên quan, cần phải được thẩm định qua các đơn vị chuyên môn có liên quan (như phòng Tư pháp và các cơ quan chuyên môn của UBND cấp huyện đối với dự thảo nghị quyết của HĐND huyện) trước khi trình

ra HĐND để đảm bảo tính hợp pháp cũng như hợp lý của nghị quyết.

Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 6 Luật Tổ chức chính quyền địa

phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Ban của HĐND có nhiệm vụ thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trước khi trình Hội đồng nhân dân

Nội dung thẩm tra dự thảo nghị quyết của các Ban của HĐND tập trung vào các vấn đề chủ yếu sau đây:

- Nội dung dự thảo nghị quyết và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau;

- Sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị quyết với đường lối, chủ trương

của Đảng, chính sách của Nhà nước;

- Sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị quyết với tình hình, điều kiện phát

triển kinh tế - xã hội của địa phương;

- Tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo nghị quyết

với hệ thống pháp luật.

Sau khi thẩm tra báo cáo, các Ban chịu trách nhiệm thẩm tra phải có Báo

cáo thẩm tra, trong đó phải thể hiện rõ quan điểm của cơ quan thẩm tra về những vấn đề thuộc nội dung thẩm tra và đề xuất những nội dung cần sửa đổi, bổ sung, phương án xử lý của cơ quan chủ trì thẩm tra đối với những vấn đề còn có ý kiến khác nhau.

Vì vậy, về cơ bản, các dự thảo nghị quyết khi chuyển tới các đại biểu đã

được khẳng định về mặt pháp lý. Tuy nhiên, với nhiệm vụ là chủ thể tham gia ban hành nghị quyết, các đại biểu vẫn phải thực hiện việc đánh giá dự thảo về

57 Điều 6 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

196

nội dung. Việc đánh giá các nội dung của dự thảo chính sách cần tập trung vào hai khía cạnh chủ yếu: tính hợp pháp và tính hợp lý của các giải pháp.

Các yêu cầu hợp pháp đặt ra đối với nội dung của nghị quyết của HĐND

bao gồm:

Thứ nhất, nội dung của nghị quyết phải phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Nghị quyết của HĐND phải xuất phát từ chủ trương, đường lối của Đảng,

cụ thể hóa chủ trương, đường lối này cho phù hợp với những đặc điểm của địa phương mình.

Do đặc tính của các hoạt động quản lý nhà nước là quản lý bằng pháp luật

và theo pháp luật nên bất kỳ quyết định nào của cơ quan nhà nước hay của các cá nhân được trao thẩm quyền, trong đó có nghị quyết của HĐND, cũng không được trái với Hiến pháp, luật. Ngoài ra, do hệ thống các cơ quan nhà nước, là một hệ thống có thứ bậc chặt chẽ nên một quyết định quản lý nhà nước sẽ chỉ hợp pháp khi nó không trái với các quy định của cơ quan nhà nước cấp trên.

Yêu cầu này đòi hỏi nghị quyết của HĐND phải phản ánh đúng các chủ trương, đường lối của Đảng đồng thời đúng với quy định pháp luật hiện hành.

Để có thể đánh giá chính xác yêu cầu này của nghị quyết, các đại biểu

HĐND phải nắm vững chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về các vấn đề mà nghị quyết đề cập tới.

Thứ hai, các nội dung nêu ra trong nghị quyết phải thuộc phạm vi thẩm quyền của Hội đồng nhân dân.

Trong hệ thống nhà nước, mỗi cơ quan, đơn vị đều có chức năng, nhiệm vụ

xác định và kèm theo đó là một thẩm quyền nhất định để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ đó. Thẩm quyền của hội đồng nhân dân được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật, trước hết là Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Một nghị quyết chỉ được coi là hợp pháp khi nội dung của nghị quyết giải quyết những vấn đề trong phạm vi thẩm quyền của HĐND được quy định trong các văn bản này.

197

Thứ ba, nghị quyết phải được ban hành theo đúng trình tự và thủ tục theo quy định của pháp luật

Việc ban hành nghị quyết của HĐND phải tuân thủ đúng các quy định về

trình tự, thủ tục ban hành. Chẳng hạn, nghị quyết của HĐND chỉ được ký ban hành sau khi được hội nghị toàn thể HĐND thông qua. Như vậy, những văn bản được ký trước khi thông qua, dù có đúng về nội dung cũng không thể được coi là hợp pháp.

Bên cạnh các yêu cầu về tính hợp pháp, một nghị quyết của HĐND chỉ được coi là hợp lý khi nó đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau đây:

Thứ nhất, nội dung của nghị quyết phải bảo đảm hài hoà lợi ích của Đảng,

của Nhà nước và của đối tượng chịu tác động của nghị quyết

Các quyết định đều phản ánh ý chí, mong muốn của chủ thể ra quyết định

nên các quyết định quản lý nhà nước đã chứa đựng trong đó các lợi ích, mong muốn của nhà nước. Nghị quyết của HĐND, với tư cách là quyết định của cơ quan quản lý nhà nước, cũng phản ánh nội dung này. Tuy nhiên, trong nghị quyết, cũng cần quan tâm tới việc bảo đảm lợi ích cho đối tượng chịu tác động của nghị quyết và bảo đảm hài hòa giữa lợi ích mà đối tượng chịu tác động của nghị quyết được hưởng so với những nhóm đối tượng khác trong xã hội. Khi những nhà quản lý nhà nước chỉ quan tâm tới lợi ích của Nhà nước mà bỏ qua lợi ích của cá nhân những đối tượng chịu tác động của quyết định quản lý nhà nước thì sẽ không tạo nên được sự đồng thuận của những đối tượng này và quyết định sẽ rất khó có thể có hiệu lực trong thực tiễn.

Thứ hai, nội dung của nghị quyết phải cụ thể, phù hợp với điều kiện, hoàn

cảnh cụ thể của địa phương

Các địa phương đều có những điểm đặc thù riêng biệt của mình và cùng

với một vấn đề như nhau nhưng ở các địa phương khác nhau, cần được giải quyết theo những cách khác nhau. Chính vì vậy, muốn cho nghị quyết khả thi, việc tìm hiểu để biết rõ về đia phương rất quan trọng.

Ngoài ra, nghị quyết sẽ được ban hành còn phải không được gây cản trở tới

việc thực hiện các quyết định khác có liên quan; các nguồn lực dự kiến để triển

198

khai thực hiện nghị quyết phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương, bảo đảm được các nguồn lực; những giải pháp ban hành trong nghị quyết phải tính tới sự phù hợp với môi trường thực hiện nghị quyết (môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa - xã hội, truyền thống, tập quán của đối tượng,...).

Thứ ba, nghị quyết phải bảo đảm các yêu cầu của kỹ thuật lập quy

Hình thức của một dự thảo nghị quyết không chỉ đơn thuần là hình thức

trình bày dự thảo mà còn phải tập trung vào cách thức truyền tải nội dung của nghị quyết như cấu trúc văn bản, văn phong ngôn ngữ,... 8 Các yêu cầu về kỹ thuật lập quy bao gồm các yêu cầu về cấu trúc, thể thức và yêu cầu về văn phong, ngôn ngữ thể hiện trong nghị quyết.

Về cấu trúc của nghị quyết: Nghị quyết của HĐND phải có cấu trúc chặt

chẽ và có sự kết nối logic giữa các phần của văn bản. Vì vậy, để hiểu tổng thể nội dung của văn bản khi đánh giá, cần xem xét cấu trúc tổng thể của nó, không chỉ xem rời rạc từng đoạn văn bản. Về cơ bản, các mục nhỏ trong mục lớn phải được xây dựng bao quát hết các nội dung của mục lớn.

Một vấn đề quan trọng khi xem xét cấu trúc của nghị quyết là mức độ phù

hợp, logic của nội dung so với tiêu đề. Không phù hợp giữa nội dung của mục với tiêu đề của mục là một lỗi khá phổ biến khi trình bày các văn bản.

Yêu cầu về thể thức của nghị quyết định hiện nay được quy định tại Nghị

định số 34/2016/NĐ-CP và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP (đối với nghị quyết chứa đựng quy phạm pháp luật) và Nghị định số 30/2020/NĐ-CP (đối với nghị quyết cá biệt).

Về văn phong, ngôn ngữ được sử dụng trong nghị quyết cần đáp ứng các

yêu cầu của ngôn ngữ hành chính có những đặc tính riêng, phải bảo đảm rõ ràng, ngắn gọn, không đa nghĩa,... theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật phải chính

xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu.

Xem Ban Công tác đại biểu - Ủy ban thường vụ Quốc hội: Kiến thức và kỹ năng cơ bản dành cho đại biểu HĐND. Hà Nội, 2021, trang 189-190.

Xem Điều 8 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

199

Trong hai nhóm yếu tố nêu trên, yếu tố hợp pháp giữ vị trí chủ đạo. Một nghị quyết chỉ được xem xét tới tính hợp lý khi nghị quyết đó hợp pháp. Các yêu

cầu của tính hợp pháp quyết định khả năng tồn tại của nghị quyết, còn các yêu cầu của tính hợp lý xác định tính khả thi của nghị quyết định.

Để có thể thực hiện tốt chức năng xem xét, đánh giá các dự thảo nghị quyết, đại biểu cần nắm được các quy định pháp luật có liên quan tới nội dung dự thảo và các thông tin thực tiễn về vấn đề mà dự thảo đề cập, do đó cần có kỹ năng thu thập, xử lý thông tin (đã phân tích ở phần trên). Bên cạnh đó, đại biểu HĐND cần nắm được các kỹ năng sau:

(i) Kỹ năng đọc dự thảo nghị quyết

Khi đại biểu nhận được dự thảo nghị quyết, trước hết đại biểu nên đọc nhanh qua toàn bộ dự thảo để nắm được cấu trúc của dự thảo và những nội dung chủ yếu; nhận biết độ dài của dự thảo cũng như tính logic của kết cấu dự thảo.

Sau khi đã đọc sơ bộ, bắt đầu tiến hành đọc kỹ dự thảo, tập trung vào những nội dung mà đại biểu cho rằng quan trọng trong dự thảo. Trong quá trình đọc, cần lưu ý đối chiếu, so sánh những thông số được đưa ra trong dự thảo với những thông tin mà đại biểu tự tìm hiểu và nắm được xem có sự sai lệch không.

Nếu nhận thấy có sự sai lệch thì cần đánh dấu lại để yêu cầu bên trình trình dự thảo giải trình làm rõ. Những điểm cần lưu ý thì nên đánh dấu lại bằng bút đánh dấu. Trong quá trình đọc, chú ý phải đặt các câu hỏi để ghi nhớ và tập trung vào các nội dung chủ yếu.

(ii) Kỹ năng phân tích dự thảo nghị quyết

- Phân tích dự thảo về hình thức

Việc xem xét dự thảo nghị quyết về hình thức trước hết cần quan tâm tới

thể thức của dự thảo. Bên cạnh đó, việc xem xét dự thảo còn phải chú ý tới cấu trúc của văn bản và văn phong được sử dụng trong dự thảo.

- Phân tích dự thảo về nội dung

Các nội dung trong dự thảo nghị quyết phải chính xác với thực tế và tuân

thủ các quy định của pháp luật cũng như phải đúng với các kết quả đạt được. Những kiến nghị, đề xuất, giải pháp phải phù hợp với chủ trương của Đảng,

200

chính sách, pháp luật của Nhà nước, phù hợp với các nguồn lực hiện có và có tính khả thi cao.

Đại biểu xem xét tính nhất quán, thống nhất giữa các phần của văn bản

trong dự thảo; so sánh với các tài liệu cùng loại về thời gian, không gian,..., qua đó phát hiện những lỗi thiếu logic, mâu thuẫn trong lập luận của dự thảo.∞

Trong quá trình xem xét dự thảo, đại biểu chú ý so sánh những thông tin

được sử dụng trong dự thảo với những thông tin mà đại biểu trực tiếp thu thập được để xem dự thảo có phản ánh đúng thực tiễn hay không, phát hiện những nội dung cần bổ sung hay phải sửa chữa, thông tin được đưa ra không chính xác trong dự thảo.

4. Tham gia lựa chọn phương án tối ưu cho dự thảo nghị quyết

Các tiêu chí để lựa chọn một phương án giải pháp mà nghị quyết HĐND đưa ra (đối với các nghị quyết có quy phạm pháp luật) là những thước đo cụ thể cho các mục tiêu chính sách tức là những giá trị được sử dụng để đo lường các lựa chọn chính sách. Các tiêu chí này cũng thường được xem như những minh chứng hay những lý do hợp lý cho các hành động của nhà nước.°

Việc xác định các tiêu chí này giúp cho việc lựa chọn phương án chính

sách được khách quan. Những tiêu chí chủ yếu được sử dụng trong quá trình đánh giá các phương án chính sách bao gồm: tính chính trị, tính hiệu quả, tính công bằng, tính khả thi (về tài chính và quản lý, kỹ thuật). Bên cạnh đó còn có thể đưa ra một số tiêu chí khác như tính công bằng hay khả năng được xã hội chấp nhận.

- Tiêu chí chính trị: bản thân chính sách công với tư cách là công cụ để

định hướng, dẫn dắt xã hội của nhà nước, giải quyết các vấn đề phát sinh trong

xã hội phù hợp với mong muốn của nhà nước đã mang bản chất chính trị và phải phù hợp với chủ trương, đường lối của đảng cầm quyền. Chính vì vậy, các phương án chính sách phải phù hợp về chính trị tức là không mâu thuẫn với định hướng của đảng cầm quyền. Chẳng hạn, ở Việt Nam, các chính sách của Nhà

Xem Ban Công tác đại biểu - Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Kiến thức và kỹ năng cơ bản dành cho đại biểu HĐND. Hà Nội, 2021, trang 176-177.

61 Craft, Michael E./Furlong, Scott R., trang 3.

2 Craft, Michael E./Furlong, Scott R., trang 5.

201

nước phải thống nhất với chủ trương của Đảng. Như vậy, một trong những căn

cứ quan trọng nhất để hoạch định phương án chính sách là định hướng đường lối của Đảng trong từng giai đoạn cụ thể.

- Tính khả thi: một giải pháp chính sách chỉ tốt khi nó có thể thực hiện

được (khả thi). Muốn đánh giá một giải pháp chính sách có khả thi hay không cần xem xét các yếu tố liên quan tới môi trường thực thi chính sách và xây dựng

các kịch bản một cách khoa học, phù hợp với các đặc điểm của môi trường đó.

- Đơn giản về mặt quản lý: một giải pháp chính sách chỉ mang lại hiệu quả

thực tế khi nó được mang ra áp dụng. Kết quả của việc áp dụng một phương án chính sách không chỉ phụ thuộc vào tính đúng đắn về mục tiêu của giải pháp và phương tiện (tài chính, con người,...) để thực hiện giải pháp mà còn phụ thuộc vào khả năng quản lý việc thực thi giải pháp đó. Một phương án tốt nhưng thực thi không tốt sẽ không mang lại được hiệu quả mong muốn. Vì vậy, khi lựa chọn phương án chính sách cần lưu ý xác định tính khả thi về mặt quản lý.

- Hiệu quả: tính hiệu quả của một phương án được xem xét trong mối

tương quan giữa kết quả đạt được so với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.

Tiêu chí này đòi hỏi, khi hai phương án chính sách cùng có thể đạt mục tiêu như nhau thì cần phân tích để lựa chọn ra được phương án dễ dàng thực hiện và chi phí thực hiện thấp hơn.

- Công bằng: một trong những chức năng chủ yếu của nhà nước là đảm bảo

sự công bằng tương đối trong xã hội. Chỉ khi nào mức độ công bằng xã hội được đảm bảo thì xã hội mới có thể phát triển ổn định. Các giải pháp chính sách nếu không giúp cho việc giảm nhẹ, tiến tới loại trừ bất bình đẳng trong xã hội thì ít nhất cũng không được làm gia tăng khoảng cách bất bình đẳng đó.

- Hợp pháp: các giải pháp chính sách bên cạnh việc không được đi ngược

lại chủ trương, định hướng của đảng cầm quyền trong mỗi giai đoạn còn không được trái với các quy định pháp luật hiện hành, nhất là không được mâu thuẫn với Hiến pháp vì bản thân hoạt động của nhà nước không được vượt ra ngoài khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

202

Để đảm bảo các giải pháp đưa ra trong dự thảo nghị quyết đáp ứng tốt nhất

các đòi hỏi nêu trên, phản ánh đúng nguyện vọng của người dân cũng như của cơ quan đề xuất dự thảo, cần tạo điều kiện để các đại biểu Hội đồng tham gia vào quá trình lựa chọn, đánh giá chính sách trong các giải pháp này.

Cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết có trách nhiệm lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết và các cơ quan, tổ chức có liên quan; nêu những vấn đề cần xin ý kiến phù hợp với từng đối tượng lấy ý kiến và xác định cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến; đăng tải toàn văn hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết trên cổng thông tin điện tử để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

Ngoài việc đăng tải để lấy ý kiến theo quy định tại khoản này, việc lấy ý

kiến có thể bằng hình thức lấy ý kiến trực tiếp, gửi dự thảo đề nghị góp ý kiến, tổ chức hội thảo hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

Khi lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo nghị quyết

thì cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy ý kiến và

bảo đảm ít nhất là 10 ngày kể từ ngày tổ chức lấy ý kiến để các đối tượng được lấy ý kiến góp ý kiến vào dự thảo nghị quyết. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết tổ chức đối thoại trực tiếp về chính sách với các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo nghị quyết.

5. Tham gia quyết nghị thông qua nghị quyết

Thông qua quyết nghị là giai đoạn cuối cùng của quy trình ban hành nghị quyết của HĐND nhưng cũng là một giai đoạn quan trọng, quyết định việc nghị quyết có được ban hành hay không. Sự tham gia của các đại biểu HĐND ở giai đoạn này rất quan trọng, không chỉ khẳng định nhận thức của đại biểu mà còn thể hiện bản lĩnh của người đại biểu.

Trình tự xem xét, thảo luận dự thảo nghị quyết của HĐND và thông qua

trên kỳ họp toàn thể Hội đồng được thực hiện theo các bước chủ yếu sau đây:

- Bước 1: Người đại diện cơ quan trình bày dự thảo nghị quyết;

- Bước 2: Trưởng Ban của HĐND trình bày báo cáo thẩm tra;

203

- Bước 3: Người trình bày có thể trình bày bổ sung, giải trình những vấn đề

có liên quan mà HĐND quan tâm;

- Bước 4: Các đại biểu HĐND thảo luận và đi tới thống nhất thông qua nội

dung dự thảo nghị quyết hoặc yêu cầu bổ sung, điều chỉnh.

Để tham gia vào quá trình lựa chọn phương án cho dự thảo nghị quyết, đại

biểu HĐND phải nắm được các kỹ năng tư duy, phân tích dự thảo và kỹ năng thảo luận tại nghị trường.

Để việc thảo luận của các đại biểu HĐND đạt hiệu quả cao, các đại biểu

cần quan tâm để nắm vững mục tiêu, nội dung vấn đề cần đưa ra thảo luận. Mục

tiêu đặt ra khi thảo luận là xem xét vấn đề thảo luận ở nhiều khía cạnh khác nhau, đưa ra những ý kiến, những luận điểm khác nhau để cùng phân tích, đánh giá những vấn đề và cách thức giải quyết vấn đề đối với những vấn đề dự kiến đưa vào nghị quyết.

Để các nghị quyết của HĐND thực sự phản ánh ý chí, nguyện vọng của

người dân, các đại biểu HĐND trước khi quyết định có ủng hộ nghị quyết hay

không phải cân nhắc kỹ những tác động của nghị quyết tới người dân trên địa bàn.

204

CÂU HỎI THẢO LUẬN3

1. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân là gì? Nghị quyết của Hội đồng nhân dân có những loại nào và đặc điểm của mỗi loại?

2. Các yêu cầu đặt ra đối với nghị quyết của HĐND? Cần làm gì để các nghị quyết của HĐND cấp huyện, cấp xã đáp ứng được các yêu cầu này?

3. Phân tích vai trò của đại biểu HĐND trong các bước ban hành Nghị quyết của HĐND. Liên hệ thực tế cá nhân đại biểu HĐND.

4. Giải pháp tăng cường chất lượng tham gia của đại biểu HĐND vào việc ban hành nghị quyết của HĐND? Liên hệ thực tế nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác.

Giảng viên có thể đưa ra những câu hỏi/tình huống khác để thảo luận, trao đổi phù hợp với thực tế của địa phương, nhu cầu học viên và điều kiện lớp học.

205

TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO HỌC VIÊN

1. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2019).

2. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

3. Quy chế hoạt động của HĐND nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác.

4. Ban Công tác đại biểu (2021): Kiến thức và kỹ năng cơ bản dành cho đại biểu Hội đồng nhân dân, Hà Nội, 2021.

5. Lương Trọng Thành/Nguyễn Thị Thanh Nhàn/Nguyễn Thị Nguyệt

(2017): Kiến thức và kỹ năng cơ bản dành cho đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã.

Giảng viên cập nhật, giới thiệu thêm những tài liệu tham khảo khác cho học viên, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và khả năng tìm kiếm tài liệu của học viên.

206

Chuyên đề 8

KỸ NĂNG THẨM TRA, GIÁM SÁT

THỰC HIỆN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN, CẤP XÃ

I. Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

trong lĩnh vực ngân sách

1. Nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách cấp huyện, cấp xã

Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành

phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là ngân sách huyện), bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách của các xã, phường, thị trấnω. Trong đó:

- Ngân sách cấp huyện là các các khoản thu chi của chính quyền cấp huyện,

được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp huyện.

- Ngân sách của các xã, phường thị trấn được gọi chung là ngân sách xã và

có phạm vi nguồn thu, nhiệm vụ chi được thực hiện theo Thông tư số 344/2016/TT-BTC và nghị quyết của HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là HĐND tỉnh) về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước (NSNN) giữa các cấp chính quyền địa phương trên địa bàn.

HĐND tỉnh phân phân định nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách cấp

huyện, ngân sách xã cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

- Ngân sách xã, thị trấn° được phân chia nguồn thu từ các khoản: Thuế sử

dụng đất phi nông nghiệp; lệ phí môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh; thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình; lệ phí trước bạ nhà, đất;

- Ngân sách cấp huyện, ngân sách xã không có nhiệm vụ chi nghiên cứu

khoa học và công nghệ. Ngân sách cấp huyện, ngân sách xã được chi cho nhiệm vụ ứng dụng, chuyển giao công nghệ;

- Trong phân cấp nhiệm vụ chi đối với thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành

phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương phải có nhiệm vụ chi đầu tư xây 65 Điều 6, Nghị định 163/2016/NĐ-CP của Chính phủ.

Điều 17, Nghị định số 163/2016/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư 342/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính.

Khi phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho ngân sách phường không bắt buộc tuân thủ quy định này.

207

dựng các trường phổ thông công lập các cấp, điện chiếu sáng, cấp thoát nước, giao thông đô thị, vệ sinh đô thị và các công trình phúc lợi công cộng khác;

- Phân cấp nhiệm vụ chi phải gắn với nhiệm vụ và khả năng quản lý của

từng cấp, hạn chế việc bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới;

- Khuyến khích các cấp tăng cường quản lý thu, chống thất thu;

- Nguồn thu gắn liền với vai trò quản lý của cấp chính quyền nào thì phân

cấp cho ngân sách cấp chính quyền đó;

- Hạn chế phân cấp cho nhiều cấp ngân sách đối với các nguồn thu có quy

mô nhỏ;

- Bảo đảm tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu cho ngân sách cấp

mình và ngân sách các cấp dưới không được vượt quá tỷ lệ phần trăm (%) phân chia theo quy định của cấp trên đối với từng khoản thu được phân chia.

Căn cứ vào các nguyên tắc nêu trên, HĐND tỉnh thường phân cấp nguồn

thu nhiệm vụ chi ngân sách cấp huyện như sau:

- Ngân sách cấp huyện thường được hưởng 100% các nguồn thu như thuế

tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp từ các doanh nghiệp ngoài quốc

doanh, các tổ chức, lệ phí môn bài thu từ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, phí, lệ phí do huyện quản lý và tổ chức thu, tiền thuê mặt nước, đất, thu từ bán tài sản thuộc cấp huyện quản lý, các khoản thu khác;
- Các nguồn thu ngân sách cấp huyện được hưởng theo tỷ lệ phần trăm (%) thường là các nguồn thu mà ngân sách tỉnh được hưởng theo tỷ lệ phần trăm (%) phân chia giữa trung ương và tỉnh: Các loại thuế thu từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh, thuế thu nhập cá nhân giao cho cấp huyện quản lý, lệ phí trước bạ;
- Ngoài các nguồn thu ngân sách cấp huyện được hưởng 100% và theo tỷ lệ phần trăm phân chia, ngân sách huyện còn có nguồn thu bổ sung từ ngân sách tỉnh và nguồn thu chuyển nguồn từ ngân sách năm trước sang ngân sách năm sau;
- Nhiệm vụ chi đầu tư phát triển ngân sách cấp huyện bao gồm: Đầu tư xây dựng cơ bản cho các chương trình, dự án do huyện quản lý theo các lĩnh vực, các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật;
208
M
÷

- Chi thường xuyên ngân sách cấp huyện bao gồm các khoản chi sự nghiệp

theo 13 lĩnh vực mà Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 quy định;

- Chi chuyển nguồn từ ngân sách năm trước sang ngân sách năm sau;

- Ngoài các nhiệm vụ chi nêu trên, ngân sách cấp huyện còn được giao

nhiệm vụ chi bổ sung cho ngân sách xã, phường, thị trấn để đảm bảo ngân sách

xã, phường, thị trấn thực hiện được các nhiệm vụ được giao.

Đối với ngân sách xã (ngân sách của các xã, phường, thị trấn), nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách xã°:

- Thu ngân sách xã gồm các khoản thu phân cấp cho ngân sách xã hưởng

100%, các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách xã với ngân sách cấp trên, thu bổ sung từ ngân sách cấp trên;

- Thu ngân sách xã được hưởng (100%) bao gồm các khoản thu NSNN

phân cấp cho ngân sách xã và các khoản huy động đóng góp từ các cơ quan, tổ

chức, cá nhân trên nguyên tắc tự nguyện để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của pháp luật do HĐND xã quyết định đưa vào ngân sách xã quản lý. Đối với khoản thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác, xã không được đấu thầu thu khoán một lần cho nhiều năm làm ảnh hưởng đến việc cân đối ngân sách xã các năm sau; trường hợp thật cần thiết phải thu một lần cho một số năm, thì chỉ được thu trong nhiệm kỳ của HĐND xã, không được thu trước thời gian của nhiệm kỳ HĐND khóa sau, trừ trường hợp thu đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

- Thu ngân sách xã được hưởng theo tỷ lệ phần trăm phân chia thuộc phạm

vi các nguồn thu ngân sách huyện được hưởng theo tỷ lệ phần trăm phân chia.

- Chi ngân sách xã, bao gồm chi đầu tư phát triển; chi thường xuyên nhằm

bảo đảm quốc phòng, an ninh của Nhà nước, chi hoạt động của các cơ quan Nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị xã hội; chi hỗ trợ cho các

tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được thành lập theo quy định khi các tổ chức này được Nhà nước giao

⊗ Thông tư 344/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về quản lý ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn.

209

nhiệm vụ; chi phát triển kinh tế - xã hội và các nhiệm vụ chi khác theo quy định của pháp luật.

2. Chu trình quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện, cấp xã

a. Lập dự toán ngân sách

Việc lập dự toán ngân sách nhà nước phải bảo đảm các nguyên tắc về cân

đối ngân sách nhà nước, các căn cứ, yêu cầu theo quy định của và các văn bản hướng dẫn của cấp trên.

(i) Hướng dẫn lập dự toán và thông báo số kiểm tra dự toán NSNN:

Căn cứ vào hướng dẫn xây dựng dự toán và số kiểm tra dự toán của UBND

tỉnh, UBND huyện°sẽ tiếp tục thông báo số kiểm tra dự toán thu, chi ngân sách năm sau đến từng cơ quan, đơn vị trực thuộc và UBND xã bảo đảm phù hợp với số kiểm tra cả về tổng mức và chi tiết các lĩnh vực thu, chi ngân sách của cơ quan có thẩm quyền thông báo.

(ii) Lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước tại các đơn vị dự toán và sử dụng ngân sách cấp huyện:

- Các đơn vị sử dụng ngân sách, chủ đầu tư và các tổ chức thuộc cấp huyện

lập dự toán thu, chi ngân sách thuộc phạm vi nhiệm vụ được giao, gửi cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp;

- Các đơn vị dự toán cấp I thuộc ngân sách cấp huyện xem xét dự toán do các đơn vị cấp dưới trực thuộc lập; tổng hợp và lập dự toán thu, chi ngân sách thuộc phạm vi quản lý gửi báo cáo dự toán ngân sách nhà nước, chi tiết chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên theo từng lĩnh vực, chi tiết từng cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách tới cơ quan tài chính cấp huyện tổng hợp, trình UBND huyện, báo cáo thường trực HĐND huyện xem xét cho ý kiến trước khi gửi sở Tài chính tổng hợp. Thời gian gửi báo cáo của các đơn vị dự toán cấp I ở địa phương do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định;

- Các cơ quan thu ngân sách nhà nước (Thuế) lập dự toán thu ngân sách

nhà nước theo quy định;

∞UBND tỉnh được hiểu là UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; UBND huyện được hiểu là UBND huyện, UBND thị xã, UBND quận, UBND thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương.

210

- Các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ thu phí, lệ phí phải lập dự toán thu từng loại phí, lệ phí, chi tiết tổng số thu, số nộp ngân sách, số được khấu trừ và trích lại theo quy định của pháp luật, chi tiết từng loại phí, lệ phí và chi ngân

sách của cơ quan, đơn vị theo lĩnh vực, gửi cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp tổng hợp, gửi đơn vị dự toán cấp I tổng hợp chung trong dự toán thu, chi ngân sách huyện7.

(iii) Lập dự toán ngân sách xã:

- Bộ phận tài chính, kế toán xã phối hợp với cơ quan thuế tính toán các

khoản thu NSNN trên địa bàn;

- Các đơn vị, tổ chức thuộc UBND xã căn cứ vào chức năng nhiệm vụ được

giao và chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi lập dự toán chi của đơn vị, tổ chức mình;

- Bộ phận tài chính, kế toán xã lập dự toán thu, chi và cân đối ngân sách xã

trình UBND xã báo cáo Thường trực HĐND xã xem xét, cho ý kiến trước khi gửi UBND huyện và cơ quan tài chính huyện tổng hợp. Thời gian báo cáo dự toán ngân sách xã do UBND tỉnh quy định; đối với năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện làm việc với UBND xã về cân đối thu, chi ngân sách xã thời kỳ ổn định mới theo khả năng bố trí cân đối chung của ngân sách địa phương. Đối với các năm tiếp theo trong thời kỳ ổn định ngân sách, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện chỉ tổ chức làm việc với UBND xã về dự toán ngân sách khi có đề nghị của UBND xã71.

Quyết định và giao dự toán

70 Trường hợp ở địa phương thí điểm tổ chức chính quyền đô thị, đề nghị xem thêm trong: (i) Nghị quyết số 97/2019/QH14 về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội, Nghị định số 32/2021/NĐ- CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số số 97/2019/QH14; (ii) Nghị quyết số 131/2020/QH14 về tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh, Nghị định số 33/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số 131/2020/QH14; (iii) Nghị quyết số 119/2020/QH14, Nghị định số 34/2021/NĐ-CP về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị và một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng, ở thành phố Đà Nẵng.

71 Trường hợp ở địa phương thí điểm tổ chức chính quyền đô thị, đề nghị xem thêm trong: (i) Nghị quyết số 97/2019/QH14 về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội, Nghị định số 32/2021/NĐ- CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số số 97/2019/QH14; (ii) Nghị quyết số 131/2020/QH14 về tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh, Nghị định số 33/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số 131/2020/QH14; (iii) Nghị quyết số 119/2020/QH14, Nghị định÷số 34/2021/NĐ-CP về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị và một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng, ở thành phố Đà Nẵng.

211

Sau khi nhận được quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách của UBND

cấp trên, UBND huyện, UBND xã hoàn chỉnh dự toán ngân sách báo cáo Ban

Kinh tế - Xã hội cùng cấp thẩm tra, Thường trực HĐND cùng cấp xem xét, cho ý kiến, trình HĐND quyết định theo thời hạn do UBND tỉnh quy định. Sau khi dự toán ngân sách được HĐND quyết định, chủ tịch UBND huyện giao dự toán cho các đơn vị trực thuộc để làm cơ sở tổ chức thực hiện.

b. Chấp hành dự toán ngân sách

(i) Phân bổ và giao dự toán ngân sách nhà nước của đơn vị dự toán:

Sau khi được UBND huyện giao dự toán ngân sách, đơn vị dự toán cấp I

thuộc ngân sách cấp huyện thực hiện phân bổ, giao dự toán NSNN cho các đơn

vị sử dụng ngân sách trực thuộc và cấp dưới theo đúng quy trình, yêu cầu và thời hạn quy định. Dự toán giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách phải chi tiết theo từng lĩnh vực, nhiệm vụ chi.

Cơ quan tài chính huyện thực hiện kiểm tra dự toán đơn vị dự toán cấp I

thuộc ngân sách huyện đã giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách chậm nhất là

10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo phân bổ của đơn vị dự toán ngân sách. Trường hợp phát hiện việc phân bổ không đúng tổng mức và chi tiết theo từng lĩnh vực, nhiệm vụ của dự toán ngân sách đã được giao; không đúng chính sách, chế độ quy định thì yêu cầu đơn vị dự toán cấp I điều chỉnh lại.

(ii) Tổ chức thu ngân sách nhà nước:

Cơ quan thu ngân sách huyện là cơ quan tài chính, cơ quan thuế và cơ quan

khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao hoặc ủy quyền tổ chức thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước. Chỉ cơ quan thu ngân sách được tổ chức thu ngân sách.

Tổ chức quản lý và thực hiện thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước. Trường hợp được phép thu qua uỷ nhiệm thu thì phải nộp đầy đủ, đúng thời hạn vào Kho bạc Nhà nước theo quy định của Bộ Tài chính.

2 Trường hợp không tổ chưc HĐND quận, HĐND phường: UBND tỉnh giao dự toán cho UBND quận và UBND quận giao dự toán cho UBND phường trực thuộc như đối với các đơn vị dự toán.

212

Cơ quan thu có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản thu phải nộp vào ngân sách nhà nước;

Kiểm tra, kiểm soát các nguồn thu của ngân sách; kiểm tra, thanh tra việc chấp hành kê khai, thu, nộp ngân sách và xử lý hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

(iii) Tổ chức chi ngân sách nhà nước:

Cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước huyện có trách nhiệm kiểm tra, kiểm

soát và thanh toán đầy đủ, kịp thời theo tiến độ thực hiện các nhiệm vụ chi đã bố trí trong dự toán. Thủ trưởng cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước huyện có quyền từ chối các khoản chi không đủ điều kiện chi theo quy định, chịu trách nhiệm về quyết định của mình theo quy định của pháp luật và phải thông báo kịp thời cho cơ quan, tổ chức, đơn vị biết. Trường hợp cơ quan, tổ chức, đơn vị bị từ chối chi không thống nhất với quyết định của cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước, thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có quyền báo cáo với cơ quan giao dự toán trực tiếp và cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước cấp trên để xem xét xử lý.

Các cơ quan, tổ chức, đơn vị dự toán ngân sách không chấp hành đầy đủ

kịp thời chế độ báo cáo kế toán, quyết toán, báo cáo tài chính khác theo quy định, cơ quan tài chính có quyền yêu cầu Kho bạc Nhà nước tạm đình chỉ chi ngân sách, trừ các khoản chi lương, phụ cấp, trợ cấp xã hội, học bổng và một số

khoản chi cấp thiết theo quy định. Khi quyết định tạm đình chỉ chi ngân sách, cơ

quan tài chính đồng thời thông báo cho cơ quan quản lý cấp trên của các cơ quan, tổ chức, đơn vị bị tạm đình chỉ chi biết.

Các nhiệm vụ chi có tính chất thường xuyên phải chia đều trong năm để

chi; các nhiệm vụ chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm, sửa chữa lớn và các khoản chi không thường xuyên khác được đảm bảo nguồn thanh toán theo tiến độ thực hiện và trong phạm vi dự toán được giao.

Chi ngân sách nhà nước thực hiện theo nguyên tắc thanh toán trực tiếp từ

Kho bạc Nhà nước cho người hưởng lương, phụ cấp, trợ cấp và người cung cấp hàng hoá, dịch vụ. Trường hợp một số khoản chi chưa có đủ điều kiện thực hiện việc thanh toán trực tiếp từ Kho bạc Nhà nước, đơn vị sử dụng ngân sách được

213

tạm ứng kinh phí để chủ động chi theo dự toán được giao, sau đó đơn vị thanh toán với Kho bạc Nhà nước theo đúng quy định.

Đối với các khoản chi đầu tư xây dựng cơ bản: Căn cứ vào dự toán công

trình, hạng mục công trình được cấp có thẩm quyền quyết định và dự toán ngân sách được giao, giá trị khối lượng đã thực hiện và điều kiện chi ngân sách, chủ đầu tư lập hồ sơ gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch đề nghị thanh toán nếu đã đủ điều kiện chi hoặc đề nghị tạm ứng vốn theo quy định. Kho bạc Nhà nước kiểm tra số dư dự toán và tính hợp pháp của hồ sơ, tài liệu của chủ đầu tư gửi đến và các điều kiện chi.

Đối với các khoản chi thường xuyên: Căn cứ điều kiện chi ngân sách và

tiến độ triển khai công việc, thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách quyết định chi, gửi hồ sơ đề nghị Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch thanh toán hoặc tạm ứng theo chế độ quy định. Kho bạc Nhà nước kiểm tra số dư dự toán, tính hợp pháp của hồ sơ do đơn vị gửi đến và các điều kiện chi theo quy định, thực hiện xuất quỹ và hạch toán chi hoặc tạm ứng ngân sách theo quy định.

c. Quyết toán ngân sách

(i) Quyết toán ngân sách xã

UBND xã lập quyết toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn được giao và

quyết toán thu, chi ngân sách cấp xã gửi Ban kinh tế - xã hội của HĐND xã để thẩm tra, đồng thời gửi cơ quan tài chính huyện;

UBND xã báo cáo Thường trực HĐND xã quyết toán ngân sách để cho ý

kiến. Sau khi có ý kiến của Thường trực HĐND xã, UBND xã trình HĐND xã xem xét, phê chuẩn quyết toán ngân sách;

Chậm nhất là 05 ngày làm việc, kể từ ngày báo cáo quyết toán ngân sách xã

được phê chuẩn, UBND xã gửi báo cáo quyết toán ngân sách xã cho UBND huyện, cơ quan tài chính cấp huyện.

(ii) Quyết toán ngân sách huyện:

Cơ quan tài chính huyện thẩm định quyết toán thu, chi ngân sách xã đã

được HĐND xã phê chuẩn; thẩm định, xét duyệt quyết toán ngân sách các đơn vị dự toán cấp I thuộc cấp mình; tổng hợp, lập báo cáo quyết toán thu ngân sách

214

nhà nước trên địa bàn huyện được giao và quyết toán thu, chi ngân sách huyện

trình UBND huyện để gửi Ban Kinh tế - Xã hội của HĐND huyện để thẩm tra, đồng thời gửi Sở Tài chính;

UBND huyện báo cáo Thường trực HĐND huyện quyết toán ngân sách để

cho ý kiến. Sau khi có ý kiến của Thường trực HĐND huyện, UBND huyện trình HĐND huyện xem xét, phê chuẩn quyết toán ngân sách;

Chậm nhất là 05 ngày làm việc, kể từ ngày báo cáo quyết toán được phê chuẩn, UBND huyện gửi báo cáo quyết toán ngân sách huyện cho UBND tỉnh, Sở Tài chính3.

3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã trong lĩnh vực ngân sách

a. Căn cứ vào nhiệm vụ thu, chi ngân sách được cấp trên giao và tình hình

thực tế tại địa phương, quyết định:

- Dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, bảo đảm không thấp hơn dự

toán thu ngân sách nhà nước được cấp trên giao;

- Dự toán thu ngân sách, bao gồm các khoản thu ngân sách mà cấp huyện

hay cấp xã hưởng 100%, phần ngân sách địa phương được hưởng từ các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%), thu bổ sung từ ngân sách cấp trên;

- Dự toán chi ngân sách chi tiết theo chi đầu tư phát triển, chi thường

xuyên, dự phòng ngân sách. Trong chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên có mức chi cụ thể cho các lĩnh vực giáo dục - đào tạo và dạy nghề, khoa học và công nghệ.

b. Hội đồng nhân dân huyện quyết định phân bổ dự toán ngân sách huyện

bao gồm:

- Tổng số ngân sách, chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên theo từng

lĩnh vực dự phòng ngân sách;

Trường hợp không tổ chức HĐND phường, HĐND quận, UBND phường lập báo cáo quyết toán hàng năm báo cáo phòng Tài chính - Kế hoạch quận để xét duyệt, tổng hợp, lập báo cáo thu chi ngân sách quận, báo cáo UBND quận gửi Sở tài chính thẩm định, tổng hợp quyết toán NSNN, báo cáo UBND thành phố, trình HĐND thành phố phê chuẩn. Trường hợp không tổ chức HĐND phường, UBND phường lập báo cáo quyết toán hàng năm báo cáo phòng Tài chính - Kế hoạch.

215

- Dự toán chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên của từng cơ quan, đơn vị

thuộc cấp huyện theo từng lĩnh vực;

- HĐND huyện quyết định mức bổ sung cho ngân sách từng xã, gồm bổ

sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu.

c. HĐND xã quyết định phân bổ ngân sách xã theo biểu mẫu số 06, phụ lục

kèm theo Thông tư 344/2016/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Bộ Tài chính, trong đó các nội dung chi được phân loại theo mục lục ngân sách nhà nước (chương, loại, khoản, tương ứng với các nội dung chi được phân loại theo lĩnh vực chi của các các cơ quan, tổ chức thuộc cấp xã như: Đảng ủy xã, HĐND

xã, Mặt trận Tổ quốc xã,... ).

d. HĐND huyện phê chuẩn quyết toán ngân sách huyện, bao gồm: cân đối ngân sách huyện, quyết toán thu ngân sách nhà nước của huyện, quyết toán chi ngân sách cấp huyện và chi ngân sách xã theo cơ cấu chi, quyết toán chi ngân sách cấp huyện theo từng lĩnh vực, cơ quan, tổ chức, quyết toán chi chương trình mục tiêu quốc gia ngân sách cấp huyện và ngân sách xã. HĐND xã phê chuẩn quyết toán ngân sách xã bao gồm: cân đối quyết toán ngân sách xã, quyết toán thu ngân sách, quyết toán chi ngân sách xã, quyết toán chi đầu tư phát triển và thực hiện thu chi các hoạt động tài chính khác của xã.

đ. Quyết định các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách đã được HĐND quyết định.

e. Quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách trong trường hợp cần thiết.

g. Giám sát việc thực hiện ngân sách đã được HĐND quyết định.

h. HĐND huyện có thẩm quyền bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật về tài

chính - ngân sách của UBND, Chủ tịch UBND cùng cấp và HĐND xã trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên

i. HĐND huyện quyết định kế hoạch đầu tư công trung hạn, hàng năm vốn

ngân sách cấp huyện. HĐND xã quyết định kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn

216

ngân sách xã. HĐND huyện, xã quyết định chủ trương đầu tư các dự án đầu tư công thuộc cấp huyện, xã74.

II. Kỹ năng phân tích, thẩm tra và phê duyệt báo cáo dự toán, quyết toán ngân sách nhà nước

1. Nội dung các báo cáo dự toán, báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước cấp huyện, cấp xã

Báo cáo dự toán, quyết toán NSNN mà UBND cấp huyện, cấp xã trình HĐND và được HĐND xem xét, thảo luận và quyết định bao gồm:

a. Báo cáo dự toán ngân sách huyện

Ngoài phần thuyết minh, các mẫu biểu báo cáo dự toán bao gồm:

Báo cáo
Biểu mẫu
Cân đối ngân sách huyện năm...
Biểu số 69/CK-NSNN
Cân đối nguồn thu, chi dự toán ngân sách cấp
huyện và ngân sách xã năm...
Biểu số 70/CK-NSNN
Dự toán thu ngân sách nhà nước năm...
Biểu số 71/CK-NSNN
Dự toán chi ngân sách huyện, chi ngân sách
cấp huyện và chi ngân sách xã theo cơ cấu chi năm...
Biểu số 72/CK-NSNN
Dự toán chi ngân sách cấp huyện theo từng
lĩnh vực năm...
Biểu số 73/CK-NSNN
Dự toán chi ngân sách cấp huyện cho từng cơ
quan, tổ chức năm...
Biểu số 74/CK-NSNN
Dự toán chi đầu tư phát triển của ngân sách
cấp huyện cho từng cơ quan, tổ chức theo lĩnh vực năm...
Biểu số 75/CK-NSNN

74 Luật Đầu tư công năm 2019.

○ Xem chi tiết nội dung mẫu biểu tại phụ lục Thông tư 343/2016/TT-BTC hướng dẫn thực hiện công khai ngân sách nhà nước đối với các cấp ngân sách.

217

Dự toán chi thường xuyên của ngân sách cấp
huyện cho từng cơ quan, tổ chức theo lĩnh vực năm...
Biểu số 76/CK-NSNN
Dự toán thu, số bổ sung và dự toán chi cân
đối ngân sách từng xã năm...
Biểu số 77/CK-NSNN
Dự toán chi bổ sung có mục tiêu từ ngân sách
cấp huyện cho ngân sách từng xã năm...
Biểu số 78/CK-NSNN
Dự toán chi chương trình mục tiêu quốc gia
ngân sách cấp huyện và ngân sách xã năm.
Biểu số 79/CK-NSNN
Danh mục các chương trình, dự án sử dụng
vốn ngân sách nhà nước năm..
Biểu số 80/CK-NSNN

Bảng 1 -Báo cáo dự toán UBND trình HĐND cấp huyện

b. Báo cáo quyết toán ngân sách huyện7

Ngoài phần thuyết minh, các mẫu biểu báo cáo quyết toán bao gồm:

Báo cáo
Biểu mẫu
Cân đối ngân sách huyện năm..
Biểu số 96/CK-NSNN
Quyết toán nguồn thu ngân sách nhà nước năm..
Biểu số 97/CK-NSNN
Quyết toán chi ngân sách huyện, chi ngân sách
cấp huyện và chi ngân sách xã theo cơ cấu chi năm...
Biểu số 98/CK-NSNN
Quyết toán chi ngân sách cấp huyện theo từng
lĩnh vực năm...
Biểu số 99/CK-NSNN
Quyết toán chi ngân sách cấp huyện theo cho
từng cơ quan, tổ chức năm...
Biểu số 100/CK-NSNN
Quyết toán chi bổ sung từ ngân sách cấp huyện
cho ngân sách từng xã năm ...
Biểu số 101/CK-NSNN
Quyết toán chi chương trình mục tiêu quốc gia
ngân sách cấp huyện và ngân sách xã năm...
Biểu số 102/CK-NSNN

Bảng 2 -Báo cáo quyết toán UBND trình HĐND cấp huyện

7 Xem chi tiết nội dung mẫu biểu tại phụ lục Thông tư 343/2016/TT-BTC hướng dẫn thực hiện công khai ngân sách nhà nước đối với các cấp ngân sách.

218

c. Báo cáo dự toán ngân sách xã và kế hoạch hoạt động tài chính khác ở

xã7.

Ngoài phần thuyết minh, các mẫu biểu báo cáo dự toán ngân sách xã:

Báo cáo
Biểu mẫu
Cân đối ngân sách xã năm...
Biểu số 103/CK TC-NSNN
Dự toán thu ngân sách xã năm...
Biểu số 104/CK TC-NSNN
Dự toán chi ngân sách xã năm...
Biểu số 105/CK TC-NSNN
Dự toán chi đầu tư phát triển năm...
Biểu số 106/CK TC-NSNN
Kế hoạch thu, chi các hoạt động tài
chính khác năm...
Biểu số 107/CK TC-NSNN

Bảng 3 -Báo cáo dự toán UBND trình HĐND cấp xã

d. Báo cáo quyết toán ngân sách xã và thực hiện các hoạt động tài chính khác ở xã78

Ngoài phần thuyết minh, các mẫu biểu báo cáo quyết toán ngân sách xã:

Báo cáo
Biểu mẫu
Cân đối ngân sách xã năm...
Biểu số 116/CK TC-NSNN
Quyết toán thu ngân sách xã năm...
Biểu số 117/CK TC-NSNN
Quyết toán chi ngân sách xã năm...
Biểu số 118/CK TC-NSNN
Quyết toán chi đầu tư phát triển năm...
Biểu số 119/CK TC-NSNN
Thực hiện thu, chi các hoạt động tài
chính khác năm..
Biểu số 120/CK TC-NSNN

Bảng 4 -Báo cáo quyết toán UBND trình HĐND cấp xã

2. Xem xét, phân tích báo cáo dự toán, báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước cấp huyện, cấp xã

a. Ý nghĩa của việc phân tích báo cáo dự toán, quyết toán ngân sách

Phân tích báo cáo dự toán và báo cáo quyết toán NSNN là quá trình vận dụng tổng thể các phương pháp phân tích để đánh giá thực trạng thu, chi, cân đối

Xem chi tiết nội dung mẫu biểu tại phụ lục Thông tư 343/2016/TT-BTC hướng dẫn thực hiện công khai ngân sách nhà nước đối với các cấp ngân sách.

Xem chi tiết nội dung mẫu biểu tại phụ lục Thông tư 343/2016/TT-BTC hướng dẫn thực hiện công khai ngân sách nhà nước đối với các cấp ngân sách.

219

NSNN của địa phương, giúp cho các chủ thể quản lý và đại biểu HĐND nắm được thực trạng NSNN của địa phương, trên cơ sở đó đưa ra các quyết định phù hợp trong lĩnh vực ngân sách.

Phân tích báo cáo dự toán, quyết toán ngân sách nhằm đánh giá tình hình

thu chi ngân sách, giúp các đại biểu HĐND giảm bớt các nhận định chủ quan cũng như trực giác khi giám sát thực hiện NSNN, thảo luận và quyết định dự toán NSNN hay phê chuẩn quyết toán NSNN.

b. Mục tiêu phân tích báo cáo dự toán, quyết toán ngân sách

Phân tích NSNN của đại biểu HĐND là nhằm mục tiêu:

- Thực hiện giám sát NSNN của địa phương;

- Quyết định dự toán NSNN của địa phương và phân bổ các nhiệm vụ chi

phù hợp với định hướng của các cơ quan quản lý nhà nước cấp trên;

- Phê chuẩn quyết toán NSNN của địa phương đảm bảo đúng quy định.

c. Phương pháp phân tích ngân sách cấp huyện, ngân sách xã

Mặc dù có nhiều phương pháp phân tích tài chính, nhưng trong phân tích

NSNN, phương pháp phổ biến được sử dụng hiện nay là phương pháp tỷ lệ, phương pháp so sánh và phương pháp phân tích nhân tố ảnh hưởng:

(i) Phương pháp tính tỷ lệ phần trăm: chủ yếu nhằm đánh giá các chỉ tiêu

thu chi so với tổng thể hay so với các chỉ tiêu thu chi khác và đơn vị thường được sử dụng là phần trăm (%). Ví dụ, như khi tính toán cơ cấu thu ngân sách huyện, từng khoản thu sẽ được tính ra tỷ lệ phần trăm so với tổng thu ngân sách huyện, nhằm xác định tầm quan trọng của từng nguồn thu so về mặt quy mô.

Phương pháp tỷ lệ phần trăm thường được áp dụng:

- Tính tỷ lệ phần trăm của từng chỉ tiêu thu, chi ngân sách so với tổng thể

ngân sách hay so với tổng ngân sách theo lĩnh vực, nhằm xác định cơ cấu thu, chi;

- So sánh chỉ tiêu thu với chỉ tiêu chi để đánh giá mức độ đảm bảo cho các

nhiệm vụ chi từ các nguồn thu của NSNN phân cấp cho huyện hoặc xã;

220

- Tính tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu thu, chi ngân sách theo thời gian.

Đối với với nội dung này, việc tính toán cần xác định thời gian gốc và cần đồng nhất về đơn vị đo lường.

(ii) Phương pháp so sánh: được sử dụng để phân tích kết quả, phân tích mức độ biến động của chỉ tiêu, từ đó giúp cho các chủ thể quan tâm có căn cứ để đề ra quyết định lựa chọn. Phương pháp so sánh thường được áp dụng trong các phạm vi sau:

- So sánh số thực hiện kỳ này và số thực hiện kỳ trước: xác định xu hướng thay đổi tình hình thực hiện các chỉ tiêu NSNN;

- So sánh số thực hiện (số quyết toán) và số dự toán: phản ánh mức độ đạt được theo kế hoạch và chất lượng dự toán;

- So sánh số liệu của huyện hay xã với số liệu trung bình của tỉnh: xác định

xem huyện hay xã đang hoạt động như thế nào so với các huyện, xã khác trong phạm vi địa bàn tỉnh.

Khi sử dụng phương pháp so sánh, cần chú ý một số vấn đề sau đây:

- Điều kiện so sánh được của chỉ tiêu: chỉ tiêu nghiên cứu muốn so sánh

được phải đảm bảo thống nhất về nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, thống nhất về thời gian và đơn vị đo lường.

- Gốc so sánh: Gốc so sánh được lựa chọn có thể là gốc về không gian hay

thời gian, tuỳ thuộc vào mục đích phân tích. Về không gian, có thể so sánh xã này này với xã khác, huyện này với huyện khác,... Việc so sánh về không gian thường được sử dụng khi cần xác định mức độ hiệu quả hay sự phấn đấu hoàn thành kế hoạch của địa phương so với địa phương khác. Cần lưu ý rằng, khi so sánh về mặt không gian, điểm gốc và điểm phân tích có thể đổi chỗ cho nhau mà không ảnh hưởng đến kết luận phân tích. Về thời gian, gốc so sánh được lựa chọn là các kỳ đã qua (kỳ trước, năm trước) hay kế hoạch, dự toán.... cụ thể:

+ Khi xác định xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích, gốc so

sánh được xác định là trị số của chỉ tiêu phân tích ở kỳ trước hoặc hàng loạt kỳ trước (năm trước). Lúc này sẽ so sánh trị số chỉ tiêu giữa kỳ phân tích với trị số chỉ tiêu ở các kỳ gốc khác nhau;

221

+ Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, gốc so sánh

là trị số kế hoạch của chỉ tiêu phân tích. Khi đó, tiến hành so sánh giữa trị số thực tế với trị số kế hoạch của chỉ tiêu nghiên cứu.

- Các dạng so sánh: Các dạng so sánh thường được sử dụng trong phân tích là so sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối.

+ So sánh bằng số tuyệt đối: Phản ánh qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu nên

khi so sánh bằng số tuyệt đối, các nhà phân tích sẽ thấy rõ được sự biến động về qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ (điểm) phân tích với kỳ (điểm) gốc;

+ So sánh bằng số tương đối: Khác với số tuyệt đối, khi so sánh bằng số tương đối, các đại biểu HDNN sẽ nắm được kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, xu hướng biến động, quy luật biến động của các chỉ tiêu thu chi NSNN.

(iii) Phương pháp phân tích các nhân tố ảnh hưởng: Phương pháp này dùng

để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu NSNN và từ đó tìm ra giải pháp định hướng nhằm đạt được mục tiêu đã định.

Các bước thực hiện phân tích bao gồm:

- Liệt kê các nhân tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu thu chi. Các nhân tố ảnh

hưởng bao gồm các nhóm: nhóm nhân tố kinh tế như trình độ phát triển kinh tế;

nhóm nhân tố xã hội như trình độ dân trí, tập quán,...; nhóm nhân tố về chương trình, chính sách có ảnh hưởng trực tiếp đến thu, chi ngân sách; nhóm nhân tố về quản lý của UBND huyện hay xã.
- Trên cơ sở các nhân tố ảnh hưởng, xác định mức độ ảnh hưởng đến tăng giảm nguồn thu và chi ngân sách cấp huyện hay ngân sách xã, lựa chọn ba nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất đến nguồn thu và nhiệm vụ chi và có khả năng cải thiện hay giảm thiểu các tác động của chúng.
- Phân tích kỹ các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất các giải pháp để cải thiện.
d. Nội dung phân tích báo cáo dự toán, quyết toán ngân sách huyện, ngân
sách xã
Phân tích ngân sách huyện, ngân sách xã của đại biểu HĐND có thể thực hiện theo các nội dung chủ yếu sau:
(i) Đánh giá chung về NSNN của địa phương:
222
÷

Việc đánh giá khái quát tình hình NSNN sẽ giúp đưa ra những nhận định sơ

bộ, ban đầu về thực trạng quy mô ngân sách, cấu trúc cấu trúc cũng như năng

lực tài chính của chính quyền địa phương, qua đó có thể đưa ra các quyết định nhằm nâng cao năng lực tài chính của địa phương. Theo đó các chỉ tiêu cần phân tích bao gồm:

- Quy mô ngân sách:

+ Tổng thu NSNN, tổng thu NSNN của huyện hay xã được hưởng và tổng

chi NSNN của huyện hay xã;

+ Tốc độ tăng trưởng thu, chi của cấp huyện hay xã qua các năm và so với

các địa phương khác.

- Kết cấu thu chi ngân sách cấp huyện hay xã (tính theo tỷ lệ %):

+ Kết cấu thu ngân sách cấp huyện, xã theo số thu được hưởng 100%, số

thu được hưởng theo tỷ lệ phần trăm phân chia, số bổ sung cân đối;

+ Kết cấu chi ngân sách cấp huyện, xã theo chi thường xuyên, chi đầu tư;

+ Năng lực tài chính của huyện, xã: Số thu ngân sách được hưởng theo

phân cấp so với tổng chi và so với chi thường xuyên. Chỉ tiêu này phản ánh mức độ tự chủ, thực hiện các nhiệm vụ chi ngân sách của địa phương.

(ii) Phân tích tình hình thu ngân sách cấp huyện, ngân sách xã:

Phân tích thu ngân sách là xem xét chi tiết kết cấu và sự biến động của các

nguồn thu.

- Phân tích cơ cấu thu: tỷ trọng thu ngân sách chi tiết theo từng nguồn thu.

Trên cơ sở đó, đại biểu HĐND nên chọn ra khoảng 3 nguồn thu có tỷ trọng lớn nhất để xem xét, phân tích chi tiết, có thể áp dụng phương pháp phân tích yếu tố ảnh hưởng để xem xét sự thay đổi của các nguồn thu này và đề ra các giải pháp nhằm cải thiện nguồn thu, đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu dự toán;

- Phân tích tốc độ tăng trưởng các nguồn thu của huyện hay xã qua các năm

và so với các địa phương khác. Theo đó, chọn ra 3 nguồn thu có mức độ biến độ cao nhất để xem xét, phân tích chi tiết, nhằm luận giải sự biến độ và đánh giá khả năng biến động trong kỳ kế hoạch;

223

- Phân tích mức độ hoàn thành chỉ tiêu thu ngân sách theo dự toán: so sánh

số thực hiện với số dự toán, và chỉ ra các nguồn thu có mức độ hoàn thành và không hoàn thành cao nhất và phân tích;

- Phân tích các nguồn thu có tính chất thường xuyên và bền vững như các nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí.

(iii) Phân tích tình hình chi ngân sách cấp huyện, ngân sách xã:

- Phân tích theo cơ cấu chi: Chi thường xuyên; chi đầu tư phát triển (có tính

chất đầu tư phát triển, xây dựng cơ bản...) từ nguồn vốn đầu tư phát triển; chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu; chi khác;

- Phân tích tốc độ tăng chi theo từng nhiệm vụ chi qua các năm và so với các địa phương khác;

- Phân tích nhiệm vụ chi quan trọng trong từng lĩnh vực; Phân tích dự toán

kinh phí theo nhiệm vụ chi quan trọng dự kiến trong từng lĩnh vực giai đoạn kế hoạch, so sánh với các năm trước,phân tích nguyên nhân tăng, giảm;

- Đánh giá kết quả thực hiện thu chi ngân sách; khả năng đáp ứng nguồn

vốn so với nhiệm vụ được giao; Phân tích các thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân, giải pháp thực hiện tốt các nhiệm vụ thu chi ngân sách;

- Phân tích mức độ giải ngân vốn đầu tư trong năm, phân tích thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân, giải pháp thực hiện nhằm bảo đảm việc giải ngân.

(iv) Phân tích các hoạt động tài chính khác của xã:

Các hoạt động tài chính khác ngoài ngân sách của xã bao gồm:

- Các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách của xã: là các quỹ do cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập và các khoản đóng góp trên nguyên tắc tự

nguyện của nhân dân do thôn, bản huy động đã được HĐND xã quyết định nhưng không đưa vào ngân sách xã theo chế độ quy định. Nội dung, mức và phương thức quản lý thu, chi quỹ thực hiện theo quy định của Nhà nước đối với từng quỹ và quy định của HĐND xã.

- Tài chính các hoạt động sự nghiệp của xã: bao gồm các khoản thu, chi phát sinh từ các hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, các hoạt động quản lý đò, chợ, đầm, hồ, ao, đất đai, tài nguyên,

224

bến bãi và các hoạt động sự nghiệp khác do UBND xã trực tiếp đứng ra tổ chức và quản lý theo chế độ quy định.

- Các hoạt động tài chính của thôn, bản: Các khoản đóng góp trên nguyên tắc tự nguyện của nhân dân để sử dụng vào các mục đích cụ thể phục vụ cho lợi

ích chung của cộng đồng thôn, bản do thôn, bản trực tiếp huy động và không đưa vào ngân sách xã.

- Việc phân tích các hoạt động tài chính khác của xã cũng tương tự như các

nội dung phân tích nêu trên nhằm đảm bảo các hoạt động tài chính khác c được đánh giá đầy đủ làm cơ sở cho việc thẩm tra, giám sát của HĐND xã .

3. Thẩm tra báo cáo dự toán, báo cáo quyết toán ngân sách cấp huyện, cấp xã

Thẩm tra dự toán, quyết toán là một khâu do Ban Kinh tế - Xã hội thực hiện trước khi các đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã thảo luận, ra quyết định dự toán, phê chuẩn quyết toán ngân sách, cụ thể:

Hình 1: Trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan HĐND

UBND huyện, xã HĐND huyện, HĐND xã

Cơ quan tài chính Ban Thường Kỳ họp HĐND

huyện, xã Kinh tế - xã trực

hội HĐND

Dự toán/quyết toán, phương án phân bổ Thẩm tra Cho ý kiến Thảo luận, quyết định

a. Thẩm tra dự toán

- Hồ sơ dự toán trình Ban Kinh tế - Xã hội gồm:

+ Tờ trình về dự toán thu, chi ngân sách;

+ Thuyết minh phương án phân bổ dự toán ngân sách;

+ Dự thảo Nghị quyết về dự toán và phương án phân bổ ngân sách;

+ Các biểu Dự toán theo quy định;

225

+ Biểu quyết toán năm trước (Ban KT-XH có thể yêu cầu thêm);

+ Biểu dự toán năm trước (Ban KT- XH có thể yêu cầu thêm).

- Trong thẩm tra dự toán ngân sách, nên chú ý:

+ Thẩm tra hồ sơ trình của UBND: tờ trình, biểu mẫu, thuyết minh, dự thảo Nghị quyết của HĐND (Số lượng biểu mẫu, nội dung và thể thức biểu mẫu có phù hợp quy định của pháp luật; kèm theo dự thảo Nghị quyết có phụ lục biểu mẫu);

+ Thẩm tra nội dung tờ trình, dự thảo nghị quyết:

Trong thực tế, việc thẩm tra thường chú trọng đến dự toán chi ngân sách

mà chưa quan tâm nhiều đến dự toán thu ngân sách. Do vậy, cần tập trung nội dung chính sau:

(1) Đối với dự toán thu:

- Căn cứ số thu ngân sách cấp trên giao, kết quả thực hiện của năm trước

năm kế hoạch, các nhân tố tác động tăng- giảm số thu trong năm (phát triển kinh tế- xã hội, thay đổi chính sách thu...) để quyết định dự toán thu NSNN trên địa bàn đảm bảo không thấp hơn số cấp trên giao; trường hợp giao số thu ngân sách cao hơn thì cần làm rõ nguồn và tính khả thi (nhất là nguồn thu sử dụng đất);

- Thu ngân sách của huyện, xã gồm: (1) thu ngân sách hưởng theo phân cấp

(khoản thu được hưởng 100% và khoản thu được hưởng theo tỷ lệ điều tiết); (2) thu bổ sung từ ngân sách cấp trên gồm bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu (trong bổ sung có mục tiêu có bổ sung thực hiện các chính sách, chế độ mới mà ngân sách huyện, xã không cân đối được);

- Thu các khoản quản lý qua ngân sách (phí, lệ phí ...);

- Quan tâm đến các giải pháp thực hiện thu ngân sách.

(2) Đối với dự toán chi cần lưu ý xem xét kỹ:

- Cân đối thu - chi ngân sách của địa phương;

- Dự phòng ngân sách đảm bảo trong khung từ 2% đến 5% tổng chi ngân

sách địa phương;

226

- Dự toán chi bố trí cho các cấp đúng theo phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ

chi của HĐND cấp tỉnh. Dự toán chi được rà soát, sắp xếp bố trí theo thứ tự ưu tiên;

- Các khoản chi phải được quyết định phân bổ theo đầu mối và theo lĩnh vực ngay từ đầu năm; số chi cho giáo dục đào tạo, sự nghiệp môi trường (cả chi thường xuyên và chi đầu tư xây dựng cơ bản) không thấp hơn số cấp trên giao. Không bố trí các khoản chi chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt chế độ, định mức chi;

- Đối với chi xây dựng cơ bản: (1) Bố trí vốn cho các dự án trong khả năng

ngân sách được HĐND quyết nghị. (2) Thẩm tra danh mục các dự án đầu tư đảm

bảo đủ thủ tục (các dự án phải có trang danh mục kế hoạch đầu tư công trung hạn và được quyết định đầu tư trước khi bố trí vốn thực hiện); bố trí vốn cho các dự án hoàn thành đảm bảo nhóm B không quá 4 năm, nhóm C không quá 3 năm.

(3) Phân bổ chi tiết vốn cho các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách cấp trên hỗ trợ bổ sung có mục tiêu phải đảm bảo đúng danh mục, đúng mục tiêu đã được cấp trên quyết định. (4) Bố trí vốn thanh toán cho các công trình hoàn thành quyết toán. (5) Các công trình trọng điểm của địa phương phải được ưu tiên tập trung bố trí vốn, tránh dàn trải;

- Đối với chi thường xuyên: (1) Phân bổ đúng định mức. (2) Rà soát kỹ các

nhiệm vụ chi ngoài khoán, không bố trí dự toán cho các nhiệm vụ chuyên môn thường xuyên đã được tính trong định mức khoán chi. (3) Chi cải tạo, sửa chữa đối với các công trình có mức vốn trên 500 triệu đồng cũng phải lập danh mục riêng và phải đủ thủ tục như đối với các dự án đầu tư XDCB. (4) Trích nguồn chi cải cách tiền lương đảm bảo tỷ lệ quy định;

- Đối với chi từ nguồn thu để lại cho đơn vị: đảm bảo đúng mục đích, đúng chế độ, không chi sai tính chất nguồn thu.

Việc thẩm tra dự toán cần bám sát nguyên tắc, định hướng phân bổ dự toán

theo hướng dẫn của cơ quan cấp trên. Trong báo cáo thẩm tra nêu rõ quan điểm, thái độ của Ban, những nội dung nào thống nhất (nêu khái quát), những nội dung

nào chưa rõ đề nghị giải trình, những nội dung nào đồng tình nhưng vượt thẩm

227

quyền phải xin ý kiến, những nội dung không thống nhất phải nêu rõ lý do, căn cứ và đề xuất hướng xử lý.

b. Thẩm tra quyết toán

Quyết toán ngân sách là khâu cuối cùng của chu trình quản lý ngân sách

nhằm xác định và khẳng định việc thực hiện dự toán thu, chi ngân sách do các cấp có thẩm quyền quyết định. Trong quá trình thẩm tra quyết toán, cần phải quan tâm một số vấn đề sau: (1) Sự đầy đủ của hồ sơ trình báo cáo quyết toán (biểu mẫu, thuyết minh, xác nhận của kho bạc, dự thảo nghị quyết, tài liệu khác theo yêu cầu của HĐND nếu có); (2) sự đúng đắn, chính xác, hợp lý, hợp luật của các nội dung đề nghị quyết toán; (3) những vấn đề cần rút kinh nghiệm trong công tác quản lý ngân sách (trong xây dựng và quyết định dự toán ngân sách, trong điều hành ngân sách...).

Các yêu cầu cơ bản đối với quyết toán ngân sách huyện, xã bao gồm:

- Quyết toán ngân sách (trừ cấp xã) được tổng hợp từ quyết toán của các

đơn vị dự toán thuộc cấp mình và quyết toán của ngân sách cấp dưới;

- Quyết toán chi ngân sách không được vượt quá số quyết toán thu ngân

sách;

- Số quyết toán thu phải là số thực thu vào cơ quan kho bạc trong niên độ.

Số quyết toán chi là số đủ thủ tục thanh toán trong niên độ theo chế độ quy định và số chi chuyển nguồn theo quyết định của cấp có thẩm quyền;

- Nội dung quyết toán phải đúng với nội dung chỉ tiêu ghi trong dự toán

được duyệt (gồm cả dự toán đầu năm và dự toán điều chỉnh, bổ sung trong năm).

Khi thẩm tra báo cáo quyết toán ngân sách, cần chú ý:

(1) Thẩm tra căn cứ pháp lý:

+ Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã được HĐND thông qua;

+ Căn cứ dự toán và giải pháp thực hiện dự toán ngân sách được HĐND

quyết định;

+ Số liệu báo cáo quyết toán thu, chi, kết dư đã đối chiếu với báo cáo của

Kho bạc nhà nước, cơ quan thuế chưa? trường hợp có chênh lệch, UBND đã làm rõ và xử lý thế nào?

228

+ Ý kiến kết luận (nếu có) của Kiểm toán Nhà nước về báo cáo quyết toán của UBND trình HĐND;

+ Các vấn đề về số liệu quyết toán mà kiểm toán, thanh tra kiến nghị (nếu có) đã được xem xét và xử lý như thế nào?

(2) Đối với quyết toán thu ngân sách:

+ Quyết toán cả số thu NSNN trên địa bàn và thu ngân sách huyện, xã được

hưởng. Theo đó, làm rõ tổng hợp các khoản thu có đúng không? Có phù hợp với các khoản mục trong dự toán thu không? (Chú ý thu chuyển nguồn từ năm trước chuyển sang và thu kết dư năm trước; đánh giá xu hướng tăng, giảm của các khoản thu so với năm trước để rút kinh nghiệm trong xây dựng, điều hành ngân sách và phân bổ dự toán năm sau);

+ Đánh giá các khoản thu có đạt dự toán không? Nguyên nhân chủ quan,

khách quan. Có so sánh đối chiếu với số ước thực hiện thu ngân sách trong báo cáo ngân sách cuối năm trước;

+ Đánh giá có nợ đọng thuế nếu có, làm rõ khả năng thu nợ;

+ Những vấn đề cần rút kinh nghiệm trong xây dựng dự toán thu và trong

điều hành thực hiện dự toán thu (chống thất thu, chống thu sai quy định, chống lạm thu).

(3) Đối với quyết toán chi ngân sách:

+ Làm rõ tổng hợp các khoản chi có phù hợp với các khoản mục chi trong

dự toán, đúng tính chất nguồn kinh phí;

+ Có đảm bảo cân đối thu - chi ngân sách? Có đề nghị quyết toán chi lớn

hơn thu ngân sách?

+ Tình hình và mức độ thực hiện các khoản dự toán chi, nhất là chi cho

giáo dục đào tạo, sự nghiệp môi trường; chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia phải đúng mục tiêu; chi nguồn cải cách tiền lương đúng mục đích;

+ Làm rõ nguyên nhân khách quan và chủ quan không hoàn thành dự toán

chi nếu có;

+ Quyết toán chi phải thuyết minh hiệu quả sử dụng ngân sách, đối chiếu

với kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế xã hội do HĐND giao;

229

+ Việc thực hiện kết luận, kiến nghị của kiểm toán nhà nước (nếu có): các khoản phải xuất toán, các khoản giảm chuyển nguồn tăng kết dư, các khoản tăng chuyển nguồn, giảm kết dư; các khoản phải hoàn trả ngân sách cấp trên..

III. Kỹ năng giám sát thực hiện ngân sách nhà nước cấp huyện, cấp xã

1. Các nội dung cần giám sát trong thực hiện ngân sách nhà nước cấp huyện, cấp xã

Giám sát NSNN là việc theo dõi, kiểm tra thông qua hệ thống thông tin, báo cáo nhằm xác định tình trạng NSNN, từ đó phát hiện sớm các vấn đề và có hướng xử lý kịp thời. Giám sát NSNN góp phần quan trọng vào việc đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng NSNN. Kết quả giám sát NSNN chỉ ra mức độ chấp hành, tuân thủ những luật lệ, quy chế, chính sách quản lý tài chính của Nhà nước; cơ cấu NSNN,... trên cơ sở đó, khắc phục những tồn tại, yếu kém trong quản lý và sử dụng NSNN của cơ quan, đơn vị chịu sự giám sát.

Nội dung giám sát trong lĩnh vực ngân sách bao gồm: (1) Dự toán NSNN;

(2) phân bổ ngân sách cho các đơn vị dự toán và các đơn vị sử dụng ngân sách; (3) quá trình chấp hành NSNN; (4) phê chuẩn quyết toán NSNN.

Trong các kỳ họp HĐND, các đại biểu thực hiện thảo luận và chất vấn về các vấn đề ngân sách, nên chú ý các nội dung sau:

a. Thảo luận và chất vấn về thu NSNN

Thảo luận và chất vấn về thu NSNN nên tập trung vào:

- Tính đầy đủ và hợp lý của các khoản thu NSNN so với dự toán, so với kỳ trước và trong tình hình phát triển kinh tế. Đánh giá chính sách thu ngân sách trong mối quan hệ với các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương (huyện, xã);

- Tỷ trọng thu ngân sách từ thuế phí, lệ phí với các khoản thu khác;

- Các nguồn thu có vai trò quan trọng (tỷ trọng lớn);

- Các nguồn thu có biến động lớn (tốc độ tăng trưởng lớn);

- Tình hình nợ thuế, thất thu thuế ở các khu vực và ở các lĩnh vực;

- Các yếu tố ảnh hưởng và các biện pháp để hoàn thành dự toán thu NSNN.

b. Thảo luận và chất vấn về chi ngân sách cấp huyện, xã

230

Thảo luận và chất vấn về chi ngân sách cần tập trung vào:

- Cơ cấu chi ngân sách và sự chuyển dịch của cơ cấu chi ngân sách. Quan

hệ giữa thu từ thuế, phí với chi thường xuyên.

- Tính đầy đủ và hợp lý của các khoản chi ngân sách so với dự toán, so với

kỳ trước và trong tình hình phát triển kinh tế. Đánh giá chính sách chi ngân sách

trong mối quan hệ với các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.

- Chi ngân sách với việc thực hiên các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội

của huyện, xã; khả năng huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển;

- Khả năng vốn đầu tư công từ nguồn NSNN cho các công trình, dự án. Số

dự án công trình đã và đang triển khai? các công trình đã hoàn thành, các công trình dở dang, chuyển tiếp, số vốn đã giải ngân, số vốn còn nợ đọng...;

- Tình trạng lãng phí, tham nhũng, tiêu cực trong quản lý và sử dụng ngân

sách của huyện hay xã.

c. Giám sát về dự toán ngân sách cấp huyện, ngân sách xã

Giám sát dự toán ngân sách cần tập trung đánh giá tình hình thực hiện dự toán ngân sách năm hiện hành và các giải pháp thực hiện. Việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ thu chi ngân sách năm hiện hành là căn cứ để xây dựng dự toán ngân sách năm sau.

Các nội dung giám sát như nội dung phần (a) và (b).

d. Giám sát về phân bổ ngân sách cấp huyện, ngân sách xã

Khi tiến hành giám sát phân bổ ngân sách cần đánh giá trên các mặt:

- Nguyên tắc phân bổ, tính công bằng, hợp lý và tích cực;

- Căn cứ phân bổ nhiệm vụ chi cho các cơ quan, đơn vị đó theo đúng định

mức phân bổ do HĐND tỉnh quyết định chưa? Nhiệm vụ giao cho năm kế hoạch; tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị dự toán và sử dụng ngân sách trong năm trước;

- So sách dự toán năm trước và ước thực hiện năm hiện hành; xem xét, so

sánh mức phân bổ chi cùng một lĩnh vực, cú tính chất phổ biến (như chi quản lý nhà nước) giữa các cơ quan, đơn vị trực thuộc;

231

- Giám sát số bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu của huyện cho các xã, đảm bảo công bằng, hợp lý giữa các xã; thể hiện sự ưu tiên cho các xã nghèo cũng như khuyến khích các địa phương có tiềm năng phát triển nhanh.

đ. Giám sát quá trình chấp hành dự toán

Giám sát quá trình chấp hành dự toán chú trọng vào:

- Chấp hành chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi ngân sách;

- Tổ chức thu các khoản thu nộp ngân sách qua hệ thống Kho bạc;

- Thanh toán các khoản chi ngân sách qua hệ thống Kho bạc;

- Thực hiện cơ chế tài chính tại các đơn vị sử dụng ngân sách.

e. Giám sát quá trình lập, thẩm định, xét duyệt và phê chuẩn quyết toán

ngân sách cấp huyện, xã

Giám sát quá trình lập, thẩm định, xét duyệt và phê chuẩn quyết toán ngân

sách cần:

- Căn cứ vào dự toán đã được HĐND quyết định;

- Căn cứ vào Báo cáo của UBND về tình hình thực hiện dự toán ngân sách

của năm quyết toán;

- Kiến nghị chỉ đưa vào quyết toán những khoản thực thu, thực chi qua

NSNN; xuất toán những khoản tạm ứng, thu và chi trái quy định của pháp luật.

2. Phương pháp giám sát thực hiện ngân sách nhà nước cấp huyện,

cấp xã

Giám sát thực hiện ngân sách là việc đại biểu HĐND theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của UBND, các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thực hiện nhiệm vụ ngân sách.

Phương pháp giám sát ngân sách bao gồm:

- Giám sát gián tiếp thực hiện bằng cách theo dõi việc ban hành các quyết

định, báo cáo của UBND về điều hành, quản lý ngân sách;

- Giám sát trực tiếp thông qua các hoạt động:

+ Nghe và đánh giá báo cáo dự toán, phương án phân bổ, đánh giá thực

hiện tại kỳ họp HĐND;

+ Chất vấn và yêu cầu giải trình tại kỳ họp tại HĐND;

232

+ Tổ chức đoàn giám sát;

+ Cử thành viên Đoàn giám sát đi xác minh các vấn đề tài chính - ngân

sách;

+ Xem xét, xử lý các kiến nghị của cử tri.

Để hoạt động giám sát ngân sách đạt hiệu quả, nên xác định 03 giai đoạn

trong quá trình giám sát, và mỗi một giai đoạn cần làm rõ, mục đích, yêu cầu và nội dung, phương pháp giám sát...

- Giai đoạn chuẩn bị giám sát: Đây là giai đoạn rất quan trọng, quyết định đến hiệu quả của giám sát. Trong giai đoạn này cần:

+ Xây dựng chương trình giám sát phù hợp;

+ Thu thập tất cả các thông tin liên quan đến hoạt động giám sát. Chú ý thông tin được lấy từ nhiều nguồn như: Báo cáo theo yêu cầu, các văn bản pháp lý liên quan đến lĩnh vực thu - chi ngân sách (quyết định giao nhiệm vụ thu - chi ngân sách của UBND cấp trên, các văn bản quy định khác về chế độ chính sách; định mức phân bổ; quyết định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của cơ quan nhà nước cấp trên....); thông tin được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng phải đảm bảo chính xác, khách quan...;

- Tổ chức giám sát: Tùy theo nội dung, tính chất của hoạt động giám sát mà

tiến hành tổ chức giám sát một cách phù hợp. Khi tiến hành giám sát, cần phải có phương pháp xem xét báo cáo khoa học (xem xét các báo cáo tình hình thu- chi ngân sách từ tổng thể đến chi tiết và ngược lại xem xét từ chi tiết đến tổng thể). Việc xem xét các báo cáo phải làm rõ được nội dung yêu cầu, trong đó tập trung vào các trọng tâm như đã nêu ở phần trên;

- Đôn đốc kiểm tra việc thực hiện các kiến nghị giám sát.

Khi tổ chức đoàn giám sát kết thúc cần ra thông báo kết luận giám sát kịp

thời, thông báo phải nêu rõ kết quả đạt được, những vấn đề hạn chế, nguyên nhân và đề xuất kiên nghị tổ chức, cá nhân có liên quan có biện pháp khắc phục.

233

CÂU HỎI THẢO LUẬN"

1. Căn cứ vào các báo cáo dự toán/quyết toán của địa phương (nơi cá

nhân đại biểu HĐND công tác), phân tích các nguồn thu, nhiệm vụ chi và khả năng tự cân đối ngân sách của địa phương.

2. Căn cứ vào báo cáo dự toán/quyết toán thu ngân sách, phân tích các yếu

tố ảnh hưởng đến nguồn thu của ngân sách và đề xuất các biện pháp nhằm cải thiện thu ngân sách của địa phương (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác).

3. Căn cứ vào báo cáo dự toán/quyết toán chi ngân sách, phân tích các yếu ảnh hưởng đến chi ngân sách và đề xuất các biện pháp nhằm cải thiện công tác quản lý chi ngân sách của địa phương (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác).

4. Căn cứ vào nhiệm vụ của HĐND, xây dựng đề cương giám sát ngân sách gửi HĐND cùng cấp.

5. Kinh nghiệm của cá nhân đại biểu HĐND trong việc thẩm tra, giám sát thực hiện ngân sách nhà nước ở địa phương (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác).

Giảng viên có thể đưa ra những câu hỏi/tình huống khác để thảo luận, trao đổi phù hợp với thực tế của địa phương, nhu cầu học viên và điều kiện lớp học.

234

TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO HỌC VIÊN

1. Luật Ngân sách nhà nước năm 2015.

2. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2019).

3. Luật Đầu tư công năm 2019.

4. Nghị định số 163/2016/NĐ- CP ngày 21/12/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ngân sách nhà nước.

5. Thông tư số 344/2016/TT- BTC quy định về quản lý ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn.

6. Thông tư số 342/2016/TT- BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 163/2016/NĐ-CP và Luật Ngân sách nhà nước.

7. Thông tư số 343/2016/TT- BTC hướng dẫn thực hiện công khai ngân sách nhà nước đối với các cấp ngân sách.

8. Nghị quyết HĐND cấp huyện, cấp xã về phân bổ dự toán ngân sách nhà

nước/dự toán thu chi ngân sách nhà nước/phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm của địa phương (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác).

Giảng viên cập nhật, giới thiệu thêm những tài liệu tham khảo khác cho học viên, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và khả năng tìm kiếm tài liệu của học viên.

235

Chuyên đề 9

KỸ NĂNG GIÁM SÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI

Ở CẤP HUYỆN, CẤP XÃ

I. Khái quát nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp huyện, cấp xã

trong quản lý nhà nước về đất đai

1. Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp huyện trong quản lý nhà

nước về đất đai

Trong lĩnh vực đất đai, chính quyền cấp huyện thực hiện các nhiệm vụ,

quyền hạn theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015

(sửa đổi bổ sung năm 2019), Luật Đất đai năm 2013, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và các văn bản hướng dẫn thi hành từ giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (QSD) đất, thu hồi đất và giải quyết tranh chấp đất đai,.

Theo đó, nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND và UBND cấp huyện trong

quản lý nhà nước về đất đai được quy định như sau:

a. HĐND cấp huyện

HĐND cấp huyện thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn vụ đối với quản lý

nhà nước về đất đai như sau:

- Ban hành nghị quyết về quản lý và sử dụng đất đai thuộc nhiệm vụ, quyền

hạn của HĐND cấp huyện;

- Quyết định biện pháp quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ,

nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác; biện pháp bảo vệ và cải thiện môi trường, phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão, lụt ở địa phương theo quy định của pháp luật;

- Giám sát việc tuân theo pháp luật về đất đai ở địa phương;

- Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của UBND, Chủ tịch

UBND; bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của HĐND cấp xã trong lĩnh vực đất đai.

236

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

b. UBND cấp huyện

Căn cứ vào Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2019), Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì

UBND cấp huyện có nhiều nhiệm vụ, quyền hạn trong việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến thu hồi, bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Bên cạnh đó, pháp luật đất đai cũng quy định một số thẩm quyền còn thuộc cá nhân chủ tịch UBND như chủ tịch UBND cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất và tổ chức thực hiện việc cưỡng chế; chủ tịch UBND cấp tỉnh và cấp huyện có thẩm quyền quyết định trưng dụng đất, quyết định gia hạn trưng dụng đất; quyết định mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Theo đó quyền hạn và nhiệm vụ cụ thể trong quản lý nhà nước về đất đai của UBND cấp huyện bao gồm:

- Nhiệm vụ, quyền hạn trong quy hoạch sử dụng đất:

+ UBND cấp huyện trình HĐND cùng cấp thông qua quy hoạch sử dụng đất cấp mình trước khi trình UBND cấp tỉnh phê duyệt.

+ UBND cấp huyện trình UBND phê duyệt kế hoạch sử dụng đất hàng năm

của cấp huyện. UBND cấp tỉnh trình HĐND cấp tỉnh thông qua danh mục dự án cần thu hồi đất theo quy định trước khi phê duyệt kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện.

- Nhiệm vụ, quyền hạn trong giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, đăng ký, cấp giấy chứng nhận, thu hồi, bồi thường, tái định cư:

UBND cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp:

+ Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ

gia đình, cá nhân. Trường hợp cho hộ gia đình, cá nhân thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 hécta trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của UBND cấp tỉnh trước khi quyết định;

237

+ Giao đất đối với cộng đồng dân cư.

Ngoài ra, Luật Đất đai năm 2013 còn quy định theo hướng cấp trên sẽ

quyết định trong những trường hợp liên quan đến đất đai thuộc địa phận quản lý

của nhiều cấp chính quyền trực thuộc như việc sử dụng đối với đất hồ, đầm thuộc địa phận nhiều xã, phường, thị trấn thì việc sử dụng do UBND cấp huyện quyết định.

Đối với đất ao, hồ, đầm thuộc địa phận nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì việc sử dụng do UBND cấp tỉnh quyết định.

Đối với đất hồ, đầm thuộc địa phận nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì việc sử dụng do Chính phủ quy định.

- Nhiệm vụ, quyền hạn trong việc thu hồi đất đai:

UBND cấp huyện ra quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

+ Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

+ Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng

được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam;

+ Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có nhiều đối tượng, trong đó có cả

các đối tượng trên thì UBND cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho UBND cấp huyện quyết định thu hồi đất.

- Nhiệm vụ, quyền hạn trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

+ UBND cấp huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu

nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

+ Đối với những trường hợp đã được cấp giấy chứng nhận, giấy chứng

nhận quyền sở hữu nhà ở, giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng mà thực hiện các quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng thì do cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện theo quy định của Chính phủ.

238

2. Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp xã trong quản lý nhà nước về đất đai

Chính quyền cấp xã thực hiện chức năng quản lý đất đai theo quy định tại

Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật Đất đai năm 2013, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và các văn bản pháp luật về đất đai, HĐND cấp xã thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Ban hành nghị quyết về quản lý và sử dụng đất đai thuộc thẩm quyền.

- Quyết định các biện pháp bảo vệ tài sản là đất đai, tài nguyên thiên nhiên

theo thẩm quyền.

- Giám sát việc tuân theo pháp luật về đất đai của các cơ quan, tổ chức nhà

nước ở địa phương.

- Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của UBND, Chủ tịch

UBND cấp xã trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai.

Đối với UBND cấp xã, việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất

đai còn theo sự phân công, chỉ đạo của UBND cấp huyện.

Trong lĩnh vực đất đai, UBND cấp xã thực hiện một số nhiệm vụ, quyền

hạn cụ thể như: Quản lý quỹ đất công ích, quản lý đất chưa sử dụng, xác định nguồn gốc đất đai và tình trạng đất đai, xử lý vi phạm hành chính, tiến hành hòa

giải tranh chấp đất đai, thực hiện một số công đoạn trong thủ tục hành chính về đất đai.

Theo đó, nhiệm vụ và quyền hạn của quản lý nhà nước trong các lĩnh vực trên của UBND cấp xã được xác định như sau:

Thứ nhất, về xác định nguồn gốc sử dụng và quản lý đất đai, của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân

Điều 105, Luật Đất đai năm 2013 quy định thẩm quyền cấp giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất thuộc về UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện. Tuy nhiên, trong quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho công dân, UBND cấp xã có trách nhiệm thực hiện một số công đoạn trong thủ tục hành chính về xác nhận nguồn gốc sử dụng đất.

239

Một là, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thể nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận tại UBND cấp xã.

UBND cấp xã có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả. Đối với trường hợp đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất; cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận, UBND cấp xã có trách nhiệm chuyển hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đất đai.

Hai là, trong thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, UBND cấp xã có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ về đất đai và thực hiện các công việc sau:

- Xác nhận hiện trạng sử dụng đất so với nội dung kê khai đăng ký đối với

trường hợp đăng ký đất đai; trường hợp không có giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013 và Điều 18 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP8 thì xác nhận nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp sử dụng đất, sự phù hợp với quy hoạch.

- Đối với trường hợp đăng ký tài sản gắn liền với đất, UBND cấp xã có

trách nhiệm xác nhận hiện trạng tài sản gắn liền với đất so với nội dung kê khai đăng ký; trường hợp không có giấy tờ (quy định tại các Điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP) thì xác nhận tình trạng tranh chấp quyền sở hữu tài sản;

- Sau khi tiến hành xác minh hiện trạng sử dụng đất, UBND cấp xã có trách

nhiệm niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ, xác nhận hiện trạng, tình trạng tranh chấp, nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất tại trụ sở UBND cấp xã và khu dân cư nơi có đất, tài sản gắn liền với đất. Đồng thời, xem xét giải quyết các ý kiến phản ánh về nội dung công khai và gửi hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đất đai.

Thứ hai, về quản lý đối với quỹ đất công ích

Điều 132, Luật Đất đai năm 2013 quy định: Đất công ích do UBND cấp xã

quản lý phải là đất nông nghiệp không quá 5% tổng diện tích đất trồng cây hàng

81 Xem thêm: Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, Nghị định số 01/2017/NĐ- CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai.

240

năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản để phục vụ cho các nhu cầu công ích của địa phương.

Để quản lý, UBND cấp xã có trách nhiệm lập kế hoạch sử dụng và trình HĐND cùng cấp phê duyệt.

Thứ ba, hoạt động quản lý đất chưa sử dụng

Đất chưa sử dụng là nhóm đất thứ ba trong phân loại đất đai của Luật Đất

đai năm 2013. Theo quy định của pháp luật, UBND cấp xã có thể cho hộ gia đình, cá nhân tại địa phương thuê để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối thông qua đấu thầu với thời hạn 5 năm có thể kéo dài nhưng không quá 10 năm để đưa vào sử dụng. Bên cạnh đó UBND cấp xã có trách nhiệm quản lý, bảo vệ quỹ đất chưa sử dụng trên địa bàn thông qua việc đăng ký vào hồ sơ địa chính của xã, đồng thời, hàng năm, UBND cấp xã còn có trách nhiệm báo cáo UBND cấp huyện về tình hình quản lý, khai thác quỹ đất chưa sử dụng theo quy định của pháp luật đất đai.

Thứ tư, về trách nhiệm quản lý hồ sơ địa chính

Hồ sơ địa chính là tập hợp tài liệu thể hiện thông tin chi tiết về hiện trạng

và tình trạng pháp lý của việc quản lý, sử dụng các thửa đất, tài sản gắn liền với

đất để phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai và nhu cầu thông tin của các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Trong quản lý hồ sơ địa chính, UBND cấp xã có trách nhiệm phối hợp

cùng cơ quan chuyên môn thiết lập, quản lý hồ sơ địa chính. Đồng thời, UBND cấp xã có trách nhiệm sử dụng, bảo quản, khai thác thông tin đất đai địa chính theo quy định của pháp luật.

Thứ năm, thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai.

Đối với tranh chấp đất đai, Luật Đất đai năm 2013 quy định: Nhà nước

khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp hòa giải thông qua hòa giải cơ sở. Như vậy, đối với các tranh chấp đất đai mà các bên không thể tự hòa giải được hoặc đã hòa giải nhưng các bên chưa đồng ý,

241

thì UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức hòa giải nếu các bên tranh chấp có đơn yêu cầu.

Trách nhiệm tổ chức hòa giải tranh chấp đất đai được quy định tại Điều 202

Luật Đất đai năm 2013 và Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP. Theo đó, Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận tổ quốc cấp xã, các tổ chức thành viên của mặt trận, các tổ chức xã hội thực hiện hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương nơi có tranh chấp, bao gồm: Thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất; thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải; tổ chức cuộc họp hòa giải.

Như vậy, UBND cấp xã với vai trò là trung gian, tổ chức hòa giải, giúp các

bên tranh chấp hoặc có liên quan thỏa thuận, thương lượng phương án giải quyết tranh chấp và tự nguyện thi hành; trong trường hợp các bên không thi hành, thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Thứ sáu, về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai của Chủ

tịch UBND cấp xã được quy định tại Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/12/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Khoản 1, Điều 38 Nghị định số 91/2019 quy về thẩm quyền của Chủ tịch UBND các cấp trong việc xử phạt vi phạm hành chính như sau:

"Chủ tịch UBND cấp xã có quyền: (a) Phạt cảnh cáo; (b) Phạt tiền đến

5.000.000 đồng; (c) Tịch thu các giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung; giấy tờ giả đã sử dụng trong việc sử dụng đất; (d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm'.

Như vậy, tùy thuộc vào mức xử phạt đối với hành vi vi phạm trong lĩnh

vực quản lý nhà nước về đất đai để xem xét có thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp xã hay không. Ví dụ, đối với hành vi lấn chiếm đất chưa sử dụng tại khu vực nông thôn, Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền xử phạt đối với diện tích đất lấn chiếm dưới 0,1 hecta. Do hình thức và mức xử phạt đối với

242

hành vi lấn chiếm đất: Từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng (dưới 0,05 hecta) và từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng (dưới 0,1 hecta).

II. Một số kỹ năng giám sát quản lý nhà nước về đất đai ở cấp huyện, cấp xã

Hoạt động giám sát quản lý nhà nước về đất đai ở cấp huyện, cấp xã cần tập trung vào những vấn đề cơ bản sau:

1. Xác định đối tượng giám sát

Mỗi nhóm chủ thể giám sát của HĐND có đối tượng giám sát khác nhau và được pháp luật quy định cụ thể:

- Đối tượng giám sát của HĐND

Giám sát hoạt động của Thường trực HĐND và Ban của HĐND cấp mình; giám sát quyết định của UBND cùng cấp và nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp trong quản lý nhà nước về đất đai.

Giám sát chuyên đề đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai. Tổ chức

hoạt động giải trình tại phiên họp Thường trực HĐND. Giám sát việc giải quyết

khiếu nại, tố cáo của công dân. Giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri về đất đai.

- Đối tượng giám sát của Thường trực HĐND

Giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND cùng cấp; giám sát hoạt động của UBND, các cơ quan thuộc UBND và HĐND cấp dưới; giám sát quyết định của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp trong quản lý nhà nước về đất đai;

Xem xét việc trả lời chất vấn về quản lý nhà nước đối với đất đai của những người bị chất vấn theo quy định, trong thời gian giữa hai kỳ họp HĐND.

Giám sát chuyên đề đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai. Tổ chức hoạt động giải trình tại phiên họp Thường trực HĐND.

Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai.

243

- Đối tượng giám sát của Ban thuộc HĐND

Thẩm tra các báo cáo do HĐND, Thường trực HĐND phân công. Giám sát quyết định của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp. Giám

sát chuyên đề đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai. Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai.

- Tổ đại biểu HĐND: Giám sát việc tuân theo Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật về đất đai của cơ quan nhà nước cấp trên ở địa phương và nghị quyết của HĐND cùng cấp hoặc về vấn đề do HĐND, Thường trực HĐND phân công; tổ chức để đại biểu HĐND thực hiện hoạt động giám sát.

- Đại biểu HĐND: Chất vấn Chủ tịch UBND, thành viên khác của UBND,

Thủ trưởng cơ quan thuộc UBND cùng cấp; trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn

của mình giám sát việc thi hành pháp luật, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về đất đai của công dân ở địa phương.

- Khi xét thấy cần thiết, HĐND, Thường trực HĐND, Ban của HĐND tiến

hành giám sát hoạt động có liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác ở địa phương.

- Các chủ thể giám sát quản lý nhà nước về đất đai chỉ được giám sát trong phạm vi thẩm quyền của mình.

2. Xác định nội dung giám sát

a. Nội dung giám sát quản lý nhà nước về đất đai ở cấp huyện

Theo pháp luật hiện hành&, căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn của chính

quyền cấp huyện trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai thì nội dung giám sát đối với lĩnh vực đất đai được xác định như sau:

- Công tác lập, điều chỉnh, công bố thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng;

- Công tác đo đạc, đăng kí đất đai, lập hồ sơ địa chính cấp, đổi giấy cấp

giấy chứng nhận sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức ở cấp huyện;

∞ Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

244

- Công tác giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất,

thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người dân;

- Công tác thu, miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế liên quan

đến đất đai và định giá đất;

- Công tác cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về đất đai, như các

các thủ tục hành chính liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất;

- Công tác thanh, kiểm tra, xử lý vi phạm trong sử dụng đất theo quy

hoạch, kế hoạch sử dụng đất được phê duyệt. Công tác giải quyết tranh chấp và giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai.

- Công tác quản lý nhà nước liên quan đến đất đai như hoạt động đầu tư,

kinh doanh đất đai: Việc kiểm tra các tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh dịch vụ môi giới nhà đất và xử lý các hành vi vi phạm; việc đăng tin, quảng cáo kinh doanh nhà đất ở địa phương,.

- Luật Đất đai cũng quy định việc giám sát, theo dõi, đánh giá tình hình

quản lý, sử dụng đất, tác động của chính sách, pháp luật đất đai đến kinh tế, xã hội và môi trường ở cấp địa phương phải được tiến hành thường xuyên.

b. Nội dung giám sát quản lý nhà nước về đất đai ở cấp xã

Nội dung giám sát đối với quản lý nhà nước về đất đai tập trung vào những

vấn đề cơ bản như sau:

- Vấn đề xác định nguồn gốc sử dụng và quản lý đất đai, của tổ chức, hộ

gia đình, cá nhân có trách nhiệm;

- Về quản lý quỹ đất công ích của UBND cấp xã;

- Hoạt động quản lý đất chưa sử dụng của UBND cấp xã;

- Về trách nhiệm quản lý hồ sơ địa chính;

- Về thực hiện trách nhiệm tổ chức hoà giải trong giải quyết tranh chấp đất

đai của UBND cấp xã;

- Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai ở cấp xã.

3. Lập kế hoạch/phương án giám sát

Giám sát công tác quản lý nhà nước về đất đai là một nội dung quan trọng

thường được đưa vào trong chương trình giám sát hàng năm của HĐND và

245

Thường trực HĐND. Ngoài ra, do tính chất quan trọng của lĩnh vực này, các chủ thể giám sát có thể thực hiện giám sát chuyên đề thông qua việc tham gia hoặc tổ chức các Đoàn giám sát đối với lĩnh vực này.

Căn cứ chương trình giám sát, HĐND ra nghị quyết thành lập Đoàn giám

sát chuyên đề hoặc Thường trực HĐND quyết định thành lập Đoàn giám sát chuyên đề quản lý nhà nước về đất đai. Nghị quyết, quyết định thành lập các Đoàn giám sát phải xác định rõ đối tượng, phạm vi, nội dung, kế hoạch giám sát, thành phần Đoàn giám sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát.

Các Đoàn giám sát nói trên có nhiệm vụ: (i) Xây dựng đề cương báo cáo để

cơ quan, tổ chức chịu sự giám sát báo cáo; (ii) thông báo nội dung, kế hoạch, đề cương báo cáo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày ra quyết định thành lập Đoàn giám sát, thông báo chương trình và thành phần Đoàn giám sát chậm nhất là 10 ngày trước ngày Đoàn làm việc

với cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát; (iii) yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo bằng văn bản, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung giám sát, giải trình vấn đề mà Đoàn giám sát quan tâm; (iv)

xem xét, xác minh, chuẩn bị phương án mời chuyên gia tư vấn về vấn đề mà Đoàn giám sát thấy cần thiết.

Những điểm chung trong lập kế hoạch/phương án giám sát như:

- Thời gian và địa điểm giám sát;

- Thông báo trước về kế hoạch, nội dung giám sát, nội dung được yêu cầu

báo cáo, trả lời về vấn đề liên quan đến hoạt động giám cho đối tượng giám sát;

- Chuẩn bị lực lượng: tự mình hay thuê chuyên gia (lưu ý vấn đề kinh phí).

4. Thu thập, xử lý thông tin

Thông tin là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất mang lại

hiệu quả cho hoạt động giám sát của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã. Đại biểu HĐND cần lưu ý hai loại thông tin sau:

- Thông tin chính thức: Là các thông tin mang tính chính thống, có giá trị

pháp lý, do các cơ quan chức năng ban hành, cung cấp cho đại biểu HĐND theo luật định hoặc do đại biểu HĐND tự mình thu thập được như: chủ trương, chính

246

sách, văn bản pháp luật, tờ trình, báo cáo, giám sát, chất vấn, giải trình,...về

công tác quản lý đất đai.

- Thông tin tham khảo: Xuất phát từ các cơ quan truyền thông, báo chí, là

kết quả nghiên cứu, khảo sát, hội nghị, hội thảo, thông tin từ các chuyên gia, từ

internet. Thông tin tham khảo có thể được cung cấp bởi các cơ quan chức năng,

bộ phận phục vụ thông tin của HĐND hoặc là các thông tin do chính đại biểu

HĐND tích lũy trong hoạt động thực tiễn. Thông tin tham khảo là yếu tố quan

trọng, quyết định sự thành công trong hoạt động giám sát quản lý nhà nước về

đất đai của đại biểu HĐND.

Để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, các đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã

cần lưu ý một số vấn đề trong công tác thu thập, phân tích và xử lý thông tin

như:

- Trước hết, các đại biểu HĐND cần tự nghiên cứu những kiến thức cơ bản

của các văn bản hiện hành liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai

như Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2019), Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015, Luật Đất đai

năm 2013, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm

2020) và các văn bản hướng dẫn thi hành,...

- Đại biểu HĐND có thể sử dụng các nguồn thông tin chính từ các báo cáo

thường kỳ của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền bị chất vấn; các báo cáo

cung cấp thông tin độc lập của HĐND (báo cáo giám sát của các Đoàn giám sát,

báo cáo cung cấp thông tin về kinh tế - xã hội, điều tra dư luận xã hội, báo cáo

điểm báo, kinh nghiệm quốc tế,... của HĐND) thông tin từ tiếp xúc cử tri; các

thông tin từ Biên bản các phiên chất vấn và các hoạt động giám sát khác trước

của HĐND về quản lý đất đai,... đây là những nguồn thông tin cụ thể và hữu ích

giúp đại biểu HĐND sử dụng hiệu quả phục vụ công tác giám sát.

- Nguồn thông tin tham khảo phục vụ cho hoạt động giám sát quản lý nhà

nước về đất đai được tiếp cận từ nhiều kênh, rất phong phú, đa dạng. Trong bối

cảnh hiện nay, việc sử dụng thành thạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong

việc thu thập và xử lý thông tin giúp đại biểu cập nhật được tình hình, tiết kiệm

247

được thời gian, công sức và tăng hiệu quả sử dụng thông tin. Các thông tin tham khảo cần đa chiều và kiểm chứng được, đảm bảo tính độc lập, khách quan, phân

tích từ nhiều góc độ, nhiều khía cạnh để đánh giá một cách toàn diện về vấn đề, tránh các góc nhìn phiến diện một chiều.

Hoạt động thu thập và xử lý thông tin cũng được thực hiện thông hình thức

chất vấn. Để đặt được các câu hỏi chất vấn phù hợp, các đại biểu HĐND cần phải có kỹ năng khái quát vấn đề: Từ nhiều nguồn thông tin, những vấn đề cụ thể khác nhau, đại biểu HĐND cần khái quát thành câu hỏi chất vấn không chỉ gắn với những vấn đề cụ thể mà còn mang tính chính sách trong quản lý đất đai.

Khi đặt câu hỏi chất vấn cần phải có sự phân biệt với câu hỏi để nắm bắt

thông tin. Ngoài ra, câu hỏi chất vấn cần phải đi đúng trọng tâm vấn đề, lĩnh vực mà người chịu chất vấn đảm đương, cần phải có thông điệp và phải đi thẳng vào vấn đề yếu kém, vấn đề xử lý trách nhiệm và giải pháp khắc phục,.

5. Phản ánh kết quả giám sát

a. Phản ánh kết quả giám sát của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và các Đoàn giám sát

- Theo quy định của pháp luật, HĐND báo cáo về hoạt động giám sát quản

lý nhà nước đối với đất đai trước cử tri địa phương thông qua phương tiện thông tin đại chúng và hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND.

- Thường trực HĐND chịu trách nhiệm và báo cáo về hoạt động giám sát quản lý nhà nước về đất đai của mình trước HĐND.

- Ban của HĐND chịu trách nhiệm và báo cáo về hoạt động giám sát quản lý nhà nước về đất đai của mình trước HĐND, Thường trực HĐND.

- Tổ đại biểu HĐND chịu trách nhiệm và báo cáo về hoạt động giám sát

quản lý nhà nước về đất đai của mình, báo cáo về hoạt động giám sát của đại biểu HĐND trong Tổ với Thường trực HĐND.

- Đối với các Đoàn giám sát chuyên đề quản lý nhà nước về đất đai do

HĐND, Thường trực HĐND hoặc các Ban của HĐND thành lập, công tác phản ánh kết quả giám sát thường được tiến hành như sau:

248

+ Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của

Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Đoàn giám sát có

quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan áp dụng các biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và khôi phục lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị vi phạm; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý, xem xét trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật;

+ Kết thúc hoạt động giám sát, Đoàn giám sát báo cáo kết quả giám sát để HĐND/Thường trực HĐND hoặc các Ban của HĐND xem xét theo luật định:

Đối với Đoàn giám sát của HĐND: Báo cáo kết quả giám sát để HĐND

xem xét tại kỳ họp gần nhất. Trước khi báo cáo HĐND, Đoàn giám sát báo cáo Thường trực HĐND về kết quả giám sát.

Đối với Đoàn giám sát của Thường trực HĐND: Chậm nhất là 15 ngày kể

từ ngày kết thúc hoạt động giám sát, Đoàn giám sát báo cáo kết quả giám sát để Thường trực HĐND xem xét, quyết định.

Đối với Đoàn giám sát của các Ban thuộc HĐND: Chậm nhất là 10 ngày kể

từ ngày kết thúc hoạt động giám sát, Đoàn giám sát phải báo cáo kết quả giám sát với Ban của HĐND.

+ Báo cáo kết quả giám sát phải nêu rõ kiến nghị về các biện pháp cần thiết. Việc xem xét báo cáo của các Đoàn giám sát thường tuân theo trình tự:

Đoàn giám sát báo cáo kết quả giám sát - Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo, giải trình - cơ quan thành lập Đoàn giám sát thảo luận. Trong quá trình thảo luận, đại diện Đoàn giám sát có thể trình bày bổ sung về những vấn đề liên quan.

Sau đó, nếu Đoàn giám sát do HĐND thành lập thì HĐND ra nghị quyết về

vấn đề được giám sát hoặc Chủ toạ cuộc họp của Thường trực HĐND, Ban của HĐND ra kết luận. Nghị quyết/kết luận giám sát được gửi đến cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

b. Phản ánh kết quả giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân

249

- Đại biểu HĐND chịu trách nhiệm và báo cáo về hoạt động giám sát quản lý nhà nước về đất đai của mình trước cử tri tại địa phương thông qua hoạt động

tiếp xúc cử tri. Phản ánh của đại biểu HĐND còn được thực hiện thông qua các hoạt động:

+ Chất vấn trực tiếp tại kỳ họp HĐND, phiên họp Thường trực HĐND hoặc gửi chất vấn bằng văn bản đến người bị chất vấn;

+ Qua nghiên cứu, xem xét nội dung quyết định của UBND cùng cấp và nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp, đại biểu HĐND phát hiện thấy văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp thì đại biểu HĐND có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật.

+ Qua theo dõi, xem xét việc thi hành pháp luật về đất đai tại địa phương,

nếu phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì đại biểu HĐND có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp cần thiết để kịp

thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và khôi phục lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị vi phạm; trường hợp cơ quan, tổ chức không thực hiện hoặc đại biểu HĐND không đồng ý với việc giải quyết thì đại biểu HĐND có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp xem xét giải quyết;
+ Khi nhận được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân về quản lý và sử
dụng đất, đại biểu HĐND có trách nhiệm nghiên cứu và chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để xem xét, giải quyết; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết, đồng thời thông báo cho người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị được biết.
- Chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày kết thúc hoạt động giám sát, đại biểu HĐND báo cáo kết quả giám sát với Thường trực HĐND cùng cấp.
Các chủ thể thực hiện hoạt động giám sát quản lý nhà nước về đất đai có
trách nhiệm báo cáo kết quả giám sát hoạt động của mình với các cơ quan theo
250
÷

quy định; chịu trách nhiệm về báo cáo, nghị quyết, kết luận, yêu cầu, kiến nghị

giám sát đó.

Để hoạt động giám sát quản lý nhà nước về đất đai đạt được mục tiêu quản

lý, công tác kiểm tra, đôn đốc thực hiện các kết luận giám sát là hết sức quan

trọng, cần được các chủ thể giám sát quan tâm, lưu ý. Pháp luật cũng đã quy

định rõ về vấn đề này, cụ thể như sau:

- Thường trực HĐND, Ban của HĐND có trách nhiệm theo dõi kết quả giải

quyết kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát. Trong trường

hợp cần thiết, Thường trực HĐND đề nghị HĐND xem xét báo cáo kết quả

giám sát quản lý nhà nước về đất đai của Đoàn giám sát tại kỳ họp gần nhất.

- Trong thời hạn do pháp luật quy định, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm

quyền phải xem xét, giải quyết và thông báo bằng văn bản cho đại biểu HĐND

biết kết quả giải quyết; trường hợp không đồng ý với việc giải quyết, đại biểu

HĐND có quyền gặp người có thẩm quyền giải quyết hoặc người đứng đầu cơ

quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết để yêu cầu

giải quyết hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo thẩm quyền.

Như vậy, pháp luật đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn cho HĐND trong việc

giám sát việc tuân theo Hiển pháp, pháp luật ở địa phương. Đối tượng, nội dung giám sát quản lý nhà nước của từng lĩnh vực, trong đó có quản lý nhà nước về đất đai đã được xác định rõ. Không những trao quyền một chiều, luật đã quy định: Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát phải thực hiện đầy đủ kế hoạch, nội dung, yêu cầu giám sát của chủ thể giám sát; cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ của mình (trừ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước); báo cáo trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giám sát,... Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát có hành vi cản trở hoặc không thực hiện nghị quyết, kết luận, yêu cầu, kiến nghị của chủ thể giám sát thì chủ thể giám sát yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân đó. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, chủ thể giám sát yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ
251
:

chức có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và người có liên quan,.

III. Nhận diện một số vi phạm phổ biến trong quản lý nhà nước về đất đai ở địa phương

Hệ thống pháp luật về đất đai từ sau đổi mới đã được ban hành khá nhiều

và liên tục sửa đổi, bổ sung. Trên thực tế, nhu cầu sử dụng đất ngày càng nhiều, trong khi quỹ đất có hạn cùng với hệ thống văn bản, giấy tờ phức tạp do chính sách đất đai mang tính lịch sử, vì vậy, nhiều vi phạm pháp luật về đất đai vẫn

diễn ra thường xuyên và khá phức tạp. Điều đó có thể thấy rõ qua việc chuyển nhượng đất đai trái pháp luật, sử dụng đất không đúng mục đích; lấn, chiếm đất; gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác; không đăng ký đất đai; tự ý chuyển quyền sử dụng đất khi không đủ điều kiện (theo quy định tại Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013); tự ý chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp mà không đủ điều kiện quy định; chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức phân lô, bán nền trong dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở; chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở mà không đủ điều kiện; chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê mà không đủ điều kiện; mua tài sản gắn liền với đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm mà không đủ điều kiện; tự ý cho thuê tài sản gắn liền với đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm.

Như vậy, hành vi vi phạm có tính phổ biến trong quản lý nhà nước về đất

đai là rất nhiều, đa dạng, đã và đang khiến việc quản lý đất đai gặp nhiều khó khăn, phức tạp. Bên cạnh đó cũng tác động tiêu cực tới việc phát triển thị trường bất động sản, thậm chí làm cho thị trường này phát triển một cách méo mó "lúc

nóng, lúc lạnh và ảnh hưởng tiêu cực tới các thị trường hàng hóa, thị trường

Nội dung này mang tính gợi ý, tham khảo. Đơn vị được UBND cấp tỉnh giáo biên soạn cần nghiên cứu thực tế địa phương để biên soạn, bảo đảm phù hợp thực tế giám sát quản lý nhà nước về đất đai ở địa phương.

252

vốn và thị trường lao động khác. Có thể thấy, những vi phạm phổ biến thường tập trung ở những lĩnh vực cụ thể sau:

- Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không đúng quy định;

- Thu hồi, bồi thường hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất chưa đủ căn cứ hoặc

trái nguyên tắc;

- Chuyển nhượng đất đai bất hợp pháp;

- Quản lý và sử dụng đất đai không đúng mục đích,.

Có thể nhận diện ở những trường hợp cụ thể sau:

1. Trong lĩnh vực thu hồi đất

Theo Điều 64, Luật Đất đai năm 2013, người sử dụng đất vi phạm pháp

luật về đất đai sẽ bị Nhà nước thu hồi đất. Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai. Tuy nhiên, khi có chủ trương thu hồi đất để thực hiện các dự án, tình trạng sử dụng đất ở nhiều địa phương đã xảy ra hết sức hỗn loại như tình trạng cò đất, mua bán và đã khiến giá đất bị đẩy lên cao gấp nhiều lần so với trước đây. Từ đó, nhiều hộ sản xuất nông nghiệp đã chuyển nhượng đất nông nghiệp cho người khác (mua đất vì mục đích đầu cơ, không sản xuất rồi chờ tăng giá lại tiếp tục chuyển nhượng...), dẫn đến nguy cơ phá vỡ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Mặc dù, Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành cho

phép địa phương xử lý các hành vi vi phạm về lĩnh vực đất đai như: không đưa đất vào sử dụng, sử dụng đất không đúng mục đích, chuyển nhượng trái phép... ngoài xử phạt vi phạm hành chính còn áp dụng biện pháp thu hồi đất. Tuy nhiên,

việc xử lý thu hồi đất với những trường hợp vi phạm liên quan đến đất đai không dễ vì người vi phạm luôn tìm mọi cách để lách luật hoặc gây khó khăn, cản trở hoặc do quy định không phù hợp. Ví dụ giao đất nông nghiệp với thời hạn 50 năm nhưng quy định nếu trong 18 hoặc 24 tháng không sử dụng sẽ bị thu hồi, quy định như vậy là bất khả thi (Điều 64, Luật Đất đai năm 2013).

253

Bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ, công chức thực hiện chính sách thu hồi đất cũng có biểu hiện tiêu cực bằng việc thông đồng với người sử dụng đất để

tăng giá đất hoặc làm sai lệnh hồ sơ thửa đất để nhận mức chênh lệnh khi bồi thường về đất cho người dân. Hoặc khó thu hồi đất theo Điều 92 Luật Đất đai năm 2013 trong các trường hợp: Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm. Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất, đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật Đất đai mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho để tránh phải nộp thuế sử dụng đất..

2. Tự ý chuyển mục đích sử dụng đất; lấn chiếm đất đai; chuyển

nhượng đất sản xuất nông nghiệp làm thay đổi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Trong lĩnh vực quy hoạch lập và điều chỉnh quy hoạch kế hoạch sử dụng

đất tại một số địa phương những năm qua đã xảy ra tình trạng tự ý chuyển mục đích sử dụng đất; chuyển nhượng đất sản xuất nông nghiệp, đất rừng sản xuất, đặc biệt là đất chuyên trồng lúa nước, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp mang tính đầu cơ, trục lợi hoặc có hành vi "ôm đất"

chờ quy hoạch để nhằm mục đích kiếm lời, hưởng lợi trong chính sách bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, làm cho tình hình quản lý đất đai diễn biển phức tạp.

Theo đánh giá chung của các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai thì tỷ lệ

cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất một số loại đất còn thấp như: đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất của tổ chức. Tình trạng sử dụng đất vượt ranh giới, không đúng mục đích, lãng phí đất đai vẫn còn; một số dự án tiến độ giải phóng mặt bằng và triển khai đầu tư còn chậm; có dự án chuyển nhượng nhưng chưa được các cơ quan có thẩm quyền cho phép.

Ví dụ, Ủy ban nhân dân huyện tự ý điều chỉnh phân bổ chỉ tiêu chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất ở từ xã này sang xã khác, nhưng chưa thông qua HĐND huyện trước khi trình ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố phê

254

duyệt (vi phạm quy định tại Điều 46 và Điều 12 Luật Đất đai năm 2013) hay chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở nông thôn đối không phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được duyệt...

Ở cấp xã là các trường hợp Chủ tịch UBND xã cho thuê đất trái thẩm

quyền. Sau khi thuê đất, các hộ dân tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng, xây dựng trái phép các công trình kiên cố. Các trường hợp vi phạm lấn, chiếm, chuyển quyền sử dụng đất trái phép, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép, không đúng đối tượng; phát hiện, áp dụng các biện pháp để ngăn chặn và xử lý kịp thời việc xây dựng các công trình nhà ở, hạ tầng hình thành các khu dân cư mới trái phép trên đất nông nghiệp. Hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ cấp "khống" hộ khẩu để người thân được cấp đất; không làm đúng chức trách, nhiệm vụ được giao để trục lợi từ việc lập, thẩm định hồ sơ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,..

3. Vi phạm trong giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện về đất đai

Hiện nay, trên thực tế, các tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện về đất đai vẫn

diễn ra nhiều ở các địa phương và tập trung vào các quyết định hành chính về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư về giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất về cấp, thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, lượng đơn thư khiếu nại,

khiếu kiện và cả tố cáo mà Bộ nhận được hàng năm còn quá nhiều, trong đó đất

đai chiếm 98%. Từ năm 2015 đến năm 2018 trong số 21.274 đơn thư mà Bộ nhận được thì chỉ có 8.330 đơn thư đủ điều kiện xử lý, trong đó có 216 vụ việc thuộc thẩm quyền của Bộ, 1.502 vụ việc được địa phương giải quyết hết thẩm quyền nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu nại, 6.612 vụ việc địa phương chưa giải quyết hết thẩm quyền, công dân tiếp tục khiếu nại vượt cấp đến các cơ quan trung ương.

Để giải quyết dứt điểm các vụ tranh chấp khiếu nại, khiếu kiện đất đai kéo

dài, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành văn bản số 3215/BTNMT- TCQLĐĐ ngày 05 tháng 8 năm 2015 về việc tăng cường kiểm tra, giám sát và

255

xây dựng hệ thống theo dõi, đánh giá đối với hoạt động quản lý, sử dụng đất đai;

Tổng cục Quản lý đất đai đã ban hành Công văn số 1660/TCQLĐĐ- CKSQLSDĐĐ ngày 09 tháng 11 năm 2015 và Công văn số 1678/TCQLĐĐ- CKSQLSDĐĐ ngày 31 tháng 8 năm 2016 về việc hướng dẫn lập báo cáo theo dõi, đánh giá và báo cáo tình hình quản lý, sử dụng đất đai và tác động của chính sách, pháp luật đất đai đến kinh tế, xã hội và môi trường. Vì vậy, từ năm 2015 đến nay, nhiều địa phương đã tiến hành triển khai, thu thập đánh giá theo hệ thống biểu mẫu theo hướng dẫn của Tổng cục Quản lý đất đai để xây dựng báo cáo đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất hàng năm.

256

CÂU HỎI THẢO LUẬN4

1. Hãy làm rõ những điểm khác biệt cơ bản về nhiệm vụ, quyền hạn trong

quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền cấp huyện và chính quyền cấp xã.

2. Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã cần phải lưu ý những vấn đề gì khi

thu thập, xử lý thông tin trong hoạt động giám sát quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền địa phương?

3. Hoạt động phản ánh kết quả giám sát trong quản lý nhà nước về đất đai

của HĐND ở địa phương (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác) có những khó khăn gì? Làm thế nào để khắc phục những khó khăn đó?

4. Các loại vi phạm phổ biến trong quản lý nhà nước về đất đai ở cấp huyện

và cấp xã? Liên hệ với thực tiễn ở địa phương (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác).

5. Đại biểu HĐND cần phải quan tâm những kỹ năng nào để nâng cao hiệu

quả giám sát đối với lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai ở địa phương? Liên hệ thực tế cá nhân đại biểu HĐND.

*4 Giảng viên có thể đưa ra những câu hỏi/tình huống khác để thảo luận, trao đổi phù hợp với thực tế của địa

phương, nhu cầu học viên và điều kiện lớp học.

257

TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO HỌC VIÊN85

1. Luật Đất đai năm 2013.

2. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015.

3. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2019.
4. Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
5. Các quy định liên quan đến quản lý nhà nước về đất đai do chính quyền
địa phương ban hành.
Giảng viên cập nhật, giới thiệu thêm những tài liệu tham khảo khác cho học viên, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và khả năng tìm kiếm tài liệu của học viên.
258

Chuyên đề 10

KỸ NĂNG GIÁM SÁT XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Ở HUYỆN, XÃ

I. Khái quát về xây dựng nông thôn mới và trách nhiệm của chính quyền huyện, xã trong xây dựng nông thôn mới

1. Khái quát về xây dựng nông thôn mới

a. Nông thôn mới

Ở Việt Nam, khái niệm "nông thôn mới" được đề cập đến từ những năm 1988. Tại Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp có ghi: "Gắn việc giải quyết đúng đắn các vấn đề xã hội và xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa với việc phát triển sản xuất, đổi mới quản lý nông nghiệp bằng những việc làm thiết thực sau đây:

(1) Xây dựng quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của từng huyện, từng xã,

thể hiện cho được sự thống nhất hài hòa giữa quy hoạch phát triển sản xuất nông

- công nghiệp, quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng, khu dân cư, nhà ở, các cụm

kinh tế - kỹ thuật, mạng lưới dịch vụ sản xuất và thương nghiệp, quy hoạch hệ thống các công trình văn hóa, xã hội và phúc lợi công cộng (như trường học,

bệnh xá, trạm xá, nhà trẻ, mẫu giáo, nhà văn hóa thông tin, công trình thể dục thể thao,...), quy hoạch xây dựng các cụm phòng thủ và địa bàn an toàn về an ninh, trật tự.

Việc xây dựng quy hoạch phải trên cơ sở tính toán, dự đoán hướng phát

triển kinh tế, xã hội trong một thời gian dài, đồng thời phải xác định rõ bước đi cụ thể và thích hợp với điều kiện từng nơi.

(2) Tổ chức thực hiện tốt kế hoạch xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa, no ấm, đoàn kết, văn minh, tiến bộ.

Đi đôi với phát triển sản xuất và phân phối công bằng, hợp lý, cần tích cực thực hiện sinh đẻ có kế hoạch và bố trí dân cư hợp lý; phát triển hệ thống truyền thông đại chúng và hệ thống giáo dục phổ thông, hướng nghiệp cho thanh thiếu niên nông thôn, chấm dứt tình trạng mù chữ và tái mù chữ, bồi dưỡng nâng cao

259

tay nghề cho người lao động. Phát triển mạnh mẽ giao thông nông thôn vì lợi ích kinh tế, dân sinh và quốc phòng, an ninh. Xây dựng nếp sống văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa..."

Như vậy, công cuộc đổi mới ở nông thôn Việt Nam bắt đầu từ đổi mới

quản lý kinh tế nông nghiệp và nhu cầu nội tại nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, cho đến nay, khu vực nông thôn vẫn còn gặp không ít khó khăn, thách thức như: trình độ sản xuất thấp; quy mô sản xuất nhỏ; năng suất, hiệu suất lao động thấp; tính tích cực, chủ động của một bộ phận nông dân chưa cao; vấn đề chuyển đổi/nâng cao kỹ năng nghề nghiệp...

Trên cơ sở đánh giá kết quả sau hai mươi năm thực hiện đường lối đổi mới

trong lĩnh vực nông nghiệp, Nghị quyết số 26/NQ-TW Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa X ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn được ban hành. Cụ thể hóa Nghị quyết số 26/NQ-TW, ngày 28/10/2008 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP về chương trình hành động, trong đó nhấn mạnh đến Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới (XDNTM). Theo tinh thần của Nghị quyết, nông thôn mới được hiểu là nông thôn văn minh, giàu đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất bền vững theo hướng hàng hóa; đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng nâng cao; bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và ngày càng phát triển; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh chính trị được giữ vững.

b. Đặc trưng của nông thôn mới

Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông nghiệp của nông thôn mới được đặt ra bao gồm: cơ cấu các ngành nghề được đổi mới và có các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hơn, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến phải được phổ biến rộng rãi. Cũng cần lưu ý, khi đề cập đến nông thôn mới không có nghĩa là biển nông thôn trở thành thành thị mà nông thôn mới phải giữ được một môi trường tự nhiên vốn có được thiên nhiên ưu đãi từ lâu đời cho khu

vực nông thôn. Có thể nêu những đặc trưng của nông thôn mới như sau:

- Là khu vực nông thôn có làng, xã văn minh, sạch đẹp, lối sống lành

mạnh;

260

- Kết cấu hạ tầng hiện đại;

- Đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao;

- Sản xuất bền vững theo hướng sản xuất hàng hóa với hình thức tổ chức

sản xuất, dịch vụ hiệu quả;

- Bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển;

- Xã hội nông thôn được quản lý tốt và bảo đảm dân chủ.

Tiếp tục quá trình XDNTM ở giai đoạn 2016 - 2020, nhiều địa phương triển khai xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu với nhiều tiêu chí được nâng cao hơn như: tổ chức sản xuất, nâng cao mức sống (thu nhập cao), mức tiếp cận dịch vụ (giáo dục, y tế, văn hóa đạt chuẩn cao), cảnh quan môi trường và an ninh trật tự-hành chính công đều được nâng cao. Thực hiện các tiêu chí nâng cao theo tinh thần Quyết định số 691/QĐ-TTg ngày 05/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ, nhiều địa phương đã đạt nông thôn mới kiểu mẫu với thu nhập và mức sống của người dân cao, hình thức tổ chức sản xuất được đổi mới theo hướng hiện đại và cảnh quan môi trường được giữ vững bảo đảm sạch đẹp của nông thôn đáng sống. Dự kiến quá trình XDNTM giai đoạn 2021 - 2025 chủ yếu tập trung nâng

cao đời sống người dân nông thôn và có 3 mức độ: nông thôn mới đạt chuẩn, nông thôn mới nâng cao và nông thôn mới kiểu mẫu.

c. Xây dựng nông thôn mới

Ở Việt Nam, chương trình mục tiêu Quốc gia về XDNTM chính là một

trong những giải pháp nhằm cụ thể hóa và thực hiện chính sách "tam nông" theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X. Xây dựng một nông thôn mới không chỉ là việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất mà là sự thay đổi một cách căn bản về diện mạo nông thôn; thay đổi từ suy nghĩ, cách làm và tư duy của cư dân nông thôn giúp họ có thể tự nâng cao được đời sống vật chất, tinh thần. Đồng thời, XDNTM dần đạt được mục tiêu giúp nông dân vẫn là người gắn bó với ruộng đồng, làng xóm nhưng có cách thức sản xuất ngày càng hiện đại hơn, lối sống lành mạnh, tinh thần thoải mái, các nhu cầu chính đáng trong cuộc sống

của họ ngày càng được đảm bảo phong phú và tốt hơn. Theo đó, XDNTM là để

261

phát triển toàn diện cả kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội nông thôn và cả hệ thống chính trị, đáp ứng được yêu cầu xã hội nông thôn ấm no, thịnh vượng, dân chủ, văn minh, phát triển hài hoà và giữ được nét đặc trưng riêng biệt của nông thôn.

Mặt khác trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, XDNTM nhằm giúp cho nông dân có cơ hội tiếp cận với những thành tựu mới ở các địa phương và các quốc gia khác nhau, giúp người dân nông thôn trở nên tự tin, năng động, sáng tạo hơn, tạo động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, đồng thời khơi dậy tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau để cùng xây dựng xã hội ở khu vực nông thôn phát triển lành mạnh giàu đẹp, dân chủ,

văn minh và hiện đại hơn.

Như vậy, XDNTM có thể hiểu là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan và hạ tầng nông thôn phù hợp điều kiện tự nhiên, địa hình, nhằm khai thác tối đa những ưu thế của địa phương một cách hiệu quả nhất để phát triển kinh tế nhằm nâng cao điều kiện sống theo hướng hiện đại, các nhu cầu về xã hội được đảm bảo nhưng vẫn giữ được môi trường sinh thái tự nhiên và bản sắc văn hóa của địa phương.

d. Các tiêu chí về xã nông thôn mới

* Nhóm tiêu chí về quy hoạch

Nhóm tiêu chí về quy hoạch và thực hiện quy hoạch chỉ có một tiêu chí

(tiêu chí 1) với chỉ tiêu được đặt ra là:

- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông

nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ.

- Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo chuẩn

mới.

- Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư

hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp.

- Ban hành quy định quản lý quy hoạch chung xây dựng xã và tổ chức thực

hiện theo quy hoạch.

262

* Nhóm tiêu chí về hạ tầng kinh tế - xã hội: Nhóm tiêu chí này có 8 tiêu chí

(từ tiêu chí số 2 đến tiêu chí số 9), có thể khái quát ở một số điểm như:

- Tiêu chí 2: Giao thông

Giao thông là hệ thống cấu trúc phức tạp phân bố trên toàn lãnh thổ, có ảnh

hưởng rất lớn tới việc phát triển kinh tế xã hội và luôn có mối quan hệ chặt chẽ

với các hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội. Trong quá trình đổi mới vừa qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Chính phủ, các chủ trương lớn của Đảng được Chính phủ cụ thể hoá và tổ chức thực hiện quyết liệt, thành quả nổi bật có thể kể đến là giao thông, trong đó có giao thông nông thôn, hiện nay hệ thống giao thông nông thôn với sự hưởng ứng tích cực từ chính người dân nông thôn nên tiêu chí này đã có bước phát triển căn bản và nhảy vọt, làm thay đổi không chỉ về số lượng mà còn nâng cấp về chất lượng con đường về tới tận thôn (xóm) tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển văn hóa, xã hội và thu hút các lĩnh vực đầu tư về khu vực nông thôn, tạo công ăn việc làm, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội.

Tuy nhiên, thực tế đó vẫn chưa theo kịp với tốc độ phát triển của xã hội và

tiềm lực của quốc gia có nền kinh tế sản xuất nông nghiệp nền tảng từ lâu đời và

cũng chưa thích ứng được với địa hình của quốc gia thường xuyên chịu ảnh
hưởng lớn của thiên tai, biến đổi khí hậu. Chương trình XDNTM với mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp nên đã có các tiêu chuẩn để phát triển giao thông nông thôn trước mắt và lâu dài đảm bảo chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải đối với đường trục xã, liên xã, đường trục thôn (xóm), đường trục chính nội đồng.
- Tiêu chí 3: Thủy lợi
Hệ thống công trình thủy lợi là cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ tưới, tiêu,
phòng, chống giảm nhẹ thiên tai và thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác. Thủy lợi là tổng hợp các giải pháp nhằm tích trữ, điều hòa, chuyển, phân phối, cấp, tưới, tiêu và thoát nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối; kết hợp cấp, tiêu, thoát nước cho sinh hoạt và các ngành kinh tế
Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 10380: 2014 Đường giao thông nông thôn.
263

khác; góp phần phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến

đổi khí hậu và bảo đảm an ninh nguồn nước. Công trình thủy lợi là công trình hạ tầng kỹ thuật thủy lợi bao gồm đập, hồ chứa nước, cống, trạm bơm, hệ thống dẫn, chuyển nước, kè, bờ bao thủy lợi và công trình khác phục vụ quản lý, khai thác thủy lợi. Công trình thủy lợi đầu mối là công trình thủy lợi ở vị trí khởi đầu của hệ thống tích trữ, điều hòa, chuyển, phân phối, cấp, điều tiết nước hoặc công trình ở vị trí cuối của hệ thống tiêu, thoát nước. Hệ thống dẫn, chuyển nước bao gồm kênh, mương, rạch, đường ống, xi phông, tuynel, cầu máng dùng để dẫn, chuyển nước. Thủy lợi nội đồng là công trình kênh, mương, rạch, đường ống dẫn nước tưới, tiêu nước trong phạm vi từ điểm giao nhận sản phẩm, dịch vụ thủy lợi đến khu đất canh tác. Vì thế thuỷ lợi có vai trò rất quan trọng đời sống con người và hệ sinh thái tự nhiên.

Với mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh

tế độc lập tự chủ, phát triển thuỷ lợi đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và môi trường, khai thác sử dụng nước hợp lý, phục vụ đa mục tiêu, nâng cao mức bảo đảm an toàn trong khai thác sử dụng, phòng chống thiên tai, chống suy thoái nguồn tài nguyên nước ngọt,... nên tiêu chí cần thực hiện về thuỷ lợi

trong chương trình mục tiêu quốc gia về XDNTM là một trong những nhiệm vụ cần được quan tâm thực hiện.

- Tiêu chí 4: Điện

Thực hiện chủ trương bàn giao lưới điện hạ áp nông thôn cho ngành điện quản lý để đảm bảo tính đồng bộ trong vận hành, duy tu bảo dưỡng và phát triển mạng lưới điện phục vụ người dân, giảm tổn thất điện năng. Đây là tiêu chí được

ưu tiên thực hiện, để giúp các địa phương thực hiện_tiêu chí này Bộ Công thương ban hành Quyết định số 4293/QĐ-BCT ngày 28/10/2016 về phương pháp đánh giá thực hiện tiêu chí số 4 về điện nông thôn trong Bộ tiêu chí quốc gia về XDNTM, hầu hết UBND các tỉnh/thành phố đã ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết và triển khai thực hiện, phối hợp với các đơn vị liên quan tăng cường kiểm tra lưới điện trên địa bàn; đôn đốc các công ty điện lực trực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam và tổ chức quản lý, bán lẻ điện nông thôn. Để thực hiện

264

tiêu chí số 4 về điện nông thôn đạt hiệu quả cao nhất, Bộ Công thương yêu cầu UBND tỉnh/thành phố chỉ đạo UBND cấp huyện, xã tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia bảo vệ hành lang an toàn lưới điện, sử dụng điện an toàn, tiết kiệm; phối hợp cùng Ban quản lý Dự án điện nông thôn trong công tác giải phóng mặt bằng, bàn giao quỹ đất thực hiện dự án cấp điện; đầu tư hệ thống điện sau công tơ bảo đảm điều kiện kỹ thuật. Đồng thời, chỉ đạo các sở, ngành và UBND cấp huyện phối hợp với Sở Công thương khảo sát, lập kế hoạch đầu tư xây dựng lưới điện, tránh trùng lặp khi triển khai thực hiện87.

- Tiêu chí 5: Trường học

Trong những năm gần đây, kiên cố hoá trường luôn nhận được sự quan tâm

của các cấp chính quyền, nhân dân cùng các tổ chức xã hội đầu tư, hỗ trợ xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục. Việc huy động và lồng ghép các chương trình mục tiêu để đầu tư xây mới, cải tạo nâng cấp phòng học, phòng chức năng, trang bị cơ sở vật chất cho các trường, thực hiện kiên cố và bán kiên cố, cơ bản bảo đảm nhu cầu dạy và học. Tiêu chí 5 được đánh giá ở: Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung

học cơ sở có cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đạt chuẩn quốc gia.

- Tiêu chí 6: Cơ sở vật chất văn hóa

Là loại hạ tầng phục vụ các hoạt động văn hoá ở nông thôn như: sinh hoạt,

hội họp, giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, khu vui chơi giải trí để người dân nông thôn nâng cao mức thụ hưởng văn hóa, khắc phục tình trạng chênh lệch mức hưởng thụ văn hóa với người dân thành thị. Tuy nhiên, việc thu hút đầu tư tư nhân vào các loại công trình này ở nông thôn hiện đang rất thấp nên đây cũng là tiêu chí cần phấn đấu trong tương lai tuỳ theo mức độ phát triển của từng địa phương để đáp ứng nhu cầu tinh thần cho người dân nông thôn.

- Tiêu chí 7: Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn

Chợ nông thôn là loại hạ tầng tương đối quan trọng, không chỉ là nơi mua

bán hàng hoá mà còn là nơi giao lưu, gặp gỡ, trao đổi nhưng thực hiện tiêu chí 87 Quyết định 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

Quyết định 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

265

này thực sự khó khăn, nhất là đối với các xã nghèo, thưa dân sẽ rất khó thu hút

doanh nghiệp vào đầu tư bởi chi phí xây dựng chợ tốn kém, thu hồi vốn lâu và cơ chế ưu đãi về đất đai, thuế, hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ, rõ ràng. Một số chợ hiện nay có diện tích nhỏ, khó mở rộng thêm do nằm sát khu dân cư hoặc các công trình công cộng khác đòi hỏi chi phí về giải phóng mặt bằng rất tốn kém, còn nếu di dời ra chỗ mới thì lại vướng bởi thói quen của cư dân nông thôn chưa muốn thay đổi.

Vì vậy, đây là tiêu chí đã được sửa lại cho phù hợp với cả truyền thống và

hiện đại nên tiêu chí số 7 hiện nay được gọi là "Cơ sở hạ tầng thương mại nông

thôn'. "Cơ sở hạ tầng thương mại xã nông thôn mới là hạ tầng thương mại được thiết lập tại địa bàn xã, bao gồm chợ nông thôn hoặc cơ sở bán lẻ khác (siêu thị mini, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng kinh doanh tổng hợp) đạt tiêu chí quy định tại Quyết định số 4800/QĐ-BCT ngày 08/12/2016 của Bộ trưởng Bộ Công thương về việc hướng dẫn thực hiện và xét công nhận tiêu chí cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn

2016 - 2020. Theo đó, chợ nông thôn đạt tiêu chí khi đáp ứng các yêu cầu: Có mặt bằng chợ phù hợp với quy mô hoạt động chợ. Bố trí đủ diện tích cho các hộ kinh doanh cố định, không cố định và các dịch vụ tối thiểu tại chợ (trông giữ xe,

vệ sinh công cộng). Nhà chợ chính phải bảo đảm kiên cố hoặc bán kiên cố. Khu bán thực phẩm tươi sống, khu dịch vụ ăn uống được bố trí riêng, bảo đảm điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm. Có nước sạch, nước hợp vệ sinh bảo đảm cho hoạt động của chợ. Đồng thời có phương án và hệ thống cấp điện theo quy định bảo đảm cho hoạt động của chợ..

Các cơ sở bán lẻ khác ở nông thôn như siêu thị mini, cửa hàng tiện ích, cửa

hàng kinh doanh tổng hợp đạt tiêu chí khi đáp ứng các yêu cầu: Có bảng hiệu thể hiện tên siêu thị hoặc cửa hàng tiện ích, cửa hàng kinh doanh tổng hợp. Có thời gian mở cửa phù hợp cho việc mua sắm hàng ngày của người dân. Công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có thiết kế và trang bị kỹ thuật đảm bảo các yêu cầu phòng cháy, chữa cháy, vệ sinh an toàn môi trường, an toàn, thuận tiện cho khách hàng. Có bố trí điểm hoặc phương án trông giữ xe và khu

266

vệ sinh phù hợp cho khách hàng. Các hàng hóa, dịch vụ kinh doanh không thuộc danh mục cấm kinh doanh; tổ chức bố trí hàng hóa văn minh, khoa học,.

Xã được công nhận đạt tiêu chí cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn khi có

chợ nông thôn trong quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt và đạt chuẩn theo các tiêu chí trên, có siêu thị mimi hoặc cửa hàng tiện lợi, cửa hàng kinh doanh tổng hợp đạt chuẩn theo tiêu chí trên.

- Tiêu chí 8: Thông tin và Truyền thông

Thông tin và truyền thông (TT&TT) là một bộ phận quan trọng của kết cấu

kinh tế - xã hội. Phát triển TT&TT là tiền đề quan trọng để nâng cao dân trí, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Hạ tầng này gồm có: điểm phục vụ bưu chính đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ bưu chính của các tổ chức, cá nhân tại địa phương; có cung cấp dịch vụ viễn thông, internet; có đài truyền thanh và hệ thống loa đến các thôn; có ứng dụng thông tin trong công tác quản lý điều hành. Thực hiện tiêu chí này các địa phương cần chủ động định hướng các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông đầu tư phát triển hạ tầng mạng lưới và tổ chức cung ứng dịch vụ cơ bản đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng bưu chính, viễn thông góp phần thúc đẩy phát triển và ứng dụng CNTT rộng khắp và phục

vụ cư dân nông thôn. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn sách, báo nhằm đảm bảo duy trì bền vững hoạt động phục vụ sách, báo; chỉ đạo các doanh nghiệp bưu chính đảm bảo thời gian phục vụ tại các điểm bưu điện văn hóa xã.

Tiêu chí Thông tin và Truyền thông được quy định tại Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ.

- Tiêu chí 9: Nhà ở dân cư

Nhà ở là tiêu chí rất quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sinh

hoạt của người dân. Vì vậy, phát triển kinh tế, tăng thu nhập chính đáng để người dân từng bước tích lũy xây dựng nhà ở ổn định, đạt chuẩn theo quy định của Bộ Xây dựng là mục tiêu trước mắt trong XDNTM. Theo tiêu chuẩn, nhà ở nông thôn phải đảm bảo "3 cứng (nền cứng, khung cứng, mái cứng). Các bộ phận nền, khung, mái của căn nhà phải được làm từ các loại vật liệu có chất

267

lượng tốt (không làm từ các loại vật liệu tạm, mau hỏng, dễ cháy). Đảm bảo quy hoạch, bố trí không gian các công trình trong khuôn viên (gồm nhà ở và các công trình đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tối thiểu như bếp, nhà vệ sinh...) phải đảm bảo phù hợp, thuận tiện cho sinh hoạt đối với mọi thành viên trong gia đình; đồng thời các công trình đảm bảo yêu cầu tối thiểu về diện tích sử dụng. Có đủ các công trình hạ tầng kỹ thuật phục vụ sinh hoạt như điện, nước sạch, vệ sinh môi trường,... Giao thông đi lại từ chỗ ở phải kết nối với hệ thống giao thông chung của thôn xóm, đảm bảo thuận lợi cho việc đi lại cho người cũng như các phương tiện khác như xe thô sơ, xe máy,... Kiến trúc, mẫu nhà ở phải phù hợp với phong tục, tập quán, lối sống truyền thống của địa phương.

* Nhóm tiêu chí về kinh tế và tổ chức sản xuất: Đây là 4 tiêu chí thể hiện

việc phát triển kinh tế nông thôn, tổ chức sản xuất với mục tiêu giải quyết việc làm, tổ chức sản xuất hợp lý để nâng cao thu nhập, giảm nghèo, nâng cao chất lượng sống của người dân nông thôn. Các tiêu chí này được khái quát như sau:

- Tiêu chí 10: Thu nhập

Nhiệm vụ trọng tâm của XDNTM là tăng thu nhập cho nông dân, là tiêu

chí qua trọng nhất và khó thực hiện nhất. Tiêu chí thu nhập của xã nông thôn mới ở từng vùng đã ba lần thay đổi và có nâng cao tiêu chí thu nhập của nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu.

- Tiêu chí 11: Hộ nghèo

Nghèo đa chiều đo lường ở các vấn đề như: thu nhập, mức độ thiếu hụt tiếp

cận dịch vụ xã hội cơ bản (y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin).

Giảm nghèo bền vững với các tiêu chí cao hơn lồng ghép với XDNTM. Tuy nhiên, đây là tiêu chí không dễ để thực hiện, xoá đói giảm nghèo Việt Nam đã thực hiện được những thành công nhất định nhưng giảm nghèo đa chiều mới cần phải thời gian dài hạn hơn, sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành để huy động nguồn lực đầu tư về hạ tầng, khoa học - kỹ thuật, giống, vốn phát triển sản xuất và nỗ lực vươn lên thoát nghèo từ phía người dân (khoản tín dụng ưu đãi trị giá 153 triệu USD trợ giúp Chương trình Mục tiêu Quốc gia của Việt Nam trong công cuộc giảm nghèo và phát triển nông thôn giai đoạn 2017 - 2022. Cùng với

268

các ưu tiên phát triển khác, khoản tài chính này hỗ trợ mạnh mẽ cho sự phát triển

các doanh nghiệp nông thôn và các hoạt động đầu tư chuỗi giá trị cho các nhà sản

xuất tại nông thôn, đặc biệt hướng đến các nhóm người dân tộc thiểu số).

- Tiêu chí 12: Lao động có việc làm

Tiêu chí tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên là một trong những tiêu

chí quan trọng, là tiền đề để góp phần đạt các tiêu chí như hộ nghèo, thu nhập,..

Ở Việt Nam trong quá trình phát triển, diện tích ruộng đất trên một lao

động ngày càng giảm thì việc làm của lao động nông thôn trở thành vấn đề

không dễ để giải quyết. Hơn nữa, trình độ của lao động nông thôn còn hạn chế

khi tiếp cận với các ngành nghề mới nên ty lệ lao động nông thôn không có việc

làm hoặc thiếu việc làm đang có xu hướng gia tăng. Do đó, đào tạo nghề và đa

dạng các hình thức đào tạo nghề kết hợp với giải quyết việc làm cho lao động

nông thôn cần sự quan tâm thích đáng từ Nhà nước, các cấp, các ngành và chính

bản thân người dân nông thôn để thực hiện thành công tiêu chí này. XDNTM

với việc thực hiện các tiêu chí về phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp,

dịch vụ, du lịch là một trong những biện pháp giúp cho việc thực hiện tiêu chí

lao động có việc làm thường xuyên.

2

- Tiêu chí 13: Tổ chức sản xuất

Tổ chức sản xuất được hiểu là tổ chức để quản lý, điều hành sản xuất, cung

cấp, nhằm sản xuất một mặt hàng nào đó. Việc tổ chức đó sẽ có 2 vấn đề: (i) Tổ

chức quản lý; (ii) Tổ chức lao động sản xuất trực tiếp tạo ra sản phẩm (công

nhân, chuyên viên kỹ thuật hoặc người lao động).

Tổ chức sản xuất là một trong những tiêu chí quan trọng của chương trình

mục tiêu quốc gia XDNTM, nhằm nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững cho

người dân thông qua việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tiếp cận thị

trường, thông tin kinh tế để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm

trong nông nghiệp.

Để thích ứng với nền kinh tế thị trường trong thời kỳ hội nhập quốc tế, các

tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn cũng cần phải có phương thức

sản xuất đa dạng, đan xen khác nhau như: sản xuất truyền thống, sản xuất hiện

269

đại, sản xuất bán hiện đại, sản xuất hữu cơ, sinh thái, liên kết chuỗi ngành hàng,.

* Nhóm tiêu chí về văn hóa - xã hội - môi trường, gồm 4 tiêu chí được khái

quát như sau:

- Tiêu chí 14: Giáo dục

Cơ sở vật chất khang trang, là cơ sở để nhân dân trong huyện yên tâm cho con theo học. Hy vọng rằng sẽ có thêm nhiều trường trên địa bàn hoàn thành tiêu chí về cơ sở vật chất trường học, góp phần cùng nhân dân toàn huyện hoàn thành chương trình XDNTM theo đúng kế hoạch.

Tiêu chí về giáo dục được thể hiện ở các nội dung như: quản lý, tổ chức dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng; đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm giảng dạy, tận tâm với nghề; tập trung đổi mới phương pháp giảng dạy, lấy học sinh làm trung tâm, điều chỉnh nội dung dạy học phù hợp đặc điểm tâm - sinh lý của học sinh; tăng cường giáo dục đạo đức, kết hợp giữa dạy kiến thức và dạy kỹ năng sống cho học sinh; tạo môi trường giáo dục lành mạnh, thân thiện với học sinh; tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Đồng thời củng cổ và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi; triển khai dạy học ngoại ngữ theo chương trình mới ở những nơi có đủ điều kiện; duy trì và tổ chức dạy học 2 buổi/ngày. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và giảng dạy; tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên tham gia các lớp tập huấn của tỉnh để nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ,... Các chỉ tiêu cụ thể của tiêu chí giáo dục được quy định tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20 tháng 02 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ và bộ tiêu chí dự kiến giai đoạn 2021-2025.

- Tiêu chí 15: Y tế

Hạ tầng y tế ở nông thôn chủ yếu là các cơ sở y tế, trạm y tế xã, xây dựng

cơ sở vật chất, trang bị máy móc hiện đại và áp dụng CNTT vào khám chữa bệnh tại cơ sở. Trong quá trình triển khai Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 22/01/2002

270

của Ban Bí thư Trung ương về củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, Quyết định số 370/2002/QĐ-BYT về việc ban hành "chuẩn quốc gia về y tế xã

giai đoạn 2001 - 2010", Quyết định số 4667/2014/QĐ-BYT về việc ban hành chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn đến 2020, các cấp ủy và chính quyền địa phương đã cố gắng nhưng thực sự vẫn khó khăn về cơ sở hạ tầng, máy móc, trang thiết bị của các cơ sở y tế và trạm y tế tại các khu vực nông thôn. Cũng tương tự quy trình xử lý rác thải, nhà tiêu hợp vệ sinh của cơ sở y tế và trạm y tế chưa đúng vì thiếu máy móc, dụng cụ xử lý.

Về chất lượng của công tác y tế cơ sở được tính ở các chỉ tiêu: có đội ngũ

y, bác sĩ đạt chuẩn, công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu tốt, phòng chống dịch bệnh tốt, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể thấp còi (chiều cao theo tuổi),... xã hội càng phát triển thì các tiêu chuẩn cho công tác y tế càng đòi hỏi cao.

- Tiêu chí 16: Văn hóa

Trong quản lý văn hóa ở nông thôn phải hiểu rõ khái niệm và bản chất của

văn hóa nông thôn. Văn hóa nông thôn vốn mang nhiều màu sắc, thông qua cấu

trúc nhà ở truyền thống và thể hiện ngay cả trong giao ước mang tính quy định làng xã như Hương ước làng, thông qua các lễ hội và các ngành nghề truyền thống,... Quá trình phát triển những nét văn hóa trên ngày càng có giá trị, nhưng cũng đang ngày càng bị mai một, nông thôn còn đang đối diện với một số vấn đề như: sự không nhất quán trong sử dụng đất xây dựng, trong bố trí xây dựng các công trình công cộng trong các điểm dân cư (khu vực có điều kiện tự nhiên, xã hội, kinh tế tương tự nhau), sự phát triển không hợp lý các điểm dân cư trung tâm xã, điểm dân cư với sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển tự phát, phân tán của các loại hình sản xuất công nghiệp mới theo hộ gia đình, ảnh hưởng đến làng nghề truyền thống và văn hoá nông thôn. Trong XDNTM, cần giữ gìn và phát phát huy những nét đẹp của văn hóa làng xã truyền thống.

- Tiêu chuẩn 17: Môi trường

Nông thôn luôn có môi trường sống mang bản sắc riêng của mình (yên tĩnh

gắn nhiều với cảnh quan tự nhiên,...) mà đô thị không thể có được (sôi động và

271

nhiều công trình nhân tạo, ô nhiễm công nghiệp,...). Các chính sách về đất ở nông thôn, kế hoạch hóa gia đình, phúc lợi công cộng và quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đóng vai trò quan trong việc giữ và phát triển môi trường nông thôn bền vững.

Những vấn đề cấp thiết về môi trường mang tính toàn cầu là: (i) giảm mạnh cường độ phát thải khí nhà kính toàn cầu so với phương án phát triển thông thường để tránh những hiểm họa của biến đổi khí hậu; (ii) tạo điều kiện cho người nông dân nghèo và cận nghèo ở các nước đang phát triển cải thiện đời sống; (iii) giảm ô nhiễm nguồn nước từ chất dinh dưỡng và thuốc bảo vệ thực vật.

Chính phủ Việt Nam đã ban hành một số chính sách cơ bản về môi trường

nông thôn bao gồm các chiến lược ngắn hạn, trung hạn và dài hạn như: cung cấp nước sinh hoạt, vệ sinh nông thôn. Theo Chiếc lược Quốc gia về Cung cấp Nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn (đến năm 2020), Chính phủ đề ra mục

tiêu đạt được 100% dân số nông thôn sẽ có nước sạch theo tiêu chuẩn quốc gia tối thiểu là 60 lít/người/ngày và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh. Chương trình mục tiêu quốc gia về cấp nước sinh hoạt nông thôn là chương trình bao trùm tất cả

các chương trình (các chương trình phát triển giữa các vùng) và dự án (các dự án

liên vùng) trong phạm vi của ngành cấp nước nông thôn và được xem là một công cụ để thực hiện Chiến lược Cấp nước sinh hoạt nông thôn và vệ sinh môi trường. Nguyên tắc cơ bản của Chiến lược quốc gia về Cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn là phải có tính bền vững, triển khai nhanh. Các hoạt động thông tin, giáo dục và truyền thông đã được nhận thức như là một yếu tố thiết yếu của Chiến lược quốc gia về Cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn và đã nhấn mạnh đặc biệt đến việc tăng cường xây các nhà tiêu hợp vệ sinh và việc sử dụng đúng cách cũng như làm cho người dân hiểu rõ mối quan hệ giữa vệ sinh

và sức khoẻ con người.

* Nhóm tiêu chí về hệ thống chính trị, gồm 2 tiêu chí là:

- Tiêu chí 18: Hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật

Hệ thống chính trị ở cơ sở là cấp trực tiếp thực hiện các đường lối, chủ

trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, là cầu nối trực tiếp để đưa

272

Nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, gắn bó với nhân

dân, nơi trực tiếp quản lý các hoạt động kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng, Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò, nhiệm vụ tổ chức và vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Tất cả các hoạt động từ việc triển khai, tuyên truyền đến việc giám sát thực

hiện đều cần sự sáng tạo, chủ động của cả hệ thống chính trị nhằm động viên, khích lệ các tổ chức, cá nhân và chính người dân nông thôn tích cực tham gia. Vì thế, đòi hỏi hệ thống chính trị phải có chuyên môn, nghiệp vụ thành thạo, kỹ năng để bao quát triển khai nhiệm vụ; cán bộ, công chức gương mẫu thực hiện người dân sẽ tin tưởng và làm theo.

Thực hiện tiêu chí 18, cấp ủy, chính quyền cần được rà soát lại trình độ,

năng lực công tác, mức độ tiếp cận pháp luật để bố trí hợp lý cán bộ đủ năng lực trình độ hoặc đào tạo cán bộ đáp ứng yêu cầu xây dựng xã nông thôn mới. Mức độ tiếp cận pháp luật được đánh giá ở các nội dung89: Bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật; thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã; phổ biến, giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở; thực hiện dân chủ ở cơ

sở. Năm nội dung của tiêu chí mức độ tiếp cận pháp luật được đánh giá chi tiết ở

25 chỉ tiêu cụ thể liên quan đến việc giải quyết công việc của hệ thống chính trị, điều này nói lên tính toàn diện của việc thực hiện tiêu chí 18 trong XDNTM để tiến tới đạt chuẩn văn minh nông thôn.

- Tiêu chí 19: Quốc phòng và An ninh

Một số nhiệm vụ cụ thể cần tiến hành đối với công tác quốc phòng an ninh

trong XDNTM là: (i) thực hiện việc xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới, lấy xây dựng tiềm lực chính trị tinh thần làm trọng tâm; tổ

chức các lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho các đối tượng; làm tốt công tác gọi công dân nhập ngũ và quản lý thống nhất nguồn động viên quốc

89 Xem thêm: Quyết định số 619/QĐ- TTg ngày 08 tháng 5 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Quyết định số 25/2021/QĐ- TTg ngày 22 tháng 7 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ Quy định về xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (có hiệu lực thi hành từ 01/01/2022).

273

phòng; tăng cường công tác bảo vệ an ninh khu vực trong bờ và ngoài biển khơi.

(ii) nắm chắc tình hình quần chúng, kịp thời phát hiện ngăn chặn các âm mưu,

thủ đoạn của địch và phần tử xấu để chủ động làm thất bại và kiên quyết không

để bị động, bất ngở xảy ra; vận động toàn xã hội đóng góp cho qũy quốc phòng -

an ninh; sẵn sàng chiến đấu, kịp thời cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả khi có

thiên tai xảy ra; (iii) thực hiện tốt chương trình quốc gia về phòng chống tội

phạm, nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh vực an ninh, trật

tự, nhất là tập trung các giải pháp để kiềm chế sự gia tăng của các loại tội phạm

hình sự, tai nạn giao thông, tai nạn và tệ nạn xã hội, bảo đảm an ninh nông thôn.

Căn cứ vào nhiệm vụ của công tác quốc phòng an ninh trong mỗi giai đoạn

phát triển của xã hội, những xã đã được công nhận tiêu chí này, sau 5 năm (kể từ

khi được công nhận), sẽ phải rà soát, đánh giá để công nhận lại.

Tóm lại: năm nội dung của tiêu chí XDNTM có mối quan hệ logic với

nhau. Xét về đặc tính của năm nội dung này, thì nông thôn mới với quy hoạch

và thực hiện quy hoạch là tiền đề để thực hiện bốn nội dung còn lại đảm bảo tính

chiến lược và khả thi. Nội dung phát triển hạ tầng kinh tế xã hội để đảm bảo các

tiêu chí mang tính vật chất làng xã khang trang, diện mạo nông thôn sạch đẹp.

2

Nội dung về kinh tế và tổ chức sản xuất để đảm bảo sản xuất phát triển là nội

dung mang tính quá trình, tính phương tiện. Nội dung xây dựng hệ thống chính

trị là tiền đề để quản lý dân chủ. Nội dung về kinh tế và tổ chức sản xuất và xây

dựng hệ thống chính trị có mối quan hệ tương hỗ với nhau, kinh tế phát triển sẽ

kéo theo khả năng tự phát triển trình độ của hệ thống chính trị ngày càng được

nâng cao để đáp ứng nhu cầu quản lý dân chủ hóa; ngược lại, hệ thống chính trị

được nâng cao sẽ thúc đẩy khả năng phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất ngày

càng tiến bộ. Nội dung phát triển hạ tầng và kinh tế là yếu tố vật chất sẽ có quan

hệ hỗ trợ cho nội dung văn hoá xã hội môi trường là yếu tố về tinh thần, kinh tế

là điều kiện cho thực hiện các tiêu chí phát triển xã hội và gìn giữ di sản văn

hoá; ngược lại di sản văn hoá nông thôn là nơi có thể giúp phát triển kinh tế.

Tiếp theo của quá trình XDNTM, các tiêu chí trên còn được dự kiến thực

hiện nâng cao hơn về chất lượng gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, phát

274

triển các hoạt động bảo quản, chế biến, tiêu thụ theo hướng chuỗi giá trị ngành hàng đối với các sản phẩm nông nghiệp và hiện đại hóa ngành nông nghiệp.

e. Tiêu chí huyện nông thôn mới

Theo quy định, huyện nông thôn mới là huyện phải có 100% số xã đạt nông

thôn mới và các tiêu chí quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, y tế, văn hóa, giáo dục, sản xuất, môi trường, an ninh - trật tự xã hội, chỉ đạo XDNTM phải đạt. Trong đó chỉ tiêu tỷ lệ km đường huyện đạt chuẩn theo quy hoạch; Cơ sở sản xuất, chế biến, dịch vụ (công nghiệp, làng nghề, chăn nuôi, chế biến lương thực - thực phẩm) thực hiện đúng các quy định về bảo vệ môi trường phải đạt 100%; chỉ tiêu tỷ lệ trường Trung học phổ thông đạt chuẩn phải đạt từ 60% trở lên°. Giai đoạn tiếp theo của quá trình XDNTM, tiêu chí huyện nông mới còn được nâng lên ở các nội dung như: các tiêu chí huyện nông thôn mới nâng cao, tỷ lệ xã đạt nông thôn mới nâng cao, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị và không có nợ đọng xây dựng cơ bản trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia XDNTM trên địa bàn, tỷ lệ hài lòng của người dân đối với kết quả xây dựng nông thôn mới nâng cao của huyện.

2. Trách nhiệm của chính quyền huyện, xã trong xây dựng nông thôn

mới

a. Trách nhiệm của chính quyền cấp huyện trong xây dựng nông thôn mới

Trách nhiệm của chính quyền cấp huyện tập trung ở các nội dung:

- Hướng dẫn tổ chức triển khai Chương trình trên địa bàn huyện;

- Xây dựng và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch xây dựng

vùng huyện và chỉ đạo các xã rà soát, bổ sung hoàn chỉnh quy hoạch nông thôn mới cấp xã phù hợp với quy hoạch xây dựng vùng huyện;

- Chỉ đạo rà soát và điều phối kế hoạch XDNTM các xã trên địa bàn để phù

hợp với kế hoạch XDNTM của huyện;

- Chỉ đạo nâng cấp và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện

(giao thông, thủy lợi, điện) đảm bảo kết nối đồng bộ với cơ sở hạ tầng của các xã trên địa bàn;

Quyết định số 558/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 05/4/2016.

275

- Chỉ đạo và phân công các phòng, ban thuộc huyện trực tiếp hỗ trợ các xã

để triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia XDNTM;

- Quy hoạch và thúc đẩy phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa

tập trung theo hướng liên kết chuỗi giá trị phù hợp với định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh91;

- Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm

chủ của nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn huyện;

- Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương cấp

xã9 trong XDNTM.

HĐND huyện có trách nhiệm giám sát UBND huyện, UBND xã trong việc

thể chế hóa văn bản của cấp trên về chương trình mục tiêu quốc gia về XDNTM và giám sát việc thực hiện Nghị quyết của HĐND huyện về nhiệm vụ XDNTM, các Nghị quyết về chính sách hỗ trợ XDNTM trong từng năm; giám sát công tác lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện nhiệm vụ XDNTM của HĐND xã, UBND xã và Ban chỉ đạo XDNTM các xã. HĐND huyện tập trung giám sát các nội dung như: giám sát công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai công tác XDNTM; giám sát công tác tuyên truyền, tập huấn về XDNTM; huy động nguồn lực trong

XDNTM, giám sát công tác chỉ đạo phát triển sản xuất, phát triển ngành nghề, giúp nâng cao thu nhập cho người dân,... đặc biệt là giám sát việc thực hiện các tiêu chí XDNTM ở các xã trên địa bàn huyện.

b. Trách nhiệm của chính quyền xã trong xây dựng nông thôn mới

Chính quyền xã trong XDNTM cần tập trung vào các nội dung:

- Tổ chức xây dựng quy hoạch, các đề án, kế hoạch tổng thể và kế hoạch

đầu tư hàng năm XDNTM của xã, lấy ý kiến các cộng đồng dân cư trong toàn xã, tổ chức thông qua và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt;

91 Quyết định 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

∞ Điều 24 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; sửa đổi, bổ sung 2019.

276

- Tổ chức phát động phong trào toàn dân XDNTM trong thôn, xã theo từng giai đoạn trên cơ sở giao nhiệm vụ cho từng đơn vị, cá nhân phụ trách trong việc thực hiện các nhiệm vụ của Đề án (sau khi đã được UBND huyện phê duyệt);

- Tiếp nhận và sử dụng hiệu quả vốn hỗ trợ của Trung ương, tỉnh, huyện,

xã và các tổ chức trong và ngoài nước để XDNTM. Ước tính các công việc và xác định khả năng tổng nguồn vốn cho XDNTM,... quản lý và triển khai thực

hiện các dự án, nội dung bao gồm việc thực hiện các bước từ chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, nghiệm thu bàn giao và đưa dự án vào khai thác, sử dụng. Ban quản lý xã là chủ đầu tư các dự án, nội dung XDNTM trên địa bàn xã;

- Tổ chức và tạo điều kiện cho cộng đồng dân cư tham gia thực hiện, giám sát các hoạt động thực thi các dự án đầu tư trên địa bàn xã;

- Báo cáo tiến độ thực hiện các tiêu chí nông thôn mới và các giải pháp hoàn thành XDNTM.

Thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương,

HĐND xã triển khai XDNTM. HĐND xã thực hiện việc thông qua nghị quyết về XDNTM của địa phương và thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội,

thu chi ngân sách địa phương, quyết toán ngân sách địa phương; điều chỉnh dự toán ngân sách trong trường hợp cần thiết, quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án trên địa bàn theo quy định của pháp luật. Đại biểu HĐND xã có trách nhiệm gặp gỡ, tiếp xúc trực tiếp với nhân dân để lắng nghe, phản ánh các ý kiến đến các ban, ngành giải quyết kịp thời những vấn đề vướng mắc; thường xuyên phối hợp theo dõi việc tiếp nhận, xử lý và đôn đốc, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân. HĐND xã thực hiện giám sát chuyên đề đối với UBND xã và các đơn vị trong việc thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước, nghị quyết của HĐND. Đại biểu HĐND xã thực hiện hoạt động tiếp xúc cử tri, tiếp công dân theo quy định và có trách nhiệm phổ biến, quán triệt, triển khai các văn bản của trung ương, của tỉnh, của huyện về XDNTM trên địa bàn xã; tham gia phối hợp cùng các ban ngành, đoàn thể và các thôn chỉ đạo và tổ chức thực hiện các tiêu chí nông thôn mới; chú trọng công tác giám sát, khảo sát ở các thôn/xóm/bản/làng để nắm bắt tình hình, kịp thời kiến

277

nghị các giải pháp hữu hiệu. Công tác giám sát tập trung vào các chỉ tiêu để thực

hiện các tiêu chí nông thôn mới như việc thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo; chính sách hỗ trợ xóa

nhà tạm để đạt được,... để thực hiện tiêu chí 11 về hộ nghèo; chính sách hỗ trợ, tổ chức quản lý, khai thác, bảo dưỡng sửa chữa, nâng cấp, phát triển công trình kết cấu hạ tầng với mục tiêu thực hiện các tiêu chí về hạ tầng kinh tế - xã hội trong XDNTM; giám sát việc hỗ trợ phát triển sản xuất để thực hiện các tiêu chí về việc

làm, thu nhập, tổ chức sản xuất,..

c. Vai trò của đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, xã đối với công tác xây dựng nông thôn mới

- Tham gia hoạt động thể chế hóa văn bản của cấp trên về XDNTM

HĐND với vai trò bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật và các văn

bản hướng dẫn, lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên. Mỗi đại biểu HĐND huyện, xã cũng có trách nhiệm với hoạt động thể chế hóa văn bản của cấp trên. Công việc này tập trung vào việc góp ý xây dựng các nghị quyết triển khai XDNTM, nghị quyết phát triển kinh tế, xã hội phù hợp với điều kiện của địa phương, của từng vùng, từng lĩnh vực cụ thể;

- Tham gia giám sát việc triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia

về XDNTM ở địa phương. Vai trò này được thể hiện ở các nội dung như:

+ Thu thập thông tin, tài liệu, báo cáo,... để nghiên cứu kỹ trước khi thực

hiện vai trò giám sát để bảo đảm tính chuẩn xác;

+ Nghiên cứu kỹ tiêu chuẩn, chỉ tiêu trong mỗi tiêu chí và các công việc cụ

thể đã và đang triển khai tại địa phương để thực hiện vai trò giám sát cùng cơ sở;

- Vận động nhân dân thực hiện các công việc trong XDNTM tại địa phương,

tiếp nhận ý kiến của cử tri và phản ánh kịp thời với HĐND, đóng góp ý kiến để HĐND xem xét, thảo luận, quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương và công tác XDNTM.

II. Một số kỹ năng giám sát xây dựng nông thôn mới ở huyện, xã

1. Giám sát việc lập kế hoạch xây dựng nông thôn mới ở huyện, xã

Giám sát các hoạt động trong công tác lập kế hoạch XDNTM:

278

- Giám sát hoạt động kiện toàn tổ lập kế hoạch;

- Giám sát hoạt động ban hành văn bản chỉ đạo hoạt động lập kế hoạch;

- Giám sát hoạt động tổ chức hội nghị lập kế hoạch và triển khai các nội

dung lập kế hoạch XDNTM ở các khía cạnh: Thông qua các văn bản chỉ đạo lập kế hoạch của tỉnh, của huyện, của xã; Báo cáo thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, thông tin các chương trình, dự án trên địa bàn; Hướng dẫn thu thập thông tin tại thôn và các ban, ngành cấp huyện, cấp xã;

- Giám sát hoạt động tổ chức Hội nghị kế hoạch và tham vấn ngành/lĩnh

vực, cộng đồng dân cư. Bảo đảm tất cả các thôn được tham gia hoạt động tham vấn ý kiến, ý kiến các ngành và cộng đồng dân cư được xem xét đầy đủ để bảo đảm tính toàn diện, khả thi và chiến lược của kế hoạch.

Việc giám sát nên chú trọng vào: Tính đầy đủ của thành phần được tham

vấn có bảo đảm đại diện theo quy định, thời gian, địa điểm bảo đảm tính hợp lý, thuận tiện,... song song với đó là nội dung tham vấn phải cụ thể vào nội dung chính của kế hoạch XDNTM của địa phương.

- Giám sát hoạt động trình cấp trên phê duyệt kế hoạch và công bố, triển

khai thực hiện kế hoạch XDNTM. Thành phần hội nghị triển khai kế hoạch và nội dung kế hoạch thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia XDNTM cần được đại biểu HĐND huyện, xã giám sát để đảm bảo việc thực hiện kế hoạch được đầy đủ và hiệu quả nhất.

2. Giám sát việc huy động, quản lý các nguồn lực phục vụ xây dựng nông thôn mới

a. Giám sát việc huy động các nguồn lực phục vụ xây dựng nông thôn mới

Đại biểu HĐND huyện, xã giám sát hoạt động huy động các nguồn lực

XDNTM của địa phương theo quy định cơ cấu vốn trong XDNTM bao gồm:

- Vốn ngân sách (Trung ương và địa phương), trong đó: Vốn trực tiếp để

thực hiện các nội dung của Chương trình, khoảng 24%; vốn lồng ghép từ Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững; các chương trình hỗ trợ có mục tiêu; các dự án vốn ODA thực hiện trên địa bàn, khoảng 6%.

279

Đặc biệt việc giám sát thực hiện nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực

hiện Chương trình mục tiêu quốc gia XDNTM, giám sát việc hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn mới. Công tác giám sát cần tập trung vào vốn ngân sách trung ương hỗ trợ hàng năm là: Nguồn vốn đầu tư phát triển (bao gồm cả vốn trái phiếu Chính phủ) và nguồn vốn sự nghiệp:

+ Nguồn vốn đầu tư phát triển: Hỗ trợ cho các xã làm chủ đầu tư thực hiện

tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn: Đường giao thông, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa,... theo 4 mức:

・ Xã đặc biệt khó khăn, xã an toàn khu đạt dưới năm tiêu chí: Hỗ trợ theo

hệ số 5,0.

・ Xã đặc biệt khó khăn, xã an toàn khu: Hệ số 4,0.

・ Các xã đạt từ 15 tiêu chí trở lên: Hệ số 1,3.

・ Các xã còn lại: Hệ số 1,0.

+ Nguồn vốn sự nghiệp: Căn cứ các văn bản hướng dẫn có liên quan và

điều kiện thực tế phân bổ vốn cho các cấp tỉnh, huyện, xã thực hiện 11 nội dung của chương trình theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ: Quản lý điều hành, truyền thông về XDNTM, nâng cao năng lực cho cán bộ XDNTM các cấp, đào tạo nghề cho lao động nông thôn, hỗ trợ phát triển liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, hỗ trợ phát triền đổi mới hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp và hỗ trợ phát triển hợp tác xã, hỗ trợ phát

triển ngành nghề nông thôn,. 93

Giám sát nguồn vốn này được thực hiện hiệu quả cho XDNTM tại các xã là

một trong những kỹ năng cần thiết mà các đại biểu HĐND xã, huyện cần nắm chắc để thực hiện trách nhiệm giám sát của mình. Trong đó lưu ý giám sát: nội dung, đối tượng, mức, cách thức lồng ghép vốn từ các Chương trình mục tiêu quốc gia khác vào thực hiện các tiêu chí nông thôn mới,...

- Vốn tín dụng (gồm tín dụng ưu đãi và tín dụng thương mại): Khoảng

45%.

3 Quyết định số 12/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 22/4/2017.

280

Thực tế vốn tín dụng đã có vai trò rất lớn trong XDNTM. Đây là nguồn vốn giúp nhiều địa phương phát triển được hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống dân sinh cho nhiều khu vực nông thôn, hạn chế được tình trạng tín dụng đen gây mất ổn định xã hội ở nông thôn; nhiều hộ đã thoát khỏi nghèo đói hoặc người dân có điều kiện mở rộng sản xuất, tăng quy mô và tổ chức sản xuất theo hướng hiện đại, hiệu quả để cho thu nhập cao hơn và xây dựng được uy tín, thương hiệu hàng hóa tốt hơn khi tham gia các đề án trong XDNTM. Song nguồn vốn tín dụng có được vay phù hợp với khả năng của địa phương phát triển kinh tế xã hội của địa phương hay không? Nguồn vốn tín dụng có được sử dụng đúng mục đích cho việc xây dựng từng tiêu chí nông thôn mới ở địa phương bảo đảm hiệu quả hay không? Sẽ phụ thuộc rất lớn vào công tác giám sát, trong đó có trách nhiệm giám sát của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã.

Vai trò giám sát để không xảy ra tình trạng chạy theo phong trào để lại hậu

quả nợ đọng hoặc làm tăng gánh nặng trong khi khả năng của người dân địa phương chưa theo kịp với sự phát triển là điều cần thiết phải nghiên cứu kỹ lưỡng. Công tác giám sát về chủ trương đầu tư, thẩm định, phê duyệt dự án ở các địa phương phải thực sự nghiêm túc, kiên quyết loại bỏ đầu tư không đúng thầu chưa tích cực đẩy nhanh tiến độ thi công hoặc chưa tích cực phối hợp với

quy định của Nhà nước. Giám sát nguồn vốn và khả năng cân đối vốn phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, tránh nợ đọng không cần thiết; giám sát nhà chủ đầu tư hoàn thiện hồ sơ quyết toán, hồ sơ thanh toán vốn. Giám sát việc bố trí đủ vốn thanh toán các dự án, công trình đã hoàn thành để đưa vào sử dụng. Kiên quyết giám sát chặt chẽ việc thực hiện lộ trình thực hiện các dự án trong đề án XDNTM, không cho phép bố trí vốn cho công trình mới khi chưa bố trí đủ vốn cho các công trình đang thực hiện.

- Vốn từ các doanh nghiệp, hợp tác xã và các loại hình kinh tế khác:

Khoảng 15%.

- Huy động đóng góp của cộng đồng dân cư: Khoảng 10%.

281

Tuy nhiên, các địa phương chỉ được vận động người dân tham gia đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng của địa phương bằng các hình thức phù hợp, trên cơ sở phát huy dân chủ để người dân bàn bạc thống nhất và tự nguyện đóng góp, từ

kết quả đó tổng hợp mức đóng góp đề nghị HĐND xã thông qua làm căn cứ pháp lý để thực hiện°.

Nguồn lực huy động XDNTM có thể bằng tiền, hiện vật, ngày công lao

động của người dân trên cơ sở tự nguyện và được quyết định theo đa số phù hợp với khả năng của cộng đồng và người dân hưởng lợi, đồng thời phải được

HĐND xã thông qua. Khi huy động cần lưu ý quy định: "Việc huy động đóng góp phải tùy thuộc vào khả năng, hoàn cảnh cụ thể của từng vùng, từng địa phương, không quy định cứng nhắc tỷ lệ chi của nhà nước và đóng góp của nhân dân. Việc huy động đóng góp của người dân phải được bàn bạc dân chủ và phải được sự đồng tình của người dân. Tuyệt đối không được yêu cầu dân đóng góp bắt buộc và huy động quá sức dân; không giao chỉ tiêu huy động, không gắn việc đóng góp với việc cung cấp các dịch vụ công mà người dân được hưởng; không được yêu cầu những hộ dân nghèo, người già, người tàn tật không nơi nương tựa, hộ khó khăn, gia đình chính sách phải đóng góp. Đồng thời, phải tăng cường tuyên truyền để người dân hiểu và tự nguyện tham gia"∞. Như vậy giám sát là cần thiết để đảm bảo cho việc thực hiện các quy định này.

Tóm lại, giám sát việc huy động các nguồn lực phục vụ XDNTM nên tập

trung vào các nội dung cơ bản là: Cơ chế huy động, hình thức huy động, quy

mô, cơ cấu nguồn vốn có đúng quy định, cách thức huy động có được sự đồng thuận của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức trong và ngoài địa phương.

b. Giám sát việc quản lý các nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới

Song song với việc thu hút được các nguồn lực XDNTM, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực này để XDNTM thành công là việc làm không thể

thiểu. Thực hiện giám sát thường xuyên sẽ giúp nguồn lực XDNTM được triển khai có trọng tâm, trọng điểm, mang lại lợi ích thiết thực và bảo đảm đúng quy 94 Quyết định 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

Công văn số 10589/BTC-NSNN ngày 03/8/2015 của Bộ Tài chính.

282

định, trên nguyên tắc công khai, dân chủ, do người dân tự bàn bạc, quyết định, thực hiện đúng quy chế dân chủ, không áp đặt. Giám sát giúp nhân dân địa phương được thực hiện tốt hơn vai trò trực tiếp quản lý, quyết định đầu tư theo đúng các hạng mục của từng công trình trong Đề án XDNTM đã được phê duyệt. Giám sát việc thực thi nhiệm vụ của các Ban Quản lý XDNTM, Ban Giám sát đầu tư cộng đồng để việc sử dụng nguồn vốn do nhân dân đóng góp đạt hiệu quả cao nhất để có được sự đồng thuận trong nhân dân, đáp ứng được yêu cầu về tiến độ, chất lượng của các công trình phúc lợi phục vụ sản xuất, phục vụ đời sống dân sinh, các dự án phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trên địa bàn.

Giám sát quản lý các nguồn lực trong XDNTM của đại biểu HĐND xã cần

bám sát các quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công và các quy định của Chính phủ để thực hiện các nội dung giám sát ở trên để mọi nguồn lực XDNTM được sử dụng đúng và hiệu quả.

3. Giám sát việc triển khai xây dựng nông thôn mới

Giám sát việc triển khai xây dựng NTM là giám sát việc thực hiện các hoạt

động như: giám sát công tác ban hành các văn bản hướng dẫn, các văn bản chỉ

đạo, đúng quy định và hướng dẫn của cấp trên, giám sát để công tác tổ chức thực hiện các công việc chủ động, sáng tạo hơn,... đại biểu HĐND huyện, xã giám sát việc triển khai XDNTM ở các nội dung:

- Giám sát công tác chỉ đạo, triển khai chương trình XDNTM: giám sát

công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về XDNTM thông qua việc thành lập các Ban chỉ đạo, quán triệt nhận thức trong

đội ngũ cán bộ, công chức. Theo dõi, giám sát nội dung hoạt động, cách thức triển khai nhiệm vụ, tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu và cán bộ tham mưu giúp việc ở các Ban chỉ đạo là việc làm không thể thiếu và cần làm thường xuyên của đại biểu HĐND huyện, xã trong việc thực thi nhiệm vụ giám sát.

- Giám sát công tác tuyên truyền, vận động: trách nhiệm giám sát của đại

biểu HĐND huyện, xã để công tác tuyên truyền, vận động người dân được hiểu đúng và hưởng ứng tích cực. Công tác giám sát của đại biểu HĐND huyện, xã

283

trong chương trình mục tiêu quốc gia về XDNTM thường tập trung vào: hình thức, nội dung tuyên truyền có bảo đảm đúng quy định của pháp luật, dễ hiểu, dễ thực hiện và phù hợp với phong tục tập quán của người dân. Nội dung tuyên truyền đầy đủ, thiết thực, truyền tải sâu sắc tới mọi người dân là nền tảng để triển khai thành công các công việc XDNTM tới người dân. Qua công tác giám sát thúc đẩy được việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm

chủ của nhân dân trong XDNTM, mặt khác còn nâng cao được ý thức trách nhiệm của người dân, giúp họ hiểu rõ vai trò chủ thể của mình trong XDNTM cùng chính quyền các cấp.

- Giám sát hoạt động khảo sát, đánh giá thực trạng nông thôn: theo dõi,

giám sát hoạt động khảo sát, đánh giá thực trạng nông thôn là kỹ năng kiểm soát chi tiết được các điều kiện, tự nhiên, môi trường, địa hình, khí hậu, thực trạng nông thôn và các nguồn lực có thể huy động cho XDNTM ở mỗi địa phương. Hiện trạng về nhà ở, công trình công cộng, di tích, danh lam thắng cảnh và tình hình biến động sử dụng đất, quy mô dân số là những yếu tố để xác định nhu cầu sử dụng đất, bố trí vùng sản xuất và hạ tầng kỹ thuật thiết yếu phục vụ sản xuất hàng hoá nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; bố trí hệ

thống thuỷ lợi, thuỷ lợi kết hợp giao thông và hệ thống các công trình phục vụ
đời sống dân sinh. Thực hiện tốt nội dung giám sát này giúp các địa phương quy hoạch nông thôn mới sát thực và khả thi hơn.
- Giám sát công tác lập quy hoạch nông thôn mới; lập, phê duyệt đề án
nông thôn mới: trên cơ sở giám sát tốt hoạt động phân tích và đánh giá hiện trạng nông thôn một cách tổng hợp. Công tác giám sát cần tiếp tục thực hiện ở
các nội dung: Dự báo tiềm năng và định hướng phát triển của xã, quy hoạch không gian tổng thể toàn xã, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch sản xuất, quy hoạch xây dựng và quy trình lập quy hoạch nông thôn mới, quy trình lập, phê duyệt đề án nông thôn mới.
- Giám sát công tác tổ chức thực hiện đề án; lập, thực hiện các dự án đầu
tư: Sau khi đề án NTM được cấp trên phê duyệt, việc công khai được thực hiện đầy đủ theo quy định và triển khai thực hiện đề án kịp thời. Giám sát triển khai
284
4

các nội dung của Đề án NTM, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, các tổ chức đoàn thể đã được phân công phụ trách. Trong đó giám sát hoạt động lập kế hoạch đầu tư cấp xã của các dự án đầu tư trong đề án NTM. Giám sát nội dung kế hoạch đầu tư cấp xã ở các khía cạnh: Tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư cấp xã giai đoạn trước; mục tiêu, định hướng đầu tư trong kế hoạch đầu tư; giải pháp và kiến nghị; danh mục dự án đầu tư; quy trình lập kế hoạch dự án đầu tư; thời gian và kinh phí thực hiện dự án đầu tư‰. Các dự án đầu tư cần giám sát có thể kể đến là:

+ Giám sát các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội: công tác

giám sát các dự án này được triển khai giám sát việc thực hiện các quy định, hướng dẫn của Chính phủ, các bộ/ngành liên quan và của địa phương; đồng thời giám sát việc thực hiện các quy trình, thủ tục tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy sự tham gia chủ động từ phía người dân địa phương trực tiếp tham gia các dự án, lao động địa phương được huy động sử dụng trong thực hiện các dự án của địa phương mình; giám sát việc tuân thủ thiết kế, hoạt động tư vấn giám sát, giám sát thi công,.... nắm rõ được các nội dung này các đại biểu HĐND cấp huyện,

cấp xã sẽ thành thạo kỹ năng giám sát trong thực hiện các tiêu chí về phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn.

Việc giám sát các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội cần phải

được thực hiện ở cả 3 giai đoạn của dự án:

Thứ nhất, ở giai đoạn chuẩn bị dự án cần giám sát các công việc: khảo sát

xây dựng; lập, thẩm định, Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng phục vụ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng; lập, thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi để phê duyệt/quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án.

Thứ hai, ở giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: chuẩn bị mặt bằng

xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình

Thông tư 01/2017/TT-BKHĐT ngày 14/02/2017 của Bộ Kế hoạch Đầu tư.

285

theo quy định phải có giấy phép xây dựng); lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; vận hành, chạy thử; nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng; bàn giao công trình đưa vào sử dụng và các công việc cần thiết khác.

Thứ ba, ở giai đoạn kết thúc xây dựng gồm các công việc: quyết toán hợp đồng xây dựng, quyết toán dự án hoàn thành, xác nhận hoàn thành công trình, bảo hành công trình xây dựng, bàn giao các hồ sơ liên quan và các công việc cần thiết khác

+ Giám sát các dự án phát triển sản xuất:

Các dự án phát triển sản xuất bao gồm các dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững lồng ghép với chương trình XDNTM.

Đối với các dự án phát triển sản xuất thuộc chương trình mục tiêu quốc gia

giảm nghèo bền vững (chương trình 135, 30a,...). Việc giám sát các dự án này thường tập trung vào nội dung hỗ trợ, nguồn vốn, lựa chọn mô hình triển khai đến hộ dân, cách chọn hộ, hiệu quả của các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất (trông trọt, chăn nuôi) đem đến cho hộ, cho địa phương, hộ cận nghèo có đăng ký thoát nghèo giai đoạn 2017 - 2019 và lợi ích của các công trình trong dự án.

Bên cạnh các dự án phát triển sản xuất thuộc chương trình mục tiêu quốc

gia giảm nghèo bền vững lồng ghép trong XDNTM còn có các dự án phát triển sản xuất theo hướng nâng cao phát triển ngành nông nghiệp theo hướng toàn diện, đa dạng hóa ngành nghề, tái cơ cấu nông nghiệp, thay đổi diện mạo nông

thôn... Nội dung giám sát trong trường hợp này là danh mục mô hình sản xuất giúp địa phương luôn chủ động về quy mô sản xuất, quy hoạch sản xuất, tăng hiệu quả của việc lựa chọn hình thức sản xuất, khoa học kỹ thuật cần ứng dụng đáp ứng yêu cầu hội nhập và sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, hình thức liên kết, hiệu quả sử dụng nguồn vốn vào sản xuất để tăng giá trị hàng hóa và thu nhập của người dân... Bên cạnh đó, giám sát các dự án phát triển sản xuất còn tác động đến việc thực hiện chỉ tiêu việc làm ổn định của lao

97 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP.

286

động nông thôn, chỉ tiêu giảm hộ nghèo, nâng cao thu nhập và đổi mới hình thức tổ chức sản xuất,..

+ Giám sát các dự án phát triển y tế: giám sát các dự án phát triển y tế địa

phương ở việc đầu tư xây dựng trạm y tế đạt chuẩn, trang thiết bị hiện đại và sử dụng hiệu quả cho việc khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của người dân, nâng cao tay nghề của đội ngũ y, bác sĩ. Giám sát mọi nguồn vốn cho thực hiện dự án được sử dụng hiệu quả giúp cho việc thực hiện các chỉ tiêu trong tiêu chí 15 hoàn thành với chất lượng cao.

+ Giám sát các dự án phát triển giáo dục: tiêu chí về giáo dục và đào tạo là

then chốt, nền tảng cho việc thực hiện bền vững các tiêu chí khác trong

XDNTM. Các dự án nâng cấp, sửa chữa, xây mới các trường học, dự án mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động giáo dục và đào tạo,... giám sát các dự án này đúng quy định, tiêu chuẩn theo pháp luật, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học theo các tiêu chí nông thôn mới là những kỹ năng trong hoạt động giám sát của đại biểu HĐND huyện và xã.

+ Giám sát các dự án phát triển văn hóa: gìn giữ văn hóa truyền thống và

phát triển văn hóa mới lành mạnh với những giá trị thể hiện sinh động về hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và ý thức chấp hành pháp luật và các quy định về văn hóa của người dân ở nông thôn. Để có được điều này cần vai trò giám sát các dự án phát triển văn hóa ở các địa phương theo tinh thần Nghị quyết số 26- NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Quyết định số 22/QĐ- TTg ngày 05/01/ 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Đề án "Phát triển văn hóa nông thôn đến năm 2015, định hướng đến năm 2020; Thông tư số

12/2010/ TT-BVHTTDL ngày 22/12/2010 của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, hồ sơ công nhận danh hiệu

"Gia đình văn hóa"; "Thôn văn hóa", "Làng văn hóa", "Ấp văn hóa", "Bản văn hóa", "Tổ dân phố văn hóa và tương đương; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về "Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất

287

nước". Sự giám sát của các đại biểu HĐND huyện, xã, góp phần kiểm soát các dự án phát triển văn hóa ở địa phương bám sát các quy định, quy chuẩn để đảm

bảo khả thi và hiệu quả tiêu chí văn hóa trong XDNTM, góp phần xây dựng nếp sống văn minh hiện đại ở nông thôn và xóa bỏ các tệ nạn xã hội, mê tín và các lối sống không lành mạnh ở đây.

+ Giám sát các dự án bảo vệ môi trường: bảo vệ môi trường là các tiêu chí

vô cùng quan trọng, các dự án bảo vệ môi trường có thể là "Xử lý nước thải làng

nghề", "xử lý nước thải cụm dân cư", "công trình xử lý chất thải rắn tập trung", "xử lý nước thải y tế, "Hầm khí sinh học liên hoàn", "Sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi", "Mô hình trồng cây bản địa ngăn mặn xâm thực, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường"; "Lưu giữ và phát triển ruộng bậc thang canh tác bền vững trên đất dốc"; "Trồng cây bản địa chống xói mòn cải tạo đất dốc để nâng cao hiệu quả canh tác,... Công tác giám sát của đại biểu HĐND huyện, xã ở nội dung này phần nào nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người dân và tính khả thi, tính bền vững của các công trình của dự án này cho khu vực nông

thôn thúc đẩy thực hiện tiêu chí môi trường đạt chất lượng cao và nhân rộng các dự án bảo vệ môi trường được thực hiện đồng bộ ở các khu vực nông thôn khác trên cả nước. Công tác giám sát này có vai trò rất lớn đến ý thức sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh sạch, thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu của mỗi tổ chức/cá nhân.

- Công tác đánh giá, thẩm định, công nhận đạt xã chuẩn nông thôn mới.

Nội dung giám sát này tập trung vào việc thực hiện các điều kiện như: xã có đăng ký xã đạt chuẩn nông thôn mới không, có được UBND cấp huyện đưa vào kế hoạch thực hiện chưa, các tiêu chí NTM có đạt được 100% số tiêu chí xã đạt chuẩn theo quy định và có nợ đọng xây dựng cơ bản trong XDNTM không. Tiếp theo, giám sát trình tự, thủ tục công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới cần chú ý đến kỹ năng: tổ chức tự đánh giá, tổ chức lấy ý kiến, hoàn thiện hồ sơ với việc tổ chức họp tại xã để thảo luận, bỏ phiếu đề nghị xét, công nhận xã đạt chuẩn NTM (ý kiến nhất trí của các đại biểu tại cuộc họp phải đạt từ 90% trở lên). Giám sát hoạt động tổ chức xét, công nhận ở việc thực hiện các nội dung: Hội đồng thẩm

288

định được thành lập đúng quy định; thời gian, trình tự, thủ tục, nội dung thẩm định bảo đảm.

III. Nhận diện một số vi phạm trong xây dựng nông thôn mới ở huyện,

xã9

1. Vi phạm quản lý việc thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới

Trong 19 tiêu chí XDNTM, tiêu chí số 1 được coi là nền tảng cho các tiêu

chí sau, quy hoạch là công cụ để quản lý, XDNTM theo hướng văn minh, hiện đại. Theo quy định "Quy hoạch XDNTM phải đảm bảo tính đồng bộ, phù hợp với nguồn vốn đầu tư, điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương và tính chiến lược, khớp nối hạ tầng kỹ thuật, chỉnh trang các khu dân cư hiện có,... Điều này chỉ có được khi việc thực hiện quy hoạch phải đúng quy hoạch nông thôn mới đã được duyệt thì quy hoạch đó mới thực sự phát huy tác dụng. Tuy nhiên, sau khi quy hoạch được phê duyệt, việc thực hiện quy hoạch còn nhiều vấn đề bất cập như: đồ án quy hoạch chưa đảm bảo yêu cầu cho mục tiêu phát triển lâu dài nên còn đang cần "quy hoạch chi tiết""; việc quản lý quy hoạch xây dựng trong XDNTM còn có những điểm sai phạm. Các quy định về cắm mốc giới xây dựng ngoài thực địa, quản lý quy hoạch xây dựng, mật độ xây dựng, cảnh quan, không gian kiến trúc,... chưa được thực hiện nghiêm túc, trong đó có cả trường hợp công trình xây dựng mà không đúng thiết kế; vẫn còn tình trạng công trình, nhà

ở dân cư xây dựng không phép, sai phép, vi phạm hành lang các công trình công

cộng;... đã tạo ra hệ lụy công trình hoàn thành mà không khả thi do công năng sử dụng kém, thiếu các hạng mục cần thiết so với thiết kế ban đầu nên không bảo đảm tính an toàn cho người sử dụng hoặc thiếu các hạng mục bảo đảm vệ sinh môi trường, hoặc sai vị trí theo quy hoạch gây bức xúc...°.

2. Vi phạm về sử dụng nguồn vốn trong xây dựng nông thôn mới

Các quy định về quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí do ngân sách nhà

nước cấp và nguồn kinh phí ngoài ngân sách nhà nước đã được quy định tương đối rõ ràng và đầy đủ. Nguồn vốn đầu tư thực hiện Chương trình XDNTM từ

* Nội dung này mang tính gợi ý, tham khảo. Đơn vị được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao biên soạn cần nghiên cứu thực tế địa phương để biên soạn, bảo đảm phù hợp thực tế giám sát XDNTM ở địa phương.

Thông tư số 01/2017/TT-BKHĐT ngày 14/02/2017 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

289

ngân sách đều phải quản lý và kiểm soát thanh toán tập trung, thống nhất qua

Kho bạc nhà nước. Cụ thể: Nguyên tắc tạm ứng, mức vốn tạm ứng; bảo lãnh tạm ứng vốn; thu hồi vốn tạm ứng; kiểm tra, đánh giá thực hiện và thu hồi tạm ứng vốn được thực hiện theo quy định tại Điều 8 của Thông tư số 08/2016/TT-BTC ngày 18 tháng 01 năm 2016 của Bộ Tài chính Quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước; Điều 9 Thông tư số 349/2016/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Bộ Tài chính quy định về thanh toán, quyết toán nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 - 2020. Thanh toán khối lượng

hoàn thành: Thực hiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2, Điều 9 Thông tư số 08/2016/TT-BTC ngày 18 tháng 01 năm 2016 của Bộ Tài chính quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước; khoản 1, khoản 2, Điều 10 Thông tư số 349/2016/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Bộ Tài chính quy định về thanh toán, quyết toán nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 - 2020.

Đối với các nguồn vốn huy động đóng góp tự nguyện và viện trợ không

hoàn lại của tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng công trình thì UBND xã thực hiện quản lý thu và chi theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước hiện hành (nếu đóng góp bằng ngoại tệ thì ngoại tệ được quy đổi ra tiền đồng Việt Nam theo tỷ giá hạch toán ngoại tệ do Kho bạc Nhà nước công bố hàng tháng). Việc huy động đóng góp của người dân phải được bàn bạc dân chủ và phải được sự đồng tình của người dân.

Tuy nhiên, vẫn còn hiện tượng sử dụng nguồn vốn trong XDNTM không

thông qua tập thể; các quy định về dự toán, hợp đồng, thành lập ban giám sát, nghiệm thu, bàn giao,... không được thực hiện đúng quy định; chủ đầu tư chậm lập báo cáo quyết toán vốn dự án hoàn thành; sử dụng không đúng quy định

kinh phí sự nghiệp chi hỗ trợ cho các dự án liên kết sản xuất,..

290

3. Vi phạm trong quản lý các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế -

xã hội

Các quy định về dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội được quy định lập đầy đủ cho từng loại công trình trong đề án nông thôn mới. Nhưng khi triển khai thực hiện vẫn còn sai phạm, các sai phạm có thể kể đến là: vi phạm mốc xây dựng ngoài thực địa, cốt xây dựng, chỉ giới xây dựng, giá trị xây lắp được nghiệm thu, thanh toán không đúng thực tế thi công do chênh lệch khối lượng và chênh lệch định mức; chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn giảm do giá trị xây lắp giảm, có giá trị xây lắp đã nghiệm thu, thanh toán nhưng chưa thực hiện phải thi công bổ sung; một số dự án khi thi công mới phát hiện thiết kế, dự toán ban đầu chưa chặt chẽ nên trong quá trình thực hiện phải phát sinh, điều chỉnh tăng, giảm một số hạng mục công trình làm cho giá trị xây lắp phát sinh tăng; dự toán tính sai, tính thừa khối lượng; sai định mức, đơn giá; dự toán chi phí quản lý dự án và chi phí tư vấn chưa đúng định mức, không phù hợp thực tế; tổ chức thi công xây dựng các công trình chậm tiến độ thi công theo hợp đồng ban đầu đã ký kết với chủ đầu tư; một số công trình xây dựng được nghiệm thu bàn giao, đưa vào sử dụng nhưng chưa được cơ quan chuyên môn kiểm tra và ban hành văn bản theo quy định;...

291

CÂU HỎI THẢO LUẬN100

1. Phân tích vai trò của đại biểu HĐND huyện, xã trong XDNTM?

2. Các kỹ năng cần thiết khi đại biểu HĐND huyện, xã giám sát công tác

triển khai XDNTM ở địa phương là gì?

3. Phân tích kỹ năng giám sát công tác huy động và quản lý các nguồn lực

XDNTM của đại biểu HĐND huyện, xã?

4. Nêu một số tình huống xảy ra khi đại biểu HĐND huyện, xã thực thi

chức năng giám sát trong XDNTM? Cá nhân đại biểu HĐND đã xử lý như thế nào khi gặp tình huống đó?

100 Giảng viên có thể đưa ra những câu hỏi/tình huống khác để thảo luận, trao đổi phù hợp với thực tế của địa phương, nhu cầu học viên và điều kiện lớp học.

292

TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO HỌC VIÊN101

1. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

2. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

3. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

4. Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng.

5. Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016- 2020.

6. Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ Về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020.

7. Quyết định số 12/2017/QĐ-TTg ngày 22/4/2017 của Thủ tướng Chính

phủ ban hành Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình MTQG XDNTM giai đoạn 2016 - 2020.

8. Các quy định của chính quyền địa phương (nơi cá nhân đại biểu HĐND

công tác) liên quan đến xây dựng nông thôn mới.

101 Giảng viên cập nhật, giới thiệu thêm những tài liệu tham khảo khác cho học viên, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và khả năng tìm kiếm tài liệu của học viên.

293

Chuyên đề 11

KỸ NĂNG GIÁM SÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÔ THỊ

Ở QUẬN, PHƯỜNG

I. Khái quát quản lý nhà nước về đô thị và trách nhiệm của chính quyền quận, phường trong quản lý nhà nước về đô thị

1. Khái quát quản lý nhà nước về đô thị

a. Một số khái niệm

Đô thị: Theo Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, đô thị là khu vực tập trung

dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn.

Cùng với những thành tựu của công cuộc đổi mới, tiến trình đô thị hóa ở nước ta đang diễn ra mạnh mẽ, số lượng dân cư đô thị ngày càng tăng và số lượng dân cư nông thôn giảm. Theo thống kê dân số năm 2019, trong 10 năm từ 2009 đến 2019, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh và rộng khắp tại nhiều địa phương đã tác động làm gia tăng dân số ở khu vực thành thị. Dân số khu vực thành thị ở Việt Nam năm 2019 là 33.059.735 người, chiếm 34,4%; ở khu vực nông thôn là 63.149.249 người, chiếm 65,6%. Từ năm 2009 đến nay, tỉ trọng dân số khu vực thành thị tăng 4,8%.102

Quy hoạch xây dựng đô thị: Là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh

quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị.

Hoạt động xây dựng gồm: Lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây

dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công 102 Báo cáo công bố kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở 2019.

294

trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình.

Công trình xây dựng: Là sản phẩm được xây dựng theo thiết kế, tạo thành

bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước.

Trật tự đô thị: là sự sắp xếp, bố trí, tổ chức các bộ phận chức năng của đô

thị theo một trình tự, quy tắc nhất định trên địa bàn đô thị bao gồm toàn bộ các hoạt động trên địa bàn đô thị; nhằm đảm bảo quá trình phát triển đô thị luôn trong tình trạng ổn định, có tổ chức, có kỷ luật, kỷ cương.

Việc thiết lập trật tự đô thị là việc làm cần thiết, xuất phát từ yêu cầu khách

quan của quá trình tồn tại và phát triển của đô thị. Trật tự này được hình thành trên cơ sở các quy định do các cơ quan chức năng ban hành và tổ chức thực hiện

nhằm định hướng, điều chỉnh hành vi của các chủ thể tham gia các quan hệ trật tự đô thị và xây dựng phát triển ở đô thị theo các chuẩn mực chung.

Trật tự xây dựng đô thị: Là sự sắp xếp theo một thứ tự nhất định các hoạt

động về xây dựng các công trình trong đô thị nhằm đảm bảo tất cả các hoạt động đó được thực hiện một cách đồng bộ theo quy hoạch, kế hoạch và pháp luật, tạo ra tính thống nhất, cân đối, hài hoà giữa các yếu tố cấu thành đô thị, góp phần đảm bảo đô thị phát triển bền vững, trường tồn.

b. Quản lý nhà nước về đô thị

Dưới góc độ của quản lý hành chính nhà nước, quản lý nhà nước về đô thị tại địa phương là hoạt động của các cơ quan trong bộ máy chính quyền dựa trên

các quy định pháp luật nhằm thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong xây dựng đô thị, đảm bảo trật tự, an ninh, an toàn và vệ sinh đô thị, phục vụ cho cuộc sống cộng đồng dân cư đô thị theo các mục tiêu đã đề ra.

Các nội dung chính của quản lý nhà nước về đô thị thường tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:

- Xây dựng, ban hành các quy định về trật tự đô thị và quản lý trật tự đô thị

(xây dựng thể chế pháp lý để quản lý đô thị) theo thẩm quyền;

295

- Xây dựng quy hoạch đô thị;

- Tổ chức bộ máy quản lý đô thị từ trung ương tới địa phương;

- Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện các hoạt động

quản lý đô thị;

- Tổ chức các hoạt động kiểm soát (thanh tra, kiểm tra, giám sát) trật tự đô

thị và tiến hành xử lý các vi phạm trật tự đô thị.

2. Trách nhiệm của chính quyền quận, phường trong quản lý nhà nước

về đô thị

a. Trách nhiệm của chính quyền quận

- Trách nhiệm của Hội đồng nhân dân quận trong quản lý nhà nước về đô

thị

Điều 26 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2019) quy định các nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND cấp huyện trong đó có

HĐND quận bao gồm: tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật

trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng chính quyền; tài

nguyên, môi trường; quyết định các biện pháp phát triển hệ thống giáo dục mầm

non, tiểu học và trung học cơ sở; sự nghiệp thông tin, thể thao, văn hóa,... giám

@

sát việc tuân thủ pháp luật ở địa phương, giám sát việc thực hiện các nghị quyết

của HĐND cấp huyện; giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, UBND,

TAND, VKSND cùng cấp... Như vậy, HĐND quận có nhiệm vụ ban hành các

quy định quyết định về quản lý đô thị và thực hiện giám sát quản lý nhà nước về

đô thị theo thẩm quyền được phân công.

Ở các địa bàn được thí điểm tổ chức chính quyền đô thị (Đà Nẵng, Hà Nội)

hay tổ chức chính quyền đô thị (Thành phố Hồ Chí Minh) trong nhiệm kỳ 2021 -

2025, nhiệm vụ của chính quyền các cấp cũng có sự điều chỉnh cần thiết10.

- Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân quận trong quản lý đô thị

103 Xem thêm: Nghị quyết số 97/2019/QH14 về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành

phố Hà Nội, Nghị định số 32/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số số

97/2019/QH14; Nghị quyết số 119/2020/QH14, Nghị định số 34/2021/NĐ-CP về thí điểm tổ chức mô hình chính

quyền đô thị và một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng; Nghị quyết số 131/2020/QH14

về tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh, Nghị định số 33/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và

biện pháp thi hành Nghị quyết số 131/2020/QH14.

296

Theo quy định hiện hành, trách nhiệm của UBND quận trong quản lý đô thị

bao gồm:

+ Quản lý phát triển theo quy hoạch các khu đô thị mới trong phạm vi địa

giới hành chính do mình quản lý; công bố công khai đồ án quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết được lập cho các khu vực thuộc phạm vi địa giới hành chính do mình quản lý.

+ Quản lý đất dành cho xây dựng hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị theo thẩm quyền;

+ Phê duyệt nhiệm vụ và đồ án quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết

trong phạm vi địa giới hành chính do mình quản lý, trừ các quy hoạch đô thị thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, UBND thành phố trực thuộc trung ương, sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của cơ quan quản lý quy hoạch đô thị cấp tỉnh;

+ Tổ chức lập quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết trong phạm vi địa giới hành chính do mình quản lý theo thẩm quyền;

+ Chỉ đạo và tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển hạ tầng đô thị, xây

dựng, giao thông và không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị; quản lý dân cư trên địa bàn quận theo phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên;

+ Tổ chức điều tra, đánh giá thực trạng về điều kiện hạ tầng xã hội - các

công trình về nhà ở trên địa bàn quản lý, để xác định khu vực, nhà ở cần phải cải tạo trong đô thị;

+ Tổ chức lấy ý kiến của cộng đồng dân cư và các cơ quan có liên quan về nội dung và kế hoạch cải tạo đô thị;

+ Lập danh mục các dự án cải tạo đô thị và đưa vào chương trình, kế hoạch

phát triển kinh tế - xã hội của chính quyền đô thị theo giai đoạn 5 năm và hàng năm, để làm cơ sở bố trí nguồn vốn và tổ chức thực hiện đầu tư xây dựng theo quy hoạch;

+ Công khai chương trình, kế hoạch cải tạo hàng năm để tổ chức, cá nhân

có liên quan thực hiện và giám sát thực hiện;

297

+ Chỉ đạo và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển hạ tầng đô thị; quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị trên địa bàn;

+ Quản lý quỹ đất đô thị theo thẩm quyền; việc sử dụng quỹ đất đô thị phục

vụ cho việc xây dựng công trình hạ tầng đô thị; quản lý nhà đô thị; quản lý việc kinh doanh nhà ở; sử dụng quỹ nhà ở thuộc sở hữu nhà nước để phát triển nhà ở tại đô thị; chỉ đạo kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong việc xây dựng nhà ở tại đô thị;

+ Chỉ đạo sắp xếp mạng lưới thương mại, dịch vụ, du lịch đô thị; thực hiện các biện pháp quản lý dân cư và tổ chức đời sống dân cư đô thị;

+ Chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo đảm trật tự công cộng, an

toàn giao thông; phòng, chống cháy, nổ, ùn tắc giao thông trên địa bàn.

Để thực hiện các nhiệm vụ này, tại UBND quận được tổ chức Phòng Quản lý đô thị. Phòng này chịu trách nhiệm:

- Tham mưu, giúp UBND quận thực hiện chức năng quản lý nhà nước về:

Quy hoạch xây dựng, kiến trúc; hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển đô thị; hạ tầng kỹ thuật đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao (bao gồm: Cấp nước, thoát nước đô thị và khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ

cao, cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng; chiếu sáng đô thị, cây xanh đô thị; quản lý nghĩa trang, trừ nghĩa trang liệt sĩ; quản lý xây dựng ngầm đô thị; quản lý sử dụng chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị); nhà ở; công sở; vật liệu xây dựng; giao thông.

- Tổ chức kiểm tra, đề xuất và xử lý hành vi vi phạm quy định của pháp

luật trong lĩnh vực đất đai, quản lý quy hoạch, xây dựng, quản lý nhà và công trình hạ tầng kỹ thuật, quản lý trật tự đô thị, vệ sinh môi trường trên địa bàn thành phố và thực hiện nhiệm vụ do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố giao theo quy định của pháp luật.

b. Trách nhiệm của chính quyền phường

- Trách nhiệm của Hội đồng nhân dân phường

Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung

năm 2019), nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND phường được quy định tại Điều 61.

298

Ở những địa phương được tổ chức chính quyền đô thị (thành phố Hồ Chí Minh) và thí điểm tổ chức chính quyền đô thị (Hà Nội và Đà Nẵng), do không còn HĐND cấp xã nên một số nhiệm vụ quản lý đô thị trước đây thuộc nhiệm vụ

của UBND phường, thị trấn sẽ do HĐND quận hoặc HĐND Thành phố (đối với Thành phố Hồ Chí Minh) thực hiện.

- Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân phường

UBND phường trong lĩnh vực quản lý đô thị thực hiện các nhiệm vụ chủ

yếu sau:

- Phối hợp với các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện quy hoạch

phát triển hạ tầng đô thị, xây dựng, giao thông, phòng, chống cháy, nổ, bảo vệ môi trường, không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị trên địa bàn phường.

- Theo thầm quyền, quản lý quỹ đất trên địa bàn, quỹ đất đô thị phục vụ

cho việc xây dựng công trình hạ tầng đô thị; quản lý việc kinh doanh nhà ở; kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong hoạt động xây dựng, kinh doanh vật liệu xây dựng.

- Tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý dân cư và tổ chức đời sống dân

cư đô thị.

- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo đảm trật tự công cộng, an toàn giao

thông; phòng, chống cháy, nổ, ùn tắc giao thông trên địa bàn.

- Tổ chức kiểm tra, xử lý (theo thẩm quyền) hành vi vi phạm quy định của

pháp luật trong lĩnh vực đất đai, quản lý quy hoạch, xây dựng, quản lý nhà và công trình hạ tầng kỹ thuật, quản lý trật tự đô thị, vệ sinh môi trường trên địa bàn thành phố và thực hiện nhiệm vụ do Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp giao theo quy định của pháp luật.

II. Một số kỹ năng giám sát quản lý nhà nước về đô thị ở quận, phường

1. Giám sát quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông ở quận,

phường

HĐND quận, phường thực hiện chức năng giám sát quản lý nhà nước các

lĩnh vực về quản lý trật tự, an toàn giao thông ở địa phương; giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến ngành giao thông thuộc trách nhiệm của UBND

299

và cơ quan chuyên môn theo phân cấp hoặc được ủy quyền. Trên địa bàn địa phương, chủ thể chịu trách nhiệm chính về triển khai các hoạt động quản lý nhà

nước là UBND, do đó, UBND cũng là đối tượng giám sát chính của HĐND. Đối với địa bàn quận, Phòng Quản lý đô thị của quận là cơ quan chuyên môn tham mưu giúp UBND quận thực hiện quản lý nhà nước về giao thông trên địa bàn

quận. Trên địa bàn phường, bộ phận, tổ quản lý đô thị phường là bộ phận chuyên môn giúp UBND phường quản lý nhà nước về giao thông và các nhiệm vụ khác theo sự phân công, ủy quyền của cấp trên.

HĐND quận, phường thực hiện giám sát hoạt động quản lý nhà nước về

trật tự, an toàn giao thông ở quận, phường trên các nội dung:

- Việc đảm bảo an toàn hệ thống giao thông trên địa bàn;

- Sự phối hợp, tham gia đảm bảo an toàn cho người tham gia giao thông;

- Việc khai thác hệ thống giao thông, duy tu bảo dưỡng các công trình giao

thông, vỉa hè, lắp đặt biến báo giao thông thuộc trách nhiệm quản lý nhằm hạn chế gây mất an toàn giao thông trên địa bàn;

- Việc tuyên truyền nâng cao nhận thức về an toàn trật tự khi tham gia giao

thông;

- Việc tổ chức, phối hợp cơ quan chuyên ngành kiểm tra, giám sát xử lý vi

phạm về an toàn giao thông trên địa bàn.

2. Giám sát quản lý nhà nước về trật tự xây dựng ở quận, phường

HĐND quận, phường giám sát quản lý nhà nước đối với trật tự xây dựng ở

quận, phường chủ yếu hướng đến các nội dung giám sát như: (i) quản lý nhà nước về quy hoạch xây dựng và kiến trúc đô thị; (ii) quản lý nhà nước về đất đai

và nhà ở; (iii) quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật (quản lý nhà nước về giao thông đô thị, về cung cấp nước sạch, về thoát nước, về chiếu sáng công cộng); (iv) quản lý nhà nước về cảnh quan đô thị; (v) quản lý nhà nước về môi trường đô thị; (vi) quản lý nhà nước về hoạt động xây dựng khác như kinh doanh, sản xuật vật liêu xây dựng.

300

HĐND quận, phường giám sát việc thực hiện các quy định về trật tự xây

dựng trên địa bàn quận, cụ thể thực hiện giám sát hoạt động của UBND quận, phường trên các nội dung:

- Hoạt động của UBND quận, phường trong quản lý nhà nước về trật tự xây

dựng trên địa bàn theo phân cấp, ủy quyền của UBND cấp trên như giám sát việc cấp giấy phép xây dựng và việc tuân thủ giấy phép xây dựng đã được cấp

(Đối với công trình được cấp giấy phép xây dựng: Việc quản lý trật tự xây dựng theo các nội dung của giấy phép xây dựng đã được cấp và quy định của pháp luật có liên quan; Đối với công trình được miễn giấy phép xây dựng, nội dung quản lý trật tự xây dựng gồm: kiểm tra sự đáp ứng các điều kiện về cấp giấy phép xây dựng đối với công trình thuộc đối tượng miễn giấy phép xây dựng theo quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 89 của Luật Xây dựng (năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2020), sự tuân thủ của việc xây dựng với quy hoạch xây dựng hoặc quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành hoặc quy chế quản lý kiến trúc hoặc thiết kế đô thị được phê duyệt và quy định của pháp luật có liên quan; kiểm tra sự phù hợp của việc xây dựng với các nội dung, thông số chủ yếu của thiết kế

đã được thẩm định đối với trường hợp thiết kế xây dựng đã được cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định); quản lý nhà nước về quy hoạch xây dựng và kiến trúc đô thị.

- Hoạt động của UBND quận, phường trong tổ chức thực hiện việc theo

dõi, kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý hoặc kiến nghị xử lý kịp thời khi phát sinh vi phạm trên địa bàn; thực hiện cưỡng chế công trình vi phạm trật tự xây dựng trên địa bàn theo quy định của pháp luật.

3. Giám sát quản lý nhà nước về phòng, chống cháy nổ ở quận, phường

Nội dung giám sát quản lý nhà nước về phòng, chống cháy nổ ở quận, phường chủ yếu tập trung vào:

- Giám sát quá trình thực hiện đầu tư xây dựng, cải tạo các công trình xây

dựng trên địa bàn (đặc biệt là các công trình do tư nhân thực hiện);

- Giám sát các tổ chức, đơn vị thi công quản lý các công trình trong đô thị

về thực hiện đầy đủ quy định, quy chuẩn về phòng, chống cháy nổ;

301

- Giám sát việc hướng dẫn người dân chủ động phòng, chống cháy nổ; huy

động sự tham gia cộng đồng bảo vệ công trình và phòng, chống cháy nổ;

- Giám sát việc tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân về phòng,

chống cháy nổ;

- Giám sát việc tổ chức kiểm tra, xử lý vi phạm phòng, chống cháy nổ trên

địa bàn tại các công trình xây dựng trên địa bàn.

4. Giám sát các nội dung khác

a. Giám sát quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật

Việc giám sát quản lý nhà nước về hạ tầng đô thị tập trung vào giám sát

trách nhiệm của UBND và Phòng Quản lý đô thị (đối với quận) trong việc thực

hiện các nhiệm vụ quản lý hạ tầng đô thị được phân công, cụ thể giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ:

- Tổ chức điều tra, đánh giá thực trạng về điều kiện về các cơ sở hạ tầng kỹ

thuật, hạ tầng xã hội, các công trình công cộng để xác định khu vực cần cải tạo trên địa bàn.

- Tổ chức lấy ý kiến của cộng đồng dân cư và các cơ quan có liên quan về nội dung và kế hoạch cải tạo các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị.

- Lập danh mục các dự án cải tạo các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị và

đưa vào chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của chính quyền theo giai đoạn 5 năm và hàng năm, để làm cơ sở bố trí nguồn vốn và tổ chức thực hiện đầu tư xây dựng theo quy hoạch.

- Công khai chương trình, kế hoạch cải tạo hàng năm để tổ chức, cá nhân

có liên quan thực hiện và giám sát thực hiện.

- Khai thác hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, giám sát các tổ chức, đơn

vị thi công duy tu bảo dưỡng các công trình hạ tầng đô thị;

- Tuyên truyền nâng cao nhận thức, hướng dẫn và huy động sự tham gia

cộng đồng góp phần xây dựng và bảo vệ các công trình hạ tầng đô thị;

- Tổ chức kiểm tra, giám sát xử lý vi phạm về các công trình hạ tầng kỹ

thuật đô thị.

b. Giám sát quản lý nhà nước về cảnh quan đô thị ở quận, phường

302

Giám sát quản lý nhà nước về cảnh quan đô thị tập trung vào giám sát việc

thực hiện trách nhiệm của UBND quận, phường trong các nhiệm vụ cụ thể:

- Việc thực hiện điều tra, đánh giá thực trạng về điều kiện về các công trình

tạo cảnh quan đô thị như công viên, cây xanh, khu vui chơi,... để xác định các vấn đề cần cải tạo trên địa bàn;

- Việc tổ chức lấy ý kiến của cộng đồng dân cư và các cơ quan có liên quan

về nội dung và kế hoạch cải tạo các công trình cảnh quan đô thị.

- Hàng năm và 5 năm, lập danh mục các công trình cảnh quan đô thị cần

đầu tư xây dựng, cải tạo để đưa vào chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của chính quyền làm cơ sở bố trí nguồn vốn và tổ chức thực hiện đầu tư theo quy hoạch.

- Giám sát quá trình thực hiện đầu tư xây dựng, cải tạo các công trình tạo

cảnh quan đô thị.

- Khai thác hệ thống các công trình tạo cảnh quan đô thị, giám sát các tổ

chức, đơn vị thi công duy tu bảo dưỡng các công trình này trên địa bàn;

- Hướng dẫn người dân; huy động sự tham gia cộng đồng bảo vệ các công

trình cảnh quan đô thị.

- Tổ chức kiểm tra việc xử lý các vi phạm công trình cảnh quan đô thị trên

địa bàn.

c. Giám sát quản lý nhà nước về môi trường đô thị ở quận, phường

Giám sát quản lý nhà nước về môi trường đô thị tập trung vào giám sát việc

xử lý các nguồn gây ô nhiễm môi trường như chất thải công nghiệp, rác thải sinh hoạt,...

Các nguồn thải gây tác động đến môi trường đô thị chủ yếu bao gồm:

- Từ sinh hoạt người dân đô thị;

- Từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, giao thông..

Bên cạnh đó, việc giám sát của HĐND quận, phường nói chung và đại biểu

HĐND nói riêng về quản lý đô thị còn có thể tập trung vào giám sát việc quản lý đất đai; giám sát hoạt động đầu tư xây dựng; an toàn lao động trong các hoạt động xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây

303

dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công

sở,... thuộc trách nhiệm của UBND quận, phường theo phân cấp hoặc được ủy quyền.

III. Nhận diện một số vi phạm trong quản lý nhà nước về đô thị ở quận, phường10

1. Các hành vi vi phạm hành chính quy hoạch đô thị

- Không lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc cộng đồng dân cư có

liên quan về nhiệm vụ quy hoạch xây dựng, đồ án quy hoạch xây dựng, nhiệm vụ quy hoạch xây dựng điều chỉnh hoặc đồ án điều chỉnh quy hoạch xây dựng theo quy định.

- Điều chỉnh quy hoạch xây dựng không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật

quốc gia, tiêu chuẩn áp dụng.

- Điều chỉnh quy hoạch xây dựng đối với một lô đất trong khu vực quy

hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt làm thay đổi mật độ xây dựng hoặc mật độ dân số, dẫn đến làm vượt khả năng cung cấp hạ tầng kỹ thuật hoặc hạ tầng xã hội của đô thị, khu vực.

- Điều chỉnh dự án mà chưa được cơ quan có thẩm quyền xem xét chấp

thuận.

2. Một số hành vi vi phạm về trật tự xây dựng

- Hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình không che chắn hoặc có che

chắn nhưng để rơi vãi vật liệu xây dựng xuống các khu vực xung quanh hoặc để vật liệu xây dựng không đúng nơi quy định.

- Hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình sai nội dung giấy phép xây

dựng được cấp đối với trường hợp cấp phép sửa chữa, cải tạo.

- Hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình vi phạm quy định về quản

lý chất lượng công trình xây dựng gây lún, nứt hoặc hư hỏng công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình lân cận (mà các bên không thỏa thuận được việc bồi thường

104 Nội dung này mang tính gợi ý, tham khảo. Đơn vị được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao biên soạn cần nghiên cứu thực tế địa phương để biên soạn, bảo đảm phù hợp thực tế giám sát quản lý nhà nước về đô thị ở địa phương.

304

theo quy định của pháp luật dân sự); gây sụp đổ hoặc có nguy cơ gây sụp đổ công trình lân cận nhưng không gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của người khác.

- Hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình sai nội dung giấy phép xây

dựng được cấp đối với trường hợp cấp phép xây dựng mới.

- Hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây

dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng.

- Hành vi xây dựng công trình không đúng thiết kế xây dựng được thẩm

định, phê duyệt trong trường hợp được miễn giấy phép xây dựng.

- Xây dựng công trình không phù hợp với quy hoạch xây dựng được duyệt.

- Xây dựng công trình vi phạm chỉ giới xây dựng.

- Xây dựng công trình sai cốt xây dựng.

- Xây dựng công trình lấn chiếm hành lang bảo vệ công trình quốc phòng,

an ninh, giao thông (trừ trường hợp quy định tại Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt), thủy lợi, đê điều, năng lượng, khu di tích lịch sử - văn hóa và khu vực bảo vệ công trình khác theo quy định của pháp luật; xây dựng công trình ở khu vực đã được cảnh báo về nguy cơ lở đất, lũ quét, lũ ống (trừ trường hợp xây dựng công trình để khắc phục những hiện tượng này).

- Xây dựng cơi nới, lấn chiếm diện tích, lấn chiếm không gian đang được

quản lý, sử dụng hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác hoặc của khu vực công cộng, khu vực sử dụng chung.

- Xả rác, nước thải, đổ đất đá, vật liệu xây dựng trong hành lang an toàn

tuyển ống nước thô hoặc đường ống truyền tải nước sạch.

- Tự ý đục tuyến ống nước thô hoặc đường ống truyền tải nước sạch.

- Làm hư hỏng đường ống cấp nước, thiết bị kỹ thuật trong mạng lưới cấp

nước; tự ý đấu nối đường ống cấp nước, thay đổi đường kính ống cấp nước không đúng quy định;

- Cung cấp nước sạch cho sinh hoạt không bảo đảm chất lượng theo quy

chuẩn kỹ thuật quy định.

305

- Không thu gom, lưu trữ, vận chuyển hoặc thu gom, lưu trữ, vận chuyển

bùn thải bể tự hoại không đúng quy định.

- Xả bùn thải bể tự hoại chưa qua xử lý ra môi trường.

- Làm hư hỏng các trang thiết bị hoặc hệ thống chiếu sáng công cộng.

- Xây bục bệ bao quanh gốc cây ở đường phố, công viên hoặc những nơi

công cộng khác không đúng quy định.

- Giăng dây, giăng đèn trang trí, treo biển quảng cáo hoặc các vật dụng

khác vào cây xanh ở những nơi công cộng, đường phố, công viên không đúng quy định.

- Sử dụng các công trình trong công viên không đúng mục đích.

- Lấn chiếm, xây dựng công trình trên đất cây xanh hiện có hoặc đã được

xác định trong quy hoạch đô thị hoặc ngăn cản việc trồng cây xanh theo quy định.

306

CÂU HỎI THẢO LUẬN105

1. Nêu những vấn đề cần tập trung giám sát đối với quản lý nhà nước về đô

thị (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác).

2. Kinh nghiệm của cá nhân đại biểu HĐND trong giám sát đối với quản lý

nhà nước về đô thị (nơi cá nhân đại biểu HĐND công tác).

3. Những khó khăn trong giám sát đối với quản lý nhà nước về đô thị (nơi

cá nhân đại biểu HĐND công tác); giải pháp khắc phục.

105 Giảng viên có thể đưa ra những câu hỏi/tình huống khác để thảo luận, trao đổi phù hợp với thực tế của địa phương, nhu cầu học viên và điều kiện lớp học.

307

TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO HỌC VIÊN10

1. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2019).

2. Luật Quy hoạch đô thị năm 2009.

3. Luật Đất đai năm 2013.

4. Luật Xây dựng năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

5. Luật Giao thông đường bộ năm 2008.

6. Luật Đường sắt năm 2017.

7. Luật Quy hoạch năm 2017.

8. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.

9. Luật Kiến trúc năm 2020.

1Giảng viên cập nhật, giới thiệu thêm những tài liệu tham khảo khác cho học viên, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và khả năng tìm kiếm tài liệu của học viên.

308

Chuyên đề 12

KỸ NĂNG GIÁM SÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ AN SINH XÃ HỘI Ở CẤP HUYỆN, CẤP XÃ

I. Khái quát về an sinh xã hội và trách nhiệm của chính quyền cấp huyện, cấp xã trong quản lý nhà nước về an sinh xã hội

1. Khái niệm, cấu trúc, đối tượng, vai trò an sinh xã hội

a. Khái niệm an sinh xã hội

An sinh xã hội cũng được hiểu theo các nghĩa thông thường hay rộng, hẹp khác nhau.

- Theo nghĩa thông thường, an sinh xã hội được hiểu là việc đảm bảo đời

sống cho các tầng lớp dân cư trong xã hội đạt được những tiêu chuẩn nhất định để đảm bảo ổn định kinh tế - xã hội.

- Theo nghĩa rộng, an sinh xã hội bao gồm toàn bộ các hoạt động đảm bảo

đời sống nhân dân. Đó là sự đảm bảo thực hiện các quyền của con người được sống trong hòa bình, được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ luật pháp; được bảo vệ và bình đẳng trước pháp luật; được học tập, được có việc làm, có nhà ở; được đảm bảo thu nhập để thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già.

- Theo nghĩa hẹp, an sinh xã hội được hiểu là sự bảo đảm thu nhập và một

số điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho người lao động và gia đình họ khi bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cả, cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người nghèo đói và những người bị thiên tai, địch hoạ.

Như vậy, do sự đa dạng về nội dung, phương thức và góc độ tiếp cận, nên

các nhà nghiên cứu lý luận, cũng như những nhà chỉ đạo thực tiễn hiện có nhiều cách hiểu về an sinh xã hội, song nhìn chung an sinh xã hội thường được đề cập đến với các góc độ sau:

- Là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình, là lưới an toàn cho mọi thành viên trong xã hội.

309

Đó là, sự bảo đảm an toàn thu nhập ở mức tối thiểu cho những đối tượng gặp rủi ro liên quan đến nhu cầu cơ bản nhất của con người bao gồm các rủi ro về sức khỏe, thiếu hoặc mất việc làm, tuổi già, trẻ em, tàn tật, dẫn đến không có thu nhập tạm thời hoặc vĩnh viễn so với mức tối thiểu đủ sống.

- Đối tượng và phạm vi của sự bảo vệ này hướng tới là bao phủ toàn dân và toàn diện.

Hệ thống an sinh xã hội hướng đến mọi thành viên trong xã hội, đặc biệt

là nhóm đối tượng yếu thế, đảm bảo an toàn thu nhập ở mức tối thiểu cho nhóm đối tượng này.

- Phương thức hoạt động của sự bảo vệ này được thực hiện thông qua các biện pháp công cộng.

Đó là, các chính sách do nhà nước tổ chức thực hiện là chính, ngoài ra còn

có sự tham gia của các tổ chức xã hội, cộng đồng và thị trường trong việc tổ chức thực hiện và cung cấp dịch vụ an sinh xã hội.

- Mục đích của sự bảo vệ này nhằm giúp đỡ các thành viên của xã hội trước những biến cố, những rủi ro xã hội dẫn đến bị giảm hoặc mất thu nhập.

b. Đối tượng của an sinh xã hội

An sinh xã hội là một hệ thống nhiều chính sách khác nhau nhằm hướng tới

các nhóm đối tượng cụ thể khác nhau. Tuy nhiên, xét từ nguồn gốc sự ra đời của an sinh xã hội, từ bản chất của an sinh xã hội cho thấy, về cơ bản, an sinh xã hội hướng tới những cá nhân, nhóm người, cộng đồng dân cư sau:

- Nhóm dễ bị tổn thương: người nghèo và cận nghèo, người cao tuổi không

nơi nương tựa, trẻ em mồ côi không có nguồn nuôi dưỡng, người khuyết tật, người nhiễm HIV/AIDS thuộc diện hộ nghèo;

- Nhóm người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách

mạng;

- Nhóm người gặp hoàn cảnh khó khăn do tác động của thiên tai, thảm họa,

dịch bệnh, môi trường và những sự kiện bất khả kháng khác.

310

c. Cấu trúc của hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam 107

(1) Chính sách đảm bảo việc làm, tạo thu nhập và giảm nghèo nhằm hỗ trợ

người dân chủ động phòng ngừa các rủi ro trên thị trường lao động thông qua

các chính sách đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, tín dụng, tạo việc làm, thu nhập tối thiểu và giảm nghèo bền vững.

(2) Chính sách bảo hiểm xã hội nhằm hỗ trợ người dân giảm thiểu rủi ro về sức khỏe khi ốm đau, tai nạn, tuổi già và khi bị thất nghiệp thông qua các hình thức, cơ chế bảo hiểm xã hội để bù đắp một phần thu nhập bị mất hoặc bị suy giảm.

(3) Chính sách trợ giúp xã hội nhằm hỗ trợ đột xuất và hỗ trợ thường xuyên

cho người dân khắc phục các rủi ro khó lường, vượt quá khả năng kiểm soát như mất mùa, đói nghèo.

(4) Chính sách dịch vụ xã hội cơ bản nhằm hỗ trợ người dân tiếp cận hệ thống các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu, bao gồm y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin truyền thông, trợ giúp pháp lý.

2. Trách nhiệm của chính quyền cấp huyện trong quản lý nhà nước về an sinh xã hội

Trách nhiệm của chính quyền cấp huyện trong quản lý nhà nước về an sinh

xã hội như sau:

Thứ nhất, đối với các vấn đề thuộc lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y

tế108:

- Chỉ đạo, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo

hiểm y tế;

- Xây dựng chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội trong kế

hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm trình HĐND cùng cấp quyết định;

- Bảo đảm kinh phí đóng bảo hiểm y tế cho các đối tượng được ngân sách

nhà nước đóng hoặc hỗ trợ theo quy định;

107 Xem: GS, TS Lê Ngọc Hùng, TS Nguyễn Ngọc Anh, Chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam - Thực trạng và một số vấn đề đặt ra, http://lyluanchinhtri.vn/, truy cập 15/12/2019

Xem Điều 12, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và Điều 8 Luật Bảo hiểm y tế năm 2010.

311

- Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo

hiểm y tế;

- Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố

cáo về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế;

- Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung chính

sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

Thứ hai, đối với vấn đề giảm nghèo, giải quyết việc làm:

- Xây dựng Đề án hỗ trợ giảm nghèo bền vững trên địa bàn trình cấp có

thẩm quyền phê duyệt; chỉ đạo xây dựng kế hoạch hàng năm, tổng hợp nhu cầu từ dưới lên, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, trình UBND cấp tỉnh phê duyệt; chỉ đạo và phê duyệt kế hoạch hàng năm của cấp xã; thành lập Ban Chỉ đạo của huyện (gồm lãnh đạo cấp ủy, chính quyền, đại diện các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp) để chỉ đạo tổ chức thực hiện Đề án'∞.

- Thực hiện quản lý nhà nước về việc làm tại địa phương'

Thứ ba, tổ chức thực hiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng

đồng; nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng; trợ giúp xã hội khẩn cấp và chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội trong phạm vi thẩm quyền.

- Xem xét, quyết định thực hiện, điều chỉnh, thôi hưởng trợ cấp xã hội hàng

tháng, hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng hàng tháng cho đối tượng bảo trợ xã hội đủ điều kiện theo quy định

- Quyết định hỗ trợ chi phí điều trị người bị thương nặng nặng do thiên tai,

hỏa hoạn; tai nạn giao thông, tai nạn lao động nghiêm trọng hoặc do các lý do bất khả kháng khác tại địa phương12.

- Quyết định giao trẻ em cho cơ sở trợ giúp xã hội thuộc cấp huyện quản lý

thực hiện chăm sóc thay thế.

Thứ tư, đối với người có công với cách mạng

1 Xem thêm: Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo.

1Xem thêm Điều 7, Luật Việc làm năm 2013.

Xem Điều 8, Nghị định số 20/2021/NĐ-CP quy định Chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.

2 Xem Điều 13, Nghị định số 20/2021/NĐ-CP quy định Chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.

312

- Đẩy mạnh phong trào "Đền ơn đáp nghĩa", huy động nguồn lực trong xã hội để giúp đỡ gia đình người có công với cách mạng;

- Tuyên truyền, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, chế độ ưu đãi

đối với người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong thực hiện pháp luật, chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng;

- Quản lý công trình ghi công liệt sĩ, mộ liệt sĩ thuộc địa bàn cấp huyện

quản lý.

Thứ năm, giải quyết vấn đề an sinh xã hội đối với một số đối tượng thuộc nhóm yếu thế trong xã hội:

- Đối với người cao tuổi4, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về công tác người cao tuổi; lồng ghép hoạt động về người cao tuổi vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi.

- Đối với người khuyết tật5, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình

thực hiện quản lý nhà nước về công tác người khuyết tật; lồng ghép công tác người khuyết tật vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; bảo đảm điều kiện để người khuyết tật thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình; tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tham gia hỗ trợ người khuyết tật.

- Đối với trẻ em116:

+ Thực hiện quản lý nhà nước về trẻ em theo thẩm quyền; tổ chức thực

hiện chính sách, pháp luật, kế hoạch, chương trình mục tiêu, chỉ tiêu về trẻ em; ban hành theo thẩm quyền chính sách, pháp luật bảo đảm thực hiện quyền trẻ em phù hợp với đặc điểm, điều kiện của địa phương.

+ Chỉ đạo, tổ chức thực hiện quyền trẻ em; bố trí và vận động nguồn lực bảo đảm thực hiện quyền của trẻ em và bảo vệ trẻ em theo quy định của Luật 113 Xem: Điều 51, Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2020.

114 Xem: Điều 28 Luật Người cao tuổi năm 2009.

115 Xem: Điều 50, khoản 11, Luật Người khuyết tật, năm 2010.

116 Xem: Điều 45, Điều 66, Điều 99, Luật trẻ em năm 2016.

313

này; tổ chức, quản lý hoạt động của cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em theo

thẩm quyền; bố trí người làm công tác bảo vệ trẻ em ở địa phương; thực hiện trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, bố trí quỹ đất, đầu tư xây dựng điểm vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao cho trẻ em; bảo đảm điều kiện, thời gian, thời điểm thích hợp để trẻ em được tham gia hoạt động tại các thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở.

3. Trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong quản lý nhà nước về an sinh xã hội

- Chính quyền cấp xã có nhiệm vụ tổ chức và bảo đảm việc thực hiện pháp

luật nhằm bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn xã; quyết định những vấn đề về an sinh xã hội của xã trong phạm vi được phân quyền, phân cấp, ủy quyền; quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm huy động các nguồn lực xã hội để thực hiện an sinh xã hội trên địa bàn xã.

- Thực hiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở xã

hội nuôi dưỡng, điều dưỡng, cơ sở đón tiếp người có công với cách mạng trên địa bàn.

- Tổ chức thực hiện và kiểm tra việc chi trả chế độ ưu đãi, trợ cấp hàng

tháng và trợ cấp một lần, trợ cấp khẩn cấp đối với người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng; đối tượng bảo trợ xã hội; hộ nghèo và cận nghèo; những người gặp hoàn cảnh khó khăn do ảnh hưởng bởi thiên tai, hạn hán, tai nạn hoặc những lý do bất khả kháng khác.

- Tổ chức tuyên truyền, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, chế độ

ưu đãi đối với người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội.

- Xử lý các trường hợp vi phạm trong thực hiện pháp luật, chính sách đối

với người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng thuộc thẩm quyền được giao; vi phạm trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững, chính sách trợ giúp xã hội.

314

II. Một số kỹ năng giám sát quản lý nhà nước về an sinh xã hội ở cấp huyện, cấp xã

1. Giám sát thực hiện chính sách trợ giúp xã hội

Trợ giúp xã hội là một chủ trương lớn, chính sách lớn của Đảng và Nhà

nước, có ý nghĩa chính trị, xã hội, kinh tế quan trọng, đồng thời cũng là nền tảng

thực hiện công bằng xã hội. Trợ giúp xã hội phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, khả năng huy động, cân đối nguồn lực của đất nước, xu hướng quốc tế và từng bước tiếp cận với mức sống tối thiểu trong từng thời kỳ; ưu tiên người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo, người sống ở vùng núi, vùng hải đảo, vùng dân tộc thiểu số. Trợ giúp xã hội phải đa dạng về mô hình, toàn diện cả vật chất và tinh thần phù hợp với vòng đời con người, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân; bảo đảm người dân gặp rủi ro được hỗ trợ kịp thời từ Nhà nước, các tổ chức và cộng đồng; phát triển mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội.

Giám sát quản lý nhà nước về an sinh xã hội ở địa phương là theo dõi, xem

xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thi hành

Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp có liên quan đến tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội.

Mục đích của việc giám sát quản lý nhà nước về an sinh xã hội ở địa phương nhằm phát hiện những bất cập, hạn chế trong việc tổ chức triển khai thực hiện chính sách, pháp luật về trợ giúp xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội, giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong quá trình triển khai chính sách trợ giúp xã hội, đưa ra kiến nghị nhằm bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách đã ban hành.

Các nội dung giám sát:

- Giám sát việc thực hiện trợ cấp xã hội thường xuyên: Theo Nghị định

20/2021/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội đã xác định 8 đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng. Việc giám sát của HĐND nhằm bảo đảm xác định đúng đối tượng bảo trợ xã hội cũng như các mức trợ cấp mà các đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng theo quy định của pháp luật.

315

- Giám sát việc các đối tượng bảo trợ xã hội trong kê khai tờ khai đề nghị

trợ cấp xã hội hàng tháng, có sự xác nhận của UBND cấp xã nơi đối tượng bảo trợ cư trú.

- Giám sát việc các đối tượng bảo trợ xã hội đã được hưởng trợ giúp giáo

dục, đào tạo và dạy nghề, cấp thẻ bảo hiểm y tế, hỗ trợ mai táng phí theo quy định, trong quá trình triển khai có gặp vướng mắc gì từ phía cơ quan quản lý nhà nước hay từ phía đối tượng bảo trợ xã hội.

- Giám sát quy trình tổ chức thực hiện chính sách trợ giúp xã hội với các

bước sau: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách trợ giúp xã hội; phổ biến tuyên truyền chính sách; phân công phối hợp thực hiên chính sách; đôn đốc thực hiện chính sách; tổng kết thực thi chính sách.

- Giám sát việc thực hiện quản lý nhà nước về công tác người cao tuổi; lồng ghép hoạt động về người cao tuổi vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

của địa phương; tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi.

- Giám sát hoạt động chi trả trợ cấp hàng tháng cho các đối tượng bảo trợ xã

hội và người cao tuổi ốm yếu không có khả năng tự phục vụ và người bị bệnh hiểm nghèo không có khả năng lao động thoát nghèo, mức trợ cấp đảm bảo theo quy định.

- Giám sát việc thực hiện trợ cấp xã hội khẩn cấp do thiên tai, hỏa hoạn,

dịch bệnh hoặc lý do bất khả kháng khác: Thủ tục và đối tượng được hỗ trợ về lương thực, nhu yếu phẩm thiết yếu, hỗ trợ chi phí điều trị cho người bị thương nặng; hỗ trợ mai táng phí cho những người tử vong do thiên tai, hỏa hoạn; tai nạn giao thông, tai nạn lao động nghiêm trọng; hỗ trợ làm nhà ở, sửa chữa nhà

ở có hoàn cảnh khó khăn có nhà ở bị đổ, sập, trôi, cháy; hỗ trợ khẩn cấp đối với trẻ em khi cha, mẹ bị chết, mất tích; hỗ trợ tạo việc làm, phát triển sản xuất.

- Giám sát việc chăm sóc nuôi dưỡng tại cộng đồng: giám sát chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng đối với các đối tượng được chăm sóc nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội, nhà xã hội; các chính sách hỗ trợ giáo dục và dạy nghề: học mầm non, giáo dục phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học

316

văn bằng thứ nhất.

- Giám sát việc thực hiện chi trả chế độ, chính sách trợ giúp xã hội thường

xuyên và hỗ trợ nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng, giám sát tổ chức thực

hiện chi trả bảo đảm yêu cầu có kinh nghiệm, có mạng lưới điểm giao dịch tại xã, phường, thị trấn, có thể đảm nhiệm việc chi trả tại nhà cho một số đối tượng đặc thù, bảo đảm kịp thời và an toàn trong việc chi trả.

- Giám sát việc chỉ đạo tuyên truyền, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực

cán bộ ứng dụng công nghệ thông tin, trong xét duyệt đối tượng bảo trợ xã hội.

- Giám sát việc chi trả thông qua tổ chức dịch vụ chi trả: việc chi trả phải

được lập thành hợp đồng giữa cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội tùy theo phân cấp của từng địa phương) và tổ chức dịch vụ chi trả, trong đó phải ghi rõ phạm vi, đối tượng chi trả, phương thức chi trả (gồm phương thức chi trả qua tài khoản ngân hàng, tài khoản thanh toán điện tử do pháp luật quy định hoặc chi trả trực tiếp bằng tiền mặt), phương thức chuyển tiền và thời hạn chuyển tiền, thời hạn chi trả đến người thụ hưởng, mức chi phí chi trả theo thực tế, thời hạn thanh quyết toán, quyền và trách nhiệm của các bên, thoả thuận khác có liên quan đến việc chi trả.

- Giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và nội dung hoạt động của

các cơ sở trợ giúp xã hội trên địa bàn. Trong quá trình hoạt động, cơ sở trợ giúp xã hội không bảo đảm đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật sẽ kiến nghị tạm đình chỉ hoạt động. Trong quá trình giám sát, nếu phát hiện cơ sở trợ giúp xã hội hoạt động không đúng quy định của pháp luật, các cơ sở trợ giúp xã hội hết thời hạn quy định không hoạt động, hoặc không đảm bảo đủ điều kiện giấy phép hoạt động được cấp sẽ kiến nghị thu hồi giấy phép hoạt động.

- Giám sát quy trình tiếp nhận đối tượng bảo trợ có hoàn cảnh khó khăn, các đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp vào các cơ sở trợ giúp xã hội.

2. Giám sát thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo bền vững

Xóa đói, giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta

trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước nhằm thực

317

hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện đời sống, tăng thu nhập của người dân, đặc biệt là ở các địa bàn nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn được tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như giao thông, trường học, trạm y tế, thủy lợi nhỏ, nước sinh hoạt; tạo điều kiện để người dân tham gia thực hiện các hoạt động để tăng thu nhập thông qua tạo việc làm công nhằm phát huy hiệu quả các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu được đầu tư, góp phần giảm rủi ro thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu, cải thiện tiếp cận thị trường.

Giám sát thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở địa phương là theo

dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp có liên quan đến tổ chức thực hiện chính giảm nghèo bền vững. Mục đích của việc giám sát thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở địa phương nhằm phát hiện những thuận lợi, khó khăn trong việc tổ chức triển khai thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với các hộ nghèo, cận nghèo ở địa phương, đánh giá việc triển khai đồng bộ và hiệu quả chính sách giảm nghèo bền vững ở địa phương. Trên cơ sở đó đưa ra đề xuất nhằm bổ sung, hoàn

thiện hệ thống chính sách giảm nghèo bền vững cho những giai đoạn tiếp theo.

Các nội dung giám sát:

- Giám sát việc thực hiện các dự án giảm nghèo: Dự án nâng cao năng lực

cho cán bộ làm công tác truyền thông, dự án xuất khẩu lao động, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo. Giám sát quá trình tham gia của người dân trong tổ chức thực hiện theo các dự án: Mức độ đóng góp, sự tham gia của các đối tượng hưởng lợi vào công tác lập kế hoạch trung hạn và hàng năm của Chương trình (tổng số cuộc họp thôn lập kế hoạch, số lượt người tham gia các cuộc họp thôn lập kế hoạch trong đó ghi rõ tổng số, số người nghèo, người cận nghèo, phụ nữ, dân tộc thiểu số).

318

- Giám sát mức độ hưởng lợi của hộ nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo, phụ nữ, dân tộc thiểu số trong các dự án, chương trình.

- Giám sát việc triển khai tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, cận nghèo, hộ

thoát nghèo, thoát cận nghèo vay vốn sản xuất kinh doanh, dịch vụ, học tập (đối với học sinh, sinh viên), đi xuất khẩu lao động. Đảm bảo các đối tượng đều được vay vốn từ nguồn vốn của Ngân hàng chính sách xã hội, các hội đoàn thể, vốn khuyến công, khuyến nông.

- Giám sát việc thực hiện chương trình khuyến công, khuyến nông: Tập

huấn, phổ biến kiến thức sản xuất, xây dựng các mô hình sản xuất khuyến nông, trồng rau an toàn, áp dụng tiến bộ khoa học mới vào sản xuất, chuyển giao khoa học công nghệ cho các hộ nghèo.

- Giám sát việc tổ chức dạy nghề và tạo việc làm cho người nghèo như hướng dẫn lao động nông thôn tiếp cận sàn giao dịch việc làm của Trung tâm dịch

vụ việc làm tạo điều kiện cho người nghèo, người cận nghèo, người đã thoát nghèo tìm việc làm, tăng thu nhập; vận động các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị trên địa bàn tiếp nhận lao động nghèo, cận nghèo vào làm việc.

- Giám sát việc thực hiện hỗ trợ khám sức khỏe cho người nghèo, cấp thẻ

bảo hiểm y tế miễn phí 100% cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, chất lượng khám chữa bệnh của y tế cơ sở và đẩy mạnh các hoạt động xã hội hóa chăm sóc sức khỏe cho người nghèo.

- Giám sát hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức, ý thức của các hộ gia

đình trong việc tham gia bảo hiểm y tế nhằm mục đích huy động tất cả người dân tham gia bảo hiểm y tế, góp phần nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân.

- Giám sát việc thực hiện chính sách hỗ trợ người nghèo trong giáo dục:

Miễn học phí và hỗ trợ chi phí học tập cho học sinh nghèo

- Giám sát việc thực hiện hỗ trợ nhà ở cho người nghèo, chính sách miễn

giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp cho hộ nghèo, đảm bảo thực hiện đúng, đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với hộ nghèo, cận nghèo như tặng quà nhân dịp Tết Nguyên đán, thăm hỏi, động viên, trợ giúp hộ nghèo khi gặp thiên tai,

319

dịch bệnh và các lý do bất khả kháng khác, hỗ trợ tiền điện, hỗ trợ khuyến khích hỏa táng và các chính sách khác theo quy định.

- Giám sát thủ tục giải quyết cho hộ nghèo, cận nghèo được vay vốn tín dụng ưu đãi. Với việc được tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi, các hộ nghèo và cận nghèo có cơ hội tự phấn đấu vươn lên thoát nghèo, góp phần đảm bảo an sinh và phúc lợi xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo.

- Giám sát hoạt động dạy nghề ngắn hạn cho lao động thuộc diện hộ nghèo có nhu cầu học nghề.

- Giám sát việc sử dụng Quỹ "vì người nghèo đúng mục đích, hiệu quả nhằm phát huy nguồn lực hỗ trợ chương trình giảm nghèo của địa phương.

- Giám sát việc thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo:

công tác phổ biến giáo dục pháp luật, đáp ứng kịp thời nhu cầu tìm hiểu pháp luật, tư vấn kịp thời những vướng mắc pháp luật của người dân, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đối tượng thuộc diện được hưởng trợ giúp pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo được tiếp cận với pháp luật và các dịch vụ pháp lý miễn phí.

- Giám sát hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo hưởng thụ văn hoá thông tin: giám

sát việc triển khai chính sách đưa chương trình văn hóa thông tin, đa dạng hóa các hoạt động thông tin, tuyên truyền để người nghèo, cận nghèo được tiếp cận với các hoạt động văn hóa; hỗ trợ các điều kiện để người nghèo được tiếp cận các dịch vụ thông tin, sử dụng các thiết bị viễn thông, phát thanh truyền hình giúp họ hiểu biết quyền, nghĩa vụ của mình, chủ động tiếp cận các chính sách trợ giúp của nhà nước để vươn lên thoát nghèo.

- Giám sát việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình thông tin

và truyền thông về công tác giảm nghèo, việc tổ chức các hoạt động đối thoại chính sách về giảm nghèo định kỳ ở thôn, bản, xã, huyện, việc tổ chức các hoạt động truyền thông giảm nghèo theo các hình thức phù hợp nhằm thúc đẩy giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm giữa các thôn, bản, xã, huyện,

320

- Giám sát việc xây dựng, phát triển mạng lưới cán bộ tuyên truyền viên,

báo cáo viên về giảm nghèo từ huyện đến thôn, bản; hoạt động đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác thông tin và truyền thông tại địa phương; ưu tiên cho cán bộ cấp xã và cấp thôn, bản. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh hoạt động của Trang thông tin điện tử về giảm nghèo cũng cần được quan tâm.

Một trong những nội dung quan trọng trong chính sách giảm nghèo bền

vững của Việt Nam hiện nay là bảo đảm tiếp cận mức tối thiểu các dịch vụ xã hội cơ bản cho toàn dân. Các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm: giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin.

Bảo đảm giáo dục tối thiểu: Mục tiêu của chính sách là nâng cao chất

lượng giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 - 5 tuổi; phổ cập tiểu học và trung học cơ sở, nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, dạy nghề và đào tạo đại học, cao đẳng; giảm chênh lệch về giáo dục cho người nghèo, dân tộc thiểu số và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn

Các nội dung giám sát:

- Giám sát các cuộc huy động, vận động đưa trẻ em từ 3-5 tuổi học bậc

mầm non cũng như huy động trẻ em trong độ tuổi đi học đến trường.

- Giám sát việc thực hiện phổ cập giáo dục cho trẻ em, đảm bảo tất cả trẻ

em trong độ tuổi của bậc học tiểu học và trung học cơ sở đều được đến trường.

- Giám sát chính sách hỗ trợ miễn, giảm học phí cho học sinh nghèo, giảm

học phí cho học sinh thuộc hộ cận nghèo, hỗ trợ chi phí học tập cho học sinh nghèo, hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ em từ 3 - 5 tuổi học mẫu giáo. Chính sách hỗ trợ về giáo dục nếu thực hiện tốt sẽ giúp giảm tỷ lệ học sinh bỏ học, tỷ lệ huy động trẻ em đến trường theo độ tuổi tăng.

- Giám sát chất lượng của các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ

thông, dạy nghề trên địa bàn, đảm bảo cơ sở vật chất, các điều kiện dạy và học, cũng như chất lượng của đội ngũ giáo viên, đội ngũ quản lý giáo dục.

321

- Giám sát việc rà soát, cập nhật số liệu trẻ em có hoàn cảnh khó khăn trên

địa bàn cũng như việc thực hiện các chính sách hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.

Bảo đảm y tế tối thiểu: Mục tiêu của chính sách là chăm lo, bảo vệ và tăng

cường sức khoẻ nhân dân; đảm bảo mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, đặc biệt là bà mẹ trẻ em; thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; mở rộng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng; người dân được sống trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần, giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ, nâng cao chất lượng dân số.

Các nội dung giám sát:

- Giám sát việc thực hiện các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho bà mẹ trẻ em, việc tiêm chủng vắc xin và bổ sung vitamin A cho trẻ em dưới 6 tuổi.

- Giám sát hoạt động tuyên truyền, tổ chức các cuộc vận động nâng cao

nhận thức của người dân trong hoạt động rèn luyện nâng cao thể lực, bổ sung dinh dưỡng hợp lý, tăng cường sức khỏe.

Bảo đảm mức tối thiểu về nhà ở: Mục tiêu của chính sách là cải thiện điều

kiện ở cho người dân, đặc biệt là người nghèo, người có thu nhập thấp ở đô thị; từng bước giải quyết nhu cầu về nhà ở cho người lao động tại các khu công nghiệp, học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, trung học và dạy nghề để ổn định cuộc sống, tăng cường sức khỏe, góp phần giảm nghèo bền vững.

Các nội dung giám sát:

- Giám sát việc thực hiện hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo.

- Giám sát công tác rà soát thống kê, lập danh sách hộ nghèo, người có thu

nhập thấp, người lao động có nhu cầu về nhà ở để đề xuất kịp thời và tính chính xác số liệu và danh sách của địa phương.

Bảo đảm nước sạch cho người dân: Mục tiêu của chính sách là cải thiện cơ

bản tình hình sử dụng nước sạch của dân cư, đặc biệt là dân nông thôn, vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn, vùng núi cao; giảm thiểu tác động xấu do điều kiện nước kém vệ sinh gây ra đối với sức khoẻ của người dân.

322

Các nội dung giám sát:

- Giám sát việc huy động và sử dụng nguồn lực xã hội hóa trong đầu tư xây

dựng hệ thống, dịch vụ cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường.

- Giám sát công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực dịch vụ cung cấp

nước sạch và vệ sinh môi trường.

Bảo đảm thông tin cho người nghèo, vùng nghèo: Mục tiêu của chính sách

là đảm bảo cho người dân ở mọi vùng miền được thông tin kịp thời về các chính sách của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, khoa học kỹ thuật nhằm rút ngắn khoảng cách về thông tin giữa các vùng, miền; nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của người dân ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo.

Các nội dung giám sát:

- Giám sát việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình thông tin

và truyền thông và hỗ trợ hộ nghèo, vùng nghèo tiếp cận thông tin.

- Giám sát việc xây dựng tủ sách pháp luật, thư viện miễn phí cho người

dân trên địa bàn.

- Giám sát việc xây dựng các điểm tuyên truyền, cổ động cố định ngoài trời

cũng như nội dung chương trình cổ động cho các đội thông tin cơ sở phù hợp với từng địa bàn cũng như việc hỗ trợ phương tiện nghe, xem cho các hộ nghèo sống tại các đảo xa bờ; hộ nghèo thuộc các dân tộc ít người; hộ nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn;

3. Giám sát việc thực hiện chính sách, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng

Giám sát việc thực hiện chính sách, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng ở địa phương là theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp có liên quan đến tổ chức thực hiện chính sách, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng. Mục đích của việc giám sát thực hiện chính sách chế độ ưu đãi người có công với cách mạng ở địa phương nhằm đảm bảo chăm lo sức khỏe, đời sống vật chất, tinh thần của người

323

có công với cách mạng, với thân nhân của người có công với cách mạng, phát hiện những bất cập, hạn chế trong các chế độ chính sách hiện hành đối với người có công với cách mạng và thân nhân của họ, đưa ra kiến nghị nhằm điều chỉnh

chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân của họ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ, bảo đảm mức sống của người có công với cách mạng bằng hoặc cao hơn mức trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú.

Các nội dung giám sát:

- Giám sát việc thực hiện chế độ ưu đãi đối với người có công với cách

mạng và thân nhân của người có công với cách mạng, đảm bảo việc nhận đúng

và đủ trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần. Các đối tượng người có công với cách mạng theo quy định∏7 gồm: (i) Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; (ii) Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; (iii) Liệt sĩ; (iv) Bà mẹ Việt Nam anh hùng; (v) Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; (vi) Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; (vii) Thương binh, bao gồm cả thương binh loại B được công nhận trước ngày 31 tháng 12 năm 1993; người hưởng chính sách như thương binh; (viii) Bệnh binh; (ix) Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học; (x) Người hoạt động cách mạng, kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế bị địch bắt tù, đày; (xi) Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế; (xii) Người có công giúp đỡ cách mạng. Các đối tượng thân nhân người có công

với cách mạng gồm: cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con (con đẻ, con nuôi), người có công nuôi liệt sĩ.

- Giám sát việc thực hiện chế độ ưu đãi khác đối với người có công với

cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng. Pháp lệnh Ưu đãi người có công (năm 2020) đưa ra các chế độ ưu đãi bao gồm: bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khỏe; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng cần thiết theo chỉ định của cơ sở chỉnh

117 Xem thêm: Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng 2020.

324

hình, phục hồi chức năng thuộc ngành lao động - thương binh và xã hội hoặc

của bệnh viện tuyến tỉnh trở lên, ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm, hỗ trợ để

theo học đến trình độ đại học tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục

quốc dân, hỗ trợ cải thiện nhà ở căn cứ vào công lao, hoàn cảnh của từng người

hoặc khi có khó khăn về nhà ở; miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất khi được Nhà

nước giao đất ở, chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở, công nhận quyền sử

dụng đất ở, khi được mua nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước; ưu tiên giao hoặc

thuê đất, mặt nước, mặt nước biển; ưu tiên giao khoán bảo vệ và phát triển rừng;

vay vốn ưu đãi để sản xuất, kinh doanh; miễn hoặc giảm thuế theo quy định của

pháp luật.

- Giám sát các điều kiện, tiêu chuẩn, chi trả trợ cấp đối với từng nhóm đối

tượng người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng.

- Giám sát việc thực hiện các phong trào đền ơn đáp nghĩa, quản lý Quỹ

Đền ơn đáp nghĩa;

- Giám sát việc sử dụng các nguồn lực thực hiện chính sách ưu đãi người

có công với cách mạng. Hiện nay có rất nhiều nguồn: nguồn ngân sách nhà

nước, các nguồn tài trợ, biếu, tặng chi, ủng hộ, đóng góp của tổ chức, cá nhân

trong nước, ngoài nước, các nguồn lực hợp pháp khác.

- Giám sát công tác thi đua, khen thưởng trong lĩnh vực người có công với

cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng.

- Giám sát việc tiếp nhận hài cốt liệt sĩ, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ

còn thiếu thông tin và thông tin về mộ liệt sĩ thuộc địa bàn quản lý.

- Giám sát công tác thống kê về người có công với cách mạng và thân nhân

người có công với cách mạng.

- Giám sát việc lập hồ sơ, quản lý sửa chữa, tu bổ, thường xuyên chăm sóc

các công trình ghi công liệt sĩ, mộ liệt sĩ thuộc địa bàn quản lý. Công trình ghi

công liệt sĩ là công trình lịch sử, văn hóa để tôn vinh, tri ân liệt sĩ và giáo dục

truyền thống cách mạng phải được xây dựng phù hợp với quy hoạch, phong tục,

tập quán của từng địa phương, bảo đảm trang nghiêm, mỹ quan, bền vững.

325

Công trình ghi công liệt sĩ bao gồm: nghĩa trang liệt sĩ; đài tưởng niệm liệt sĩ; đền thờ liệt sĩ; nhà bia ghi tên liệt sĩ.

- Giám sát việc việc chi trả chế độ ưu đãi đối với người có công với cách

mạng và thân nhân của người có công với cách mạng.

4. Giám sát các nội dung khác

Bên cạnh việc giám sát quản lý nhà nước về an sinh xã hội trong thực hiện chính sách trợ giúp xã hội, chính sách xóa đói, giảm nghèo, chế độ, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, đại biểu HĐND cấp huyện và cấp xã thực hiện giám sát các nội dung khác liên quan đến quản lý nhà nước về an sinh xã hội gắn với năm trụ cột của hệ thống an sinh xã hội đó là: (i) Việc làm, thu nhập và giảm nghèo; (ii) Bảo hiểm xã hội; (iii) Trợ giúp xã hội cho những người có

hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; (iv) Bảo đảm mức tối thiểu về một số dịch vụ xã

hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin) và (v) Hệ thống cung cấp dịch vụ công về an sinh xã hội thông qua công tác xã hội chuyên nghiệp.

Với tác động từ thiên tai, dịch bệnh, vấn đề an sinh xã hội càng có ý nghĩa

quan trọng đối với các nhóm dân cư dễ bị tổn thương. Việc giám sát của đại biểu

HĐND cấp huyện, cấp xã đối với các nội dung quản lý nhà nước về an sinh xã hội, vì vậy, ngày càng mở rộng về diện, về nhóm đối tượng, về các nhóm chính sách an sinh xã hội. Trong từng nhóm chính sách an sinh xã hội, với từng nhóm đối tượng, cần có sự giám sát cụ thể để đảm bảo các chính sách được thực hiện đúng đối tượng, đúng định mức, đúng thời điểm, khẳng định ý nghĩa của chính sách an sinh xã hội. Điều này đòi hỏi đại biểu HĐND cần phải cập nhật, nâng cao hiểu biết về chế độ, chính sách an sinh xã hội. Đồng thời, đại biểu cần tăng cường tiếp xúc cử tri, lắng nghe ý kiến từ các nhóm đối tượng thụ hưởng, chịu tác động của chính sách an sinh xã hội để có thông tin thực tiễn phục vụ có hiệu quả công tác giám sát của đại biểu, công tác giám sát của HĐND cấp huyện đối với quản lý nhà nước về an sinh xã hội. Bên cạnh đó, HĐND cấp huyện, cấp xã có cơ sở để định hướng thiết kế các chương trình trợ giúp theo hướng linh hoạt, đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân bị rủi ro và cộng đồng; bảo đảm hỗ trợ

326

kịp thời người yếu thế, nhóm yếu thế và cộng đồng việc khắc phục rủi ro do dịch bệnh và thiên tai.

III. Nhận diện một số vi phạm trong quản lý nhà nước về an sinh xã hội ở địa phương

1. Vi phạm trong hoạt động chi trả các chế độ chính sách trợ giúp xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội

- Chưa xác định đúng các đối tượng bảo trợ xã hội;

- Chưa thực hiện chi trả đúng và đủ chế độ trợ cấp, phụ cấp, chưa kịp thời

đối với một số đối tượng ở vùng sâu, vùng xa, miền núi do bản thân đối tượng vẫn chưa được biết thông tin về chính sách.

2. Vi phạm trong việc thực hiện chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng, giáo dục, phục hồi chức năng và cung cấp các dịch vụ cho đối tượng bảo trợ xã hội

Chưa kiểm soát và điều phối các nguồn hỗ trợ từ cộng đồng và các đối tượng cần trợ cấp, dẫn đến việc lợi dụng hoặc sử dụng không đúng các nguồn hỗ trợ, hoặc không công bằng.

3. Vi phạm trong thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng

- Khai báo gian dối, giả mạo giấy tờ để hưởng chế độ ưu đãi người có công

với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng.

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định hoặc gây thiệt hại đến

lợi ích của Nhà nước, quyền lợi của người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng.

- Vi phạm nguyên tắc quản lý, sử dụng kinh phí bảo đảm thực hiện các

chính sách, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, Quỹ Đền ơn đáp nghĩa.

4. Vi phạm trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững

- Chi hỗ trợ cho hộ nghèo, cận nghèo chưa đúng quy định.

8 Nội dung này mang tính gợi ý, tham khảo. Đơn vị được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao biên soạn cần nghiên cứu thực tế địa phương để biên soạn, bảo đảm phù hợp thực tế giám sát quản lý nhà nước về an sinh xã hội ở địa phương.

327

- Vi phạm trong đầu tư xây dựng công trình (như khối lượng thi công ít hơn

nhiều so với khối lượng quyết toán, trị giá dự toán được duyệt đối với công trình tăng so với thực tế, gây thất thoát lãng phí ngân sách).

- Việc trục lợi trong thực hiện các chính sách giảm nghèo (như đưa người

thân không đúng đối tượng, danh sách hộ nghèo để trục lợi hoặc các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở, cây, con giống không phải là hộ nghèo).

328

CÂU HỎI THẢO LUẬN19

1. Phân tích vai trò của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã trong giám sát

thực hiện chính sách an sinh xã hội tại địa phương.

2. Những khó khăn trong việc giám sát quản lý nhà nước về an sinh xã hội

ở địa phương (nơi đại biểu HĐND công tác)?

3. Kinh nghiệm của cá nhân đại biểu HĐND trong quá trình giám sát quản

lý nhà nước về an sinh xã hội ở địa phương (nơi đại biểu HĐND công tác)?

119 Giảng viên có thể đưa ra những câu hỏi thảo luận/tình huống phù hợp với thực tế của địa phương, nhu cầu học viên và điều kiện lớp học.

329

TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO HỌC VIÊN120

1. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030.

2. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2019).

3. Luật Người cao tuổi năm 2009.

4. Luật Người khuyết tật năm 2010.

5. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

6. Luật Trẻ em năm 2016.

7. Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2020.

8. Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ

phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016

- 2020.

9. Các quy định của chính quyền địa phương (nơi đại biểu HĐND công tác)

liên quan đến chế độ, chính sách về an sinh xã hội ở địa phương.

120 Giảng viên cập nhật, giới thiệu thêm những tài liệu tham khảo khác cho học viên, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và khả năng tìm kiếm tài liệu của học viên.

330

Chuyên đề 13

KỸ NĂNG GIÁM SÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA,

GIÁO DỤC, Y TẾ Ở CẤP HUYỆN, CẤP XÃ

I. Khái quát về hệ thống văn hóa, giáo dục, y tế ở địa phương và trách nhiệm của chính quyền cấp huyện, cấp xã trong quản lý nhà nước về văn hóa, giáo dục, y tế

1. Khái quát về hệ thống văn hóa, giáo dục, y tế ở cấp huyện, cấp xã

a. Khái quát về văn hóa

- Khái niệm và vai trò của văn hóa

+ Khái niệm

Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau tùy theo cách tiếp cận, tuy nhiên nói đến văn hóa bao gồm tất cả những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lao động, sinh sống

thực tiễn trong suốt chiều dài lịch sử.

Theo quan niệm của Hồ Chí Minh: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của

cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức,

pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa2

Có thể hiểu một cách chung nhất, văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và

tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội, các giá trị đó tạo ra bản sắc riêng của từng cộng đồng, từng dân tộc.

Văn hóa là của con người, do con người sáng tạo, giữ gìn, được cộng đồng

truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, văn hóa phục vụ đời sống con người, vì lợi ích của con người và sự tiến bộ của xã hội.

+ Vai trò của văn hóa

121 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tập 3, trang 431.

331

Văn hóa bao gồm các giá trị, chuẩn mực để định hướng hành vi con người tới giá trị nhân văn, hướng tới chân, thiện, mĩ. Văn hóa có vị trí, vai trò quan trọng trong sự điều tiết, vận động mọi mặt của xã hội; là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững; kích thích sự sáng tạo và đánh thức những năng lực tiềm ẩn của con người. Văn hóa là cơ sở để xác lập các giá trị xã hội,

lối sống xã hội, nền đạo đức xã hội thượng tôn pháp luật, nhân văn, nhân ái, tôn trọng quyền con người, quyền công dân; là cơ sở để tạo nên "sức mạnh mềm" của mỗi quốc gia, mỗi địa phương trong quá trình phát triển, phải "lấy giá trị

văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững12. Đối với mỗi quốc gia, văn hóa được coi là mục

tiêu, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, đồng thời góp phần làm ổn định chính trị - xã hội. Văn hóa được xác định vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu hoạt động chính trị của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm "phát triển văn hóa là

nền tảng tinh thần", coi trọng văn hóa trong chính trị và trong kinh tế, coi trọng

giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Văn hóa gắn với con người, do con người sáng tạo ra nên Đại hội XIII của Đảng khi đề cập đến quan điểm về văn hóa luôn nhấn mạnh việc phát huy vai trò con người, xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam.

- Quản lý nhà nước về văn hóa ở cấp huyện, cấp xã

Quản lý nhà nước về văn hoá là quá trình tác động có tổ chức và điều chỉnh

bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động văn hóa của con người, do các

cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa từ trung ương đến địa phương tiến hành, thông qua các công cụ pháp luật, chính sách, kế hoạch... Để quản lý các hoạt động văn hoá nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng, đảm bảo quyền tự do dân chủ trong hoạt động và sáng tạo văn hoá của nhân dân.

122 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021-2030.

332

Quản lý nhà nước về văn hóa đóng vai trò rất quan trọng trong bối cảnh

phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế và

Cách mạng công nghiệp 4.0. Hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa sẽ góp phần định hướng, điều chỉnh sự phát triển của văn hóa quốc gia, giúp hiện thực hóa các chủ trương, đường lối văn hóa của Đảng cầm quyền, từ đó tác động đến mục tiêu, bản chất của văn hóa dân tộc. Hoạt động quản lý nhà nước đối với từng lĩnh vực văn hóa, trong từng nhóm cộng đồng cụ thể sẽ giúp giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của từng cộng đồng, đồng thời kiểm soát sự tùy tiện, sai lệch trong thực thi các cơ chế, chính sách của Nhà nước về văn hóa, đảm bảo văn hóa phát triển đúng mục tiêu, góp phần xây dựng đời sống văn hóa

lành mạnh trong mỗi cộng đồng dân cư.

Hoạt động văn hóa rất đa dạng, phong phú. Ở cấp huyện, cấp xã tập trung

chủ yếu vào các hoạt động như: Xây dựng lối sống văn hoá, nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; hoạt động lễ hội, thực hiện phong trào văn hoá, văn nghệ; xây dựng phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá"'; xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, khu phố văn hoá, đơn vị văn hoá; bảo

vệ các di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh; hoạt động của các thiết chế văn hoá thuộc thẩm quyền quản lý (Thư viện, Trung tâm Văn hóa- Thể thao..., các cơ sở hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hoá). Do đó, muốn giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc trên địa bàn cấp huyện, cấp xã cần phải tăng cường quản lý nhà nước về văn hóa, chính quyền cấp huyện, cấp xã phải luôn chú trọng xây dựng và thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò của văn hóa đối với phát triển, quan tâm xây dựng các thiết chế văn hoá, tổ chức thực thi các chính sách nhằm bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc và của từng cộng đồng. Các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa ở cấp huyện, cấp xã đóng vai trò chủ đạo trong quản lý và phát triển các hoạt động văn hoá trên địa bàn, tăng cường trách nhiệm của UBND cấp huyện, cấp xã trong việc thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về văn hóa.

b. Khái quát về hệ thống giáo dục

- Khái niệm và vai trò của giáo dục

333

+ Khái niệm:

Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có mục đích, có kế hoạch

đến sự phát triển tinh thần, thể chất của đối tượng được giáo dục, làm cho đối tượng ấy phát triển những phẩm chất và năng lực cần thiết của mình để tham gia

vào cuộc sống lao động xã hội.

Theo nghĩa chung nhất, giáo dục là quá trình trang bị và nâng cao kiến thức,

hiểu biết về thế giới quan, khoa học, kỹ thuật, kỹ năng, kỹ xảo cũng như hình thành và phát triển phẩm chất, nhân cách con người để con người tham gia hoạt động lao động sản xuất và đời sống xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.

+ Vai trò của giáo dục:

Giáo dục, đào tạo nhằm phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất của con người, tạo cơ sở nền tảng cho con người tham gia vào cuộc sống xã hội và lao động thực tiễn; là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế và giảm nghèo bền vững, đặc biệt giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp là yếu tố trực tiếp góp phần tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế.

Phát triển giáo dục, đào tạo sẽ nâng cao mặt bằng dân trí tạo ra đội ngũ

có tri thức và kỹ năng lao động, mà tri thức liên quan mật thiết đến tăng trưởng nguồn nhân lực chất lượng cao, có đạo đức, có ý thức và trách nhiệm công dân; kinh tế và phát triển xã hội, nó phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nó quyết định sự tăng trưởng kinh tế, sự tiến bộ khoa học công nghệ, phát triển bền vững.

Trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới hiện nay, giáo dục đào

tạo ngày càng có vai trò to lớn, nó thúc đẩy sự hình thành và phát triển nền kinh

tế tri thức, là phương thức đặc biệt để giữ gìn, sáng tạo và phát triển văn hoá, giáo dục đóng góp vào tăng trưởng kinh tế thông qua ứng dụng và thúc đẩy tiến bộ công nghệ; giáo dục và đào tạo được coi là chìa khoá của sự phát triển, là trụ cột của mỗi quốc gia để tạo dựng, giữ gìn và phát triển hệ giá trị xã hội.

- Hệ thống giáo dục Việt Nam: hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam hiện nay được thiết kế theo hướng mở, liên thông gồm giáo dục chính quy và giáo dục

334

thường xuyên. Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân được phân định như sau:

+ Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục, bao gồm

giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo. Giáo dục nhà trẻ được thực hiện đối với trẻ từ 3 tháng tuổi đến 3 tuổi, giáo dục mẫu giáo được thực hiện đối với trẻ em từ 3 tuổi đến 6 tuổi.

+ Giáo dục phổ thông gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và giáo dục trung học phổ thông:

+ Giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ

cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên

+ Giáo dục đại học đào tạo trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.

Ngoài hệ thống giáo dục chính quy còn có giáo dục thường xuyên nhằm giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội.

- Quản lý nhà nước về giáo dục ở cấp huyện, cấp xã

Quản lý nhà nước về giáo dục ở cấp huyện, cấp xã là sự tác động có tổ

chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục ở cấp huyện, cấp xã trên cơ sở pháp luật đối với các hoạt động giáo dục trên địa bàn nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo; duy trì trật tự, kỉ cương, thoả mãn nhu cầu giáo dục của nhân dân và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

Đối với cấp huyện, cấp xã hoạt động quản lý nhà nước về giáo dục chủ yếu

tập trung vào các nội dung sau: triển khai thực hiện chính sách, pháp luật về giáo dục đối với các cơ sở giáo dục theo phân cấp quản lý; kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục của cơ sở giáo dục trên địa bàn; bảo đảm các điều kiện về đội ngũ nhà giáo, tài chính, cơ sở vật chất, thư viện và thiết bị dạy học của

335

trường công lập thuộc phạm vi quản lý; phát triển các loại hình nhà trường, chỉ đạo thực hiện xã hội hóa giáo dục; bảo đảm đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục tại địa phương; chỉ đạo thực hiện chủ trương, chính sách của Nhà nước và chính sách của địa phương về bảo đảm quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình về thực hiện nhiệm vụ và chất lượng giáo dục của cơ sở giáo dục thuộc phạm vi quản lý.

c. Khái quát về hệ thống y tế

- Khái niệm và vai trò của y tế

+ Khái niệm

Sức khỏe là nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững, muốn có sức

khỏe tốt cần có hệ thống y tế phát triển, hiện đại. Y tế giữ vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng, điều trị bệnh, bảo đảm cuộc sống sức khỏe cho con người để học tập và lao động.

Y tế là hệ thống tổ chức các hoạt động để giải quyết các vấn đề về sức

khỏe, bệnh tật cho con người hay nhằm chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người.

Hoạt động của ngành y tế với nhiệm vụ trọng tâm là chăm sóc, bảo vệ và

nâng cao sức khỏe cho con người, do đó có vai trò quan trọng đối với việc xây dựng nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.

+ Vai trò:

Y tế là công cụ để ngăn ngừa các dịch bệnh, bảo đảm sức khỏe, điều trị để

tái phục hồi sức khỏe cá nhân, duy trì sự bền vững của cộng đồng. Lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy những dịch bệnh sẽ không thể bị kiểm soát, đẩy lùi nếu thiếu vắng hệ thống y tế.

Đảng và Nhà nước ta đã nhấn mạnh sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi

người và của xã hội, do đó chính sách y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân có vị trí hàng đầu trong hệ thống các chính sách kinh tế - xã hội của quốc gia.

- Hệ thống y tế Việt Nam:hệ thống y tế của Việt Nam được tổ chức theo các tuyến từ trung ương đến địa phương, bao gồm:

336

+ Tuyến y tế trung ương: Là tuyến y tế cao nhất trong hệ thống tổ chức ngành y tế Việt Nam, tuyến này gồm có các cơ sở y tế như bệnh viện đa khoa, các bệnh viện chuyên khoa, các viện nghiên cứu, các cơ sở điều dưỡng, các tổng công ty dược, thiết bị y tế trực thuộc Bộ Y tế.

+ Tuyến y tế địa phương:

Tuyến y tế cấp tỉnh: Gồm có các bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên, các cơ sở điều dưỡng, trung tâm kiểm soát bệnh tật,... có chức năng cung cấp dịch

vụ chuyên môn, kỹ thuật về y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh; phục hồi chức năng và các dịch vụ y tế khác theo quy định của pháp luật.

Tuyến y tế cấp huyện: Gồm bệnh viện, phòng khám, trung tâm y tế huyện

cung cấp các dịch vụ chuyên môn, kỹ thuật để chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn.

Tuyến y tế cấp xã: Gồm có các trạm y tế xã, phường; các cơ sở y tế thuộc

cơ quan, xí nghiệp, nhà máy, trường học đóng trên địa bàn xã, phường.

Ngoài các cơ sở y tế của Nhà nước, còn có các cơ sở y tế do tư nhân thành lập nhằm phục vụ chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho nhân dân.

- Quản lý nhà nước về y tế ở cấp huyện, cấp xã do các cơ quan quản lý nhà

nước về y tế ở cấp huyện, cấp xã thực hiện, chủ yếu là do UBND cấp huyện, UBND cấp xã chịu trách nhiệm với sự tham mưu quản lý nhà nước về y tế của

các cơ quan chuyên môn như Phòng Y tế, trạm y tế. Các cơ quan này có chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện, cấp xã thực hiện quản lý nhà nước về y tế, bao gồm các lĩnh vực hoạt động: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng; y dược cổ truyền; sức khỏe sinh sản; trang thiết bị y tế; dược; mỹ phẩm; an toàn thực phẩm; bảo hiểm y tế; dân số - kế hoạch hóa gia đình, cung ứng thuốc thiết yếu; quản lý sức khỏe cộng đồng; truyền thông giáo dục sức khỏe trên địa bàn theo hướng dẫn của cơ quan quản lý cấp trên và quy định của pháp luật.

2. Trách nhiệm quản lý nhà nước về văn hóa, giáo dục, y tế của chính quyền cấp huyện

a. Trách nhiệm quản lý nhà nước về văn hóa của chính quyền cấp huyện

337

- HĐND cấp huyện: Quyết định biện pháp phát triển sự nghiệp văn hóa ở

địa phương theo thẩm quyền và và giám sát hoạt động quản lý nhà nước về văn

hóa ở địa phương.

- UBND cấp huyện:

+ Quản lý các công trình văn hóa công cộng, đơn vị sự nghiệp công lập

trong lĩnh vực văn hóa, thông tin theo thẩm quyền; hướng dẫn các hoạt động,

phong trào về văn hoá; bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hoá và

danh lam thắng cảnh do địa phương quản lý;

+ Chỉ đạo thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về văn hóa, quy

hoạch, kế hoạch, đề án, chương trình đã được phê duyệt; hướng dẫn, thông tin

tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về văn hoá; thực hiện chủ trương xã

hội hoá hoạt động văn hoá trên địa bàn cấp huyện.

+ Ban hành quyết định, chỉ thị; kế hoạch dài hạn, 05 (năm) năm và hàng

năm; xây dựng các chương trình, đề án phát triển văn hoá trên địa bàn huyện.

+ Chỉ đạo Phòng Văn hóa và Thông tin hướng dẫn các tổ chức, đơn vị và

nhân dân trên địa bàn huyện thực hiện phong trào văn hoá, văn nghệ; xây dựng

nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; xây dựng phong trào "Toàn

dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá"; xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, khu phố văn hoá, đơn vị văn hoá; bảo vệ các di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh; bảo vệ, tôn tạo, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên du lịch văn hóa.
+ Chủ trì chỉ đạo sự phối hợp giữa các cơ quan liên ngành kiểm tra, thanh
tra việc chấp hành pháp luật về hoạt động văn hoá trên địa bàn huyện; giải quyết
đơn thư, khiếu nại, tố cáo của công dân về lĩnh vực văn hoá theo quy định của pháp luật.
+ Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của các thiết chế văn hóa theo thẩm quyền (như Thư viện, Trung tâm Văn hóa- Thông tin...), các cơ sở hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hoá, du lịch và quảng cáo điểm vui chơi công cộng thuộc phạm vi quản lý của Phòng trên địa bàn.
338
÷

+ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo chỉ đạo của UBND cấp trên và theo quy định của pháp luật.

b. Trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục của chính quyền cấp huyện

- HĐND cấp huyện quyết định biện pháp phát triển hệ thống giáo dục mầm

non, tiểu học và trung học cơ sở trên địa bàn theo thẩm quyền, giám sát quản lý nhà nước về giáo dục ở địa phương.

- UBND cấp huyện có trách nhiệm sau

+ Trình HĐND cấp huyện quyết định kế hoạch, chương trình, dự án phát

triển giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn phù hợp với chiến lược phát triển giáo dục của tỉnh và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

+ Chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện kế hoạch, chương trình, dự án phát

triển giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt; tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về giáo dục.

+ Sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ

sở trên địa bàn phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương; bảo đảm đủ biên chế công chức quản lý giáo dục, đủ số lượng người làm việc theo đề án vị trí

việc làm được phê duyệt, đáp ứng các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, tiến tới tổ chức học 02 buổi/ngày đối với giáo dục tiểu học, trung học cơ sở; chịu trách nhiệm giải trình về hoạt động giáo dục, chất lượng giáo dục, quản lý đội ngũ công chức, viên chức, người lao động và người học, thực hiện chính sách phát triển giáo dục thuộc phạm vi quản lý.
+ Quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Giáo dục và
Đào tạo theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
+ Hướng dẫn, kiểm tra các cơ sở giáo dục thuộc phạm vi quản lý trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục.
+ Thực hiện phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, xây dựng trường chuẩn quốc gia và xây dựng xã hội học tập trên địa bàn.
123 Xem thêm: Nghị định số 127/2018/NĐ-CP Quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục.
339

+ Chỉ đạo thực hiện việc sử dụng, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chính sách đối với đội ngũ công chức, viên chức và người lao động tại các

cơ sở giáo dục thuộc phạm vi quản lý theo quy định; thường xuyên cập nhật thông tin về đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục thuộc phạm vi quản lý vào cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục.

+ Bảo đảm đủ các điều kiện về tài chính, tài sản, cơ sở vật chất và quỹ đất

theo quy định; thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục, huy động các nguồn lực để phát triển giáo dục; ban hành các quy định để bảo đảm quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình về thực hiện nhiệm vụ và chất lượng giáo dục đối với các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý.

+ Kiểm tra việc tuân thủ pháp luật đối với các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của UBND cấp huyện.

+ Chỉ đạo thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo định kỳ và đột

xuất về lĩnh vực giáo dục của địa phương theo yêu cầu của UBND cấp tỉnh và Sở Giáo dục và Đào tạo.

+ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật

c. Trách nhiệm quản lý nhà nước về y tế của chính quyền cấp huyện

- HĐND cấp huyện: Quyết định biện pháp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân

dân, phòng, chống dịch bệnh, thực hiện chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình theo thẩm quyền, giám sát quản lý nhà nước về y tế ở địa phương.

- UBND cấp huyện:

Hoạt động y tế trên địa bàn cấp huyện bao gồm: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng; y dược cổ truyền; sức khỏe sinh sản; trang

thiết bị y tế; dược; mỹ phẩm; an toàn thực phẩm; bảo hiểm y tế; dân số - kế hoạch hóa gia đình. Để thực hiện chức năng về y tế trên địa bàn, UBND cấp

24.

huyện có trách nhiệm cơ bản sau124

+ Xây dựng các chương trình, đề án phát triển y tế và tổ chức thực hiện sau

khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

124 Bộ Nội vụ, Học viện Hành chính Quốc gia, Tài liệu bồi dưỡng lãnh đạo, quản lý cấp Sở và tương đương, NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2020, trang 66- 67.

340

+ Thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp y tế; quản lý các trung tâm y tế,

trạm y tế; chỉ đạo và kiểm tra việc bảo vệ sức khoẻ nhân dân; phòng, chống dịch bệnh; bảo vệ và chăm sóc sức khỏe người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa; bảo vệ, chăm sóc bà mẹ, trẻ em; thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình trên địa bàn huyện.

+ Chỉ đạo phòng y tế thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn để chăm sóc và

bảo vệ sức khỏe nhân dân trên địa bàn;

+ Kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong hoạt động của các cơ sở hành

nghề y, dược tư nhân và tiến hành xử lý vi phạm pháp luật theo thẩm quyền.

+ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo chỉ đạo của UBND cấp trên và theo

quy định của pháp luật.

3. Trách nhiệm quản lý nhà nước về văn hóa, giáo dục, y tế của chính quyền cấp xã

a. Trách nhiệm quản lý nhà nước về văn hóa của chính quyền cấp xã

- HDND cấp xã: theo thẩm quyền, quyết định các biện pháp bảo vệ và phát

huy các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng, dân tộc; các biện pháp xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, khu dân cư văn hóa; các biện pháp bảo đảm điều kiện thuận lợi cho các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, thông tin, truyền thông diễn ra trên địa bàn cấp xã, giám sát quản lý nhà nước về văn hóa ở địa phương.

- UBND cấp xã:

+ Chỉ đạo xây dựng phong trào và tổ chức các hoạt động văn hoá, thể dục

thể thao; tổ chức các lễ hội cổ truyền trên địa bàn; bảo vệ và phát huy giá trị của các di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh ở địa phương theo quy định của pháp luật;

+ Chỉ đạo phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, công

nhận danh hiệu gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa hàng năm;

+ Chỉ đạo các phong trào tự quản của nhân dân trong xã hội hoá các hoạt

động văn hoá, tổ chức thi đấu, biểu diễn thể thao quần chúng tại địa phương mình quản lý;

341

+ Chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện các quy chế, quy định về bảo vệ, trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hoá thuộc thẩm quyền quản lý ở cấp xã;

+ Trực tiếp chỉ đạo các thôn, xóm xây dựng các câu lạc bộ, tổ thông tin lưu

động, tủ sách, tổ chức các hoạt động của đội văn nghệ xã, tổ chức các đợt hội diễn, các hoạt động văn hóa văn nghệ quần chúng ở cấp xã;

+ Quản lý các hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa trên địa bàn, chỉ đạo,

hướng dẫn các tổ chức, cá nhân kinh doanh các dịch vụ văn hóa tuân thủ đúng quy định của pháp luật;

+ Thực hiện thanh tra, kiểm tra các hoạt động văn hoá, văn nghệ trên địa bàn và xử lý vi phạm hành pháp luật theo thẩm quyền

b. Trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục của chính quyền cấp xã

- HĐND cấp xã có trách nhiệm quyết định chủ trương và các biện pháp

phát triển giáo dục trên địa bàn cấp xã và giám sát hoạt động quản lý về giáo dục trên địa bàn cấp xã.

- UBND cấp xã có trách nhiệm sau:

+ Xây dựng và trình HĐND cấp xã duyệt kế hoạch phát triển giáo dục trên

địa bàn; tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục ở địa phương khi được phê duyệt.

+ Đầu tư hoặc tham gia đầu tư xây dựng các trường mầm non, tiểu học,

trung học cơ sở, trường phổ thông có nhiều cấp học trong đó có cấp học cao nhất là trung học cơ sở, trung tâm học tập cộng đồng theo quy định của UBND cấp huyện; phối hợp với các đơn vị có liên quan tham mưu UBND cấp huyện

xây dựng trường chuẩn quốc gia, kế hoạch sử dụng đất dành cho các cơ sở giáo dục trên địa bàn.

+ Quản lý trung tâm học tập cộng đồng; phối hợp với Phòng Giáo dục và

Đào tạo quản lý cơ sở giáo dục mầm non, trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường phổ thông có nhiều cấp học trong đó có cấp học cao nhất là trung học cơ sở; huy động các nguồn lực để phát triển giáo dục trên địa bàn xã, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, vận động nhân dân chăm lo cho giáo dục, phối hợp với nhà trường chăm lo giáo dục con em thực hiện nếp sống văn hóa mới.

342

+ Kiểm tra điều kiện bảo đảm chất lượng chăm sóc, giáo dục của các nhóm

trẻ, lớp mẫu giáo độc lập trên địa bàn. Chịu trách nhiệm giải trình về hoạt động giáo dục thuộc phạm vi quản lý.

+ Thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp theo thẩm quyền và

chịu trách nhiệm trước UBND cấp trên về phát triển giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn xã theo quy định

+ Tổ chức thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục, động viên các cấp,

ngành, các cơ sở kinh tế, các tổ chức, cá nhân, con em ở địa phương có trách nhiệm tham gia đóng góp các nguồn lực để bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục trên địa bàn.

+ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo chỉ đạo của UBND cấp trên và theo quy định của pháp luật.

c. Trách nhiệm quản lý nhà nước về y tế của chính quyền cấp xã

- HĐND cấp xã có trách nhiệm quyết định chủ trương và các biện pháp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân; các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trên địa

bàn cấp xã và thực hiện giám sát các hoạt động quản lý nhà nước về y tế trên địa bàn.

- UBND cấp xã có trách nhiệm:

+ Chỉ đạo tổ chức hoạt động tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ cho nhân dân

trên địa bàn;

+ Xây dựng mạng lưới phòng, chống và kiểm soát dịch bệnh đảm bảo an

toàn cho nhân dân trên địa bàn;

+ Tổ chức thực hiện các chương trình y tế cơ sở, dân số, kế hoạch hoá gia

đình được giao; vận động nhân dân đưa trẻ đi tiêm đầy đủ các loại vắc xin phòng bệnh.

+ Tổ chức vận động nhân dân giữ gìn vệ sinh môi trường, đảm bảo an toàn

thực phẩm, phòng chống dịch bệnh; chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân; thực hiện tốt chính sách xã hội hoá y tế trên địa bàn.

343

+ Chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc bà mẹ, trẻ em và dân số - kế

hoạch hoá gia đình ở cấp xã;

+ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo chỉ đạo của UBND cấp trên và theo

quy định của pháp luật.

II. Một số kỹ năng giám sát quản lý nhà nước về văn hóa, giáo dục, y tế ở cấp huyện, cấp xã

1. Giám sát quản lý nhà nước về văn hóa ở cấp huyện, cấp xã

Nội dung giám sát hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa ở cấp huyện, xã

nên tập trung vào những vấn đề sau:

a. Giám sát việc chỉ đạo, hướng dẫn xây dựng, quản lý và sử dụng các thiết

chế văn hóa trên địa bàn

Hệ thống các thiết chế văn hóa ở cấp huyện, cấp xã như trung tâm văn hóa

- thể thao, nhà văn hóa, khu thể thao, sân chơi thể thao, thư viện, nhà truyền thống, sân vận động,... đã được các cấp, các ngành quan tâm, xây dựng để triển khai tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao quần chúng, nơi tổ chức các hội thi, hội diễn, giải thể thao, là nơi để tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước, tổ chức sinh hoạt văn hóa cộng đồng góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân; bảo tồn, quảng bá, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa địa phương. Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn cần phải tăng cường hoạt động giám sát.

Giám sát hoạt động chỉ đạo, triển khai thực hiện các văn bản quy phạm

pháp luật, các chính sách liên quan tới xây dựng, quản lý, sử dụng và tổ chức các hoạt động hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao: cơ chế quản lý, chính sách về sử dụng đất, tạo quỹ đất xây dựng thiết chế văn hóa, chính sách về tài chính, chế độ đãi ngộ.

Giám sát việc chỉ đạo tuyên truyền vận động, nâng cao nhận thức của nhân

dân về vị trí, vai trò và trách nhiệm xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao trong xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở; công tác quy hoạch hệ thống thiết

344

chế văn hóa, thể thao; công tác thanh tra, kiểm tra về xây dựng, quản lý và sử dụng hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao.

Giám sát kết quả đầu tư và tổ chức hoạt động của hệ thống thiết chế văn

hóa, thể thao cơ sở như: xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị; thực trạng cơ sở

vật chất hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao các cấp (huyện, xã, thôn) trên địa bàn về số lượng, chủng loại, quy mô, tiêu chí, tỷ lệ đạt so với quy định; việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị.

Giám sát về tổ chức bộ máy vận hành các thiết chế văn hóa: công tác tuyển

dụng, sắp xếp, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhân viên; tổ chức và hoạt động của đội ngũ cộng tác viên.

Giám sát tổ chức các hoạt động gắn với các thiết chế văn hóa: Từ hoạt động xây dựng quy chế và kế hoạch hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở; tổ chức hoạt động tuyên truyền, phổ biến về chính sách, pháp luật; tổ chức các hoạt động phong trào văn hóa, thể thao quần chúng; vui chơi giải trí; tổ chức phối hợp, liên kết các hoạt động với tổ chức, cá nhân, trong hoạt động văn hóa, thể thao. Xem xét tần suất các hoạt động hàng năm; kết quả thu hút sự tham gia của nhân dân với các hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao.

Giám sát quản lý, sử dụng các nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước đầu

tư xây dựng các thiết chế văn hóa, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị; kinh phí tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao; thực hiện các chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ, nhân viên, cộng tác viên và các nguồn kinh phí từ xã hội hóa trong xây dựng và hoạt động của hệ thống thiết chế

văn hóa, thể thao ở cấp huyện, cấp xã.

Thông qua giám sát nhằm đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại,

hạn chế trong công tác tổ chức, quản lý và hiệu quả sử dụng hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao trên địa bàn để đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả đầu tư

và sử dụng hợp lý, đúng mục đích các thiết chế văn hóa đó; các biện pháp tăng cường vận động xã hội hóa, huy động các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trên địa

345

bàn và nhân dân tự nguyện đóng góp kinh phí, tham gia quản lý, xây dựng và khai thác có hiệu quả các thiết chế văn hóa, thể thao ở địa phương.

b. Giám sát việc chỉ đạo thực hiện phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng

đời sống văn hóa"

Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" là chủ trương

lớn của Đảng, Nhà nước, có ý nghĩa bao hàm nhiều lĩnh vực trong đời sống văn hóa - xã hội. Do đó HĐND cấp huyện, cấp xã cần giám sát việc ban hành các văn bản, xây dựng và triển khai các chương trình, kế hoạch thực hiện phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa.

Giám sát việc chỉ đạo thực hiện tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các

tầng lớp nhân dân về ý nghĩa của phong trào và huy động các nguồn lực để triển

khai thực hiện phong trào; gắn với cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; gắn với xây dựng và phát huy hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa, bảo đảm tính thiết thực và bền vững, gắn thực hiện phong trào với các mục tiêu phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội của địa phương.

Giám sát việc triển khai thực hiện các quy trình đăng ký, bình xét, công

nhận các danh hiệu văn hóa, đảm bảo dân chủ, khách quan, đúng quy định của pháp luật nhằm nâng cao chất lượng các danh hiệu văn hóa đạt được ở từng gia

đình, thôn, khu phổ, cộng đồng dân cư, xã, phường, cơ quan, doanh nghiệp; ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã hội; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc.

c. Giám sát thực hiện quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa trên địa bàn

Giám sát việc xây dựng và thực hiện các văn bản pháp luật về quản lý di

tích lịch sử văn hóa, triển khai thực hiện các biện pháp bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử, truyền thống của dân tộc nói chung, giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số nói riêng trên địa bàn. Giám sát việc chỉ đạo thực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa.

Giám sát việc quản lý, trùng tu, tôn tạo, chống xuống cấp các di tích lịch sử

văn hóa, quản lý, bảo vệ di tích, xây dựng cảnh quan môi trường xung quanh di

346

tích, bố trí người có trách nhiệm trông coi di tích, đảm bảo không để xảy ra tình trạng mất cắp di vật, cổ vật tại các di tích. Giám sát việc tổ chức, khai thác phát huy các giá trị của di sản văn hóa vật thể, phi vật thể trên địa bàn.

Giám sát việc kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ban quản

lý di tích trên địa bàn; kinh phí trùng tu, tôn tạo di tích trên địa bàn bằng nguồn kinh phí Nhà nước, nguồn xã hội hóa; quy trình tu bổ công trình di tích; công tác bảo vệ di tích, đặc biệt là các di tích cấp gia được thực hiện như thế nào; việc quản lý nguồn công đức thu được như thế nào..

Giám sát kiểm tra việc chấp hành các quy định về bảo vệ an ninh trật tự, vệ

sinh môi trường tại các điểm di tích, việc phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật các hành vi vi phạm, đưa hoạt động kinh doanh dịch vụ tại các điểm di tích vào kỷ cương nề nếp.

Giám sát việc xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ và

phát huy giá trị di tích; giám sát công tác bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn cho đội ngũ quản lý, bảo vệ và tổ chức hoạt động trực tiếp tại các di tích.

Giám sát việc thực hiện các chính sách về chế độ đãi ngộ đối với những

người trực tiếp làm công tác quản lý và bảo vệ di tích, những người có công truyền dạy và phổ biến di sản văn hóa phi vật thể; giám sát việc tuyển chọn, xây dựng, đào tạo đội ngũ thuyết minh viên tại các di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng, các địa điểm di tích đang được khai thác phục vụ du lịch.

d. Giám sát việc thực hiện quản lý nhà nước về các hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng trên địa bàn

Giám sát việc chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về

hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng bao gồm: Lưu hành, kinh doanh băng, đĩa ca nhạc, sân khấu; biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; triển lãm văn hóa, nghệ thuật; tổ chức lễ hội; viết, đặt biển hiệu; hoạt động vũ trường, karaoke, trò chơi điện tử, các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa và các hình thức vui chơi giải trí khác;

Giám sát việc cấp phép kinh doanh, cho phép đủ điều kiện hoạt động, việc

tuân thủ quy định pháp luật đối với các cơ sở, nơi tổ chức hoạt động văn hóa và

347

kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng bao gồm nhà hát, nhà văn hóa, nhà triển

lãm, trung tâm văn hóa, câu lạc bộ, cơ sở lưu trú du lịch, nhà khách, nhà nghỉ, nhà hàng ăn uống, giải khát, cửa hàng, cửa hiệu, sân vận động, nhà thi đấu thể thao, quảng trường, phương tiện vận tải hành khách công cộng và các phương tiện, địa điểm khác phù hợp.

Giám sát việc kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng; đảm bảo an ninh trật tự, an toàn cháy nổ tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng như karaoke, vũ trường, cơ sở lưu trú du lịch, nhà khách, nhà nghỉ..

2. Giám sát quản lý nhà nước về giáo dục ở cấp huyện, cấp xã

Nội dung giám sát hoạt động quản lý nhà nước về giáo dục ở địa phương nên tập trung vào những vấn đề sau:

a. Giám sát hoạt động quản lý, sử dụng các nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, các nguồn xã hội hóa để phát triển giáo dục ở địa phương

Giám sát quản lý, sử dụng kinh phí từ NSNN đầu tư cho giáo dục ở địa

phương, việc phân bổ NSNN, thu chi NSNN cho giáo dục trên địa bàn; bao gồm công tác quản lý, sử dụng nguồn kinh phí đối với các trường học và đối với phòng giáo dục và đào tạo.

Giám sát quản lý, sử dụng các nguồn lực huy động theo chủ trương xã hội

hóa: Huy động từ các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước; quản lý và sử dụng

các khoản đóng góp tại các cơ sở giáo dục (các khoản thu theo quy định, các khoản thu tự nguyện).

b. Giám sát việc quản lý các hoạt động bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em

và học sinh ở các cơ sở giáo dục (công lập và tư thục) trên địa bàn theo phân cấp quản lý

Giám sát việc chỉ đạo hoạt động chăm sóc sức khỏe học đường: hoạt động của đội ngũ cán bộ y tế trường học trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe trẻ em và học sinh, chính sách đãi ngộ cho nhân viên y tế học đường, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên trách y tế trường

348

học, nguồn kinh phí dành cho y tế trường học, sự phối hợp liên ngành trong triển khai hoạt động y tế trường học.

Giám sát việc chỉ đạo các cơ sở giáo dục sử dụng nguồn cung cấp thực

phẩm an toàn cho các cơ sở giáo dục thực hiện bán trú trên địa bàn, nhằm tăng cường công tác đảm bảo an toàn thực phẩm, phòng chống ngộ độc thực phẩm trong trường học, góp phần đảm bảo sức khỏe cho học sinh trên địa bàn.

Giám sát việc quản lý các điều kiện đảm bảo an toàn cho trẻ em và học sinh

bán trú tại trường như các điều kiện về cơ sở vật chất, chỗ ăn, chỗ nghỉ trưa cho học sinh.

c. Giám sát thực hiện các chế độ, chính sách giáo dục cho học sinh trên địa

bàn, đặc biệt đối với các đối tượng chính sách như: học phí, học bổng, hỗ trợ chi phí học tập, hỗ trợ ăn trưa bán trú tại trường,... cho con em gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình nghèo, vùng sâu, cùng xa, hải đảo,.

d. Giám sát thực hiện chế độ, chính sách cho giáo viên trên địa bàn, đặc

biệt giáo viên mầm non, giáo viên diện hợp đồng để từ đó có những đề xuất kiến nghị đảm bảo chế độ, chính sách và tạo động lực cho đội ngũ giáo viên này.

đ. Giám sát việc kiểm tra thực hiện các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo

dục tại các cơ sở giáo dục dân lập, tư thục trên địa bàn như đảm bảo điều kiện về trình độ, năng lực phải đáp ứng chuẩn nghề nghiệp giáo viên của từng cấp học theo quy định và các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, quy mô lớp học phù hợp với quy định của ngành giáo dục.

e. Giám sát hoạt động quản lý dạy thêm, học thêm trên địa bàn để đảm bảo

giáo viên và cơ sở dạy thêm tuân thủ đúng quy định của pháp luật về dạy thêm, học thêm; đáp ứng nhu cầu và yêu cầu của học sinh và phụ huynh. Giám sát việc cấp phép cho các cơ sở dạy thêm trong nhà trường và ngoài nhà trường.

g. Giám sát việc chỉ đạo thực hiện công tác xoá mù chữ, giáo dục tiếp tục

sau khi biết chữ; củng cố chất lượng phổ cập giáo dục trên địa bàn bao gồm phổ cập giáo dục mầm non, đảm bảo trẻ 5 tuổi phải đến trường; phổ cập tiểu học; phổ cập trung học cơ sở và đảm bảo các điều kiện thực hiện phổ cập giáo dục trên địa bàn.

349

h. Giám sát các hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công

dân về giáo dục nhằm giải quyết kịp thời các vấn đề bức xúc, những vấn đề nhân dân quan tâm trong lĩnh vực giáo dục trên địa bàn.

3. Giám sát quản lý nhà nước về y tế ở cấp huyện, cấp xã

Nội dung giám sát hoạt động quản lý nhà nước y tế ở địa phương nên tập trung vào các vấn đề sau:

a. Giám sát việc chỉ đạo thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế Giám sát việc chỉ đạo thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách,

pháp luật và vận động nhân dân tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) nhằm mở rộng đối tượng tham gia BHYT để thực hiện lộ trình BHYT toàn dân.

Giám sát công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành trong việc thực hiện

chính sách, pháp luật về BHYT. Việc thu BHYT, quản lý, sử dụng kinh phí từ

quỹ BHYT; việc cấp thẻ, đổi thẻ BHYT và việc phân bổ thẻ bảo hiểm y tế cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Giám sát việc kiểm tra chất lượng khám bệnh, chữa bệnh cho các đối tượng

tham gia bảo hiểm y tế, số lượng các cơ sở y tế tham gia khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia BHYT; công tác đầu tư và các điều kiện đảm bảo về cơ sở vật chất; trang thiết bị, nguồn nhân lực... trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

cho người tham gia BHYT

Giám sát việc đăng ký khám chữa bệnh ban đầu và chuyển tuyến điều trị;

việc cải cách thủ tục hành chính trong khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia BHYT, việc thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế.

Giám sát việc kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố

cáo về chế độ bảo hiểm y tế và trong khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế.

b. Giám sát hoạt động quản lý các cơ sở hành nghề y, dược tư nhân trên địa

bàn

Giám sát việc thực hiện cấp giấy phép hành nghề y, dược; việc chấp hành các quy định pháp luật trong quá trình hành nghề (công khai niêm yết giá dịch

350

vụ, xử lý rác thải y tế, thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn; thực hiện mở sổ sách theo dõi việc mua bán thuốc, bảo quản thuốc...);

Giám sát về các điều kiện đảm bảo chất lượng dịch vụ: cơ sở vật chất, trang

thiết bị, nhân lực, đảm bảo môi trường y tế, giám sát việc chấp hành các điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật;

Giám giát việc các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện thanh tra, kiểm tra,

xử lý vi phạm pháp luật về hành nghề y dược tư nhân có kịp thời, nghiêm minh, có đảm bảo khách quan, đúng quy định của pháp luật không.

c. Giám sát các hoạt động quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa

bàn nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm tại các trung tâm thương mại, siêu thị, của

hàng tiện ích, chợ truyền thống; đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm thức ăn đường phố.

Giám sát việc tuyên truyền các văn bản về an toàn thực phẩm đến cán bộ,

đảng viên, các hộ kinh doanh và nhân dân trên địa bàn. Giám sát việc phối hợp tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, phổ biến, tuyên truyền các quy định thực hiện văn minh thương mại; tuyên truyền kiến thức về an toàn thực phẩm và các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm.

Giám sát việc thực hiện kiểm tra liên ngành trên địa bàn tại các cơ sở sản

xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm, lò giết mổ gia súc, gia cầm, bếp ăn tập thể

trên địa bàn huyện, xã; quản lý và áp dụng các chế tài xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn thực phẩm;

Giám sát việc tổ chức ký cam kết đảm bảo an toàn thực phẩm, việc cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm; việc thực hiện công tác tuyên truyền, vận động, hướng dẫn các cơ sở, sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng về an toàn thực phẩm, nhằm nâng cao ý thức chấp hành các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm;
d. Giám sát việc chỉ đạo thực hiện các hoạt động y tế dự phòng, công tác
phòng chống dịch bệnh, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay giám sát việc chỉ đạo phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành, đoàn thể trong công tác phòng chống
351
T

dịch Covid -19; việc huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực để phòng chống dịch bệnh.

đ. Giám sát việc chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện quy tắc ứng xử, đổi mới

phong cách, thái độ phục vụ, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh theo quy định của ngành.

e. Giám sát thực hiện các chế độ, chính sách chăm sóc và bảo vệ sức khỏe

cho các đối tượng chính sách, người cao tuổi, người nghèo, trẻ em...đảm bảo đúng đối tượng, đúng mức hưởng.

g. Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cử tri trong

lĩnh vực y tế để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc nhân dân quan tâm.

III. Nhận diện một số vi phạm trong quản lý nhà nước về văn hóa, giáo

125

dục, y tế ở địa phương

1. Các vi phạm trong quản lý nhà nước về văn hóa

Trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa các vi phạm như: các cơ sở hoạt động khi chưa được cấp phép, chưa đảm bảo đầy đủ các điều kiện để hoạt động, chưa tuân thủ đúng quy định về phòng cháy nổ, chưa đảm bảo đúng thời gian hoạt động theo quy định, vi phạm về hợp đồng lao động sử dụng các nhân viên (như cơ sở karaoke, vũ trường, nhà hàng, khách sạn...)

Trong quản lý nhà nước về di sản văn hóa, các vi phạm trong công tác bảo

tồn, trùng tu các di tích lịch sử văn hóa chưa đảm bảo giữ nguyên giá trị gốc, làm mất đi nét kiến trúc cổ đặc trưng, có không ít di tích là các đền, chùa sau khi trùng tu bị biến dạng trong tổng thể cảnh quan. Mặt khác, chưa quản lý tốt nên các vi phạm bên hành lang, ô nhiễm môi trường xung quanh di tích như hoạt động kinh doanh các dịch vụ ăn uống, lấn chiếm hàng lang khu di tích.

Trong chỉ đạo phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa",

các vi phạm thường xảy ra ở việc bình xét danh hiệu gia đình văn hóa, làng bản

125 Nội dung này mang tính gợi ý, tham khảo. Đơn vị được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giáo biên soạn cần nghiên cứu thực tế địa phương để biên soạn, bảo đảm phù hợp thực tế giám sát quản lý nhà nước về văn hóa, giáo dục,y tế ở địa phương.

352

khu phố văn hóa, xã văn hóa, phường văn minh đô thị...chưa đảm bảo đúng tiêu

chí, đúng quy trình; vi phạm trong việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội còn gây lãng phí; vi phạm các quy định của pháp luật, các quy định của quy ước, hướng ước ở địa phương; chưa phù hợp với thuần phong mỹ tục ở địa phương.

2. Các vi phạm trong quản lý nhà nước về giáo dục

Trong quản lý dạy thêm, học thêm, một số cơ sở dạy thêm, học thêm thường vi phạm các quy định của pháp luật như chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép; dạy thêm, học thêm tràn lan chưa đúng quy định về đối tượng người dạy và người học; chưa công khai niêm yết các khoản thu dạy thêm, học thêm; các điều kiện cơ sở vật chất, phòng học chưa đảm bảo chất lượng dạy thêm, học thêm; vi phạm của một số nhà giáo trong ứng xử với các học sinh không đi học thêm.

Trong chỉ đạo hướng dẫn quản lý, sử dụng các khoản kinh phí dành cho

giáo dục, vi phạm khi thu và chi các nguồn từ xã hội hóa, đặc biệt thu quỹ của Ban đại diện cha mẹ học sinh có lúc, có nơi chưa đúng, chưa phù hợp, chưa tạo được sự đồng thuận trong nhân dân, đặc biệt vào đầu năm học.

Trong quản lý an toàn thực phẩm trong các trường học thường vi phạm

trong ký kết hợp đồng với các cơ sở cung cấp thực phẩm chưa đảm bảo an toàn cho học sinh bán trú, gây nên ngộ độc thực phẩm, hoặc các trường chưa đảm bảo các điều kiện an toàn cho học sinh học bán trú; còn chủ quan, lơ là trong kiểm soát các nguồn thực phẩm cung cấp cho trường học.

Trong thực hiện tuyển dụng, sử dụng, điều động, bổ nhiệm giáo viên có

những vi phạm như: chưa công khai minh bạch, chưa đảm bảo công bằng, khách quan trong tuyển dụng, tình trạng chạy chức, chạy quyền; điều động, bổ nhiệm

chưa đúng người, đúng vị trí; chưa đảm bảo đầy đủ các tiêu chuẩn, có nơi còn xảy ra các hiện tượng tiêu cực khác.

Trong quản lý các cơ sở giáo dục ngoài công lập trên địa bàn, những vi

phạm như các cơ sở mầm non loại hình nhóm trẻ độc lập hoạt động khi chưa được cấp có thẩm quyền cấp phép hoặc cho phép hoạt động; giáo viên chưa đáp

353

ứng trình độ theo tiêu chuẩn; vi phạm các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo

dục; việc tăng học phí tùy tiện chưa đảm bảo sự đồng thuận của phụ huynh học sinh.

3. Các vi phạm trong quản lý nhà nước về y tế

Trong quản lý các cơ sở hành nghề y dược tư nhân, những hành vi vi phạm như: một số cơ sở hành nghề y dược tư nhân có chứng chỉ hành nghề nhưng không có giấy phép kinh doanh, không có giấy phép hoạt động; một số phòng khám, quầy thuốc vẫn còn tình trạng bác sĩ, dược sĩ vắng mặt không thực hiện uỷ quyền theo quy định, việc mở sổ sách theo dõi hoạt động mua bán thuốc, niêm yết giá thuốc không đầy đủ; cơ sở khám chữa bệnh tư nhân chưa chấp hành các quy chuẩn về chuyên môn: quy mô, không gian khám chữa bệnh nhỏ hẹp, bố trí chưa hợp lý; công tác kiểm soát nhiễm khuẩn; việc xử lý rác thải, nước thải y tế, mẫu bệnh phẩm còn hạn chế... những hành vi vi phạm khi tổ

chức thanh, kiểm tra và xử lý chưa đúng quy định hoặc chưa kiên quyết, chưa dứt điểm...

Trong thực hiện chính sách BHYT, những vi phạm như tình trạng sai thông

tin trên thẻ, cấp chậm, trùng thẻ bảo hiểm y tế; việc xử lý tình trạng trốn đóng, nợ đọng BHXH; sự phối hợp với các cơ quan trong thực hiện giám định bảo hiểm y tế; phân biệt trong khám chữa bệnh giữa bệnh nhân bảo hiểm y tế và bệnh nhân theo yêu cầu, tình trạng này cùng với y đức chưa được cải thiện đã góp phần làm cho bảo hiểm y tế gặp khó khăn trong việc mở rộng độ bảo phủ. Hoạt động tuyên truyền về bảo hiểm y tế còn hình thức, chưa thực hiện thường

xuyên, liên tục; chưa có mạng lưới cộng tác viên sâu rộng đến các cộng đồng

dân cư; chưa xác định nhóm đối tượng cần tập trung trong tuyên truyền, vận động. Các cơ quan chức năng chưa xử lý các sai phạm theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế.

Trong quản lý an toàn thực phẩm, các vi phạm trong kiểm soát giết mổ,

kiểm tra vệ sinh thú y và vệ sinh an toàn thực phẩm của chủ cơ sở giết mổ, sử dụng thuốc trong bảo quản nông sản, thủy sản, chế biến và kinh doanh động vật, sản phẩm động vật.

354

Trong thực hiện các chính sách chăm sóc sức khỏe cho các đối tượng chính sách, vi phạm trong việc xác định chưa đúng các đối tượng được thụ hưởng chính sách, mức hưởng thụ như đối tượng nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật...

Trong thực hiện phòng chống dịch bệnh có nơi có lúc còn chủ quan, lơ là chưa chủ động trong phối hợp phòng chống dịch bệnh, đặc biệt dịch Covid-19 vi phạm trong chỉ đạo thực hiện mua sắm trang thiết bị y tế phục vụ phòng chống dịch; vi phạm các nguyên tắc phòng chống dịch, trong các khâu truy vết, khoanh vùng, dập dịch; vi phạm trong quản lý các nguồn kinh phí (từ NSNN và từ đóng góp của nhân dân) để phòng chống dịch.

355

CÂU HỎI THẢO LUẬN126

1. Phân tích vai trò của đại biểu HĐND trong giám sát hoạt động quản lý

nhà nước về văn hóa, giáo dục, y tế ở địa phương?

2. Phân tích những khó khăn trong việc giám sát quản lý nhà nước về văn

hóa, giáo dục, y tế ở địa phương (nơi đại biểu HĐND công tác)? Giải pháp nào để khắc phục khó khăn đó?

3. Làm rõ những hạn chế trong quản lý nhà nước về văn hóa, giáo dục, y tế

ở địa phương. Đại biểu HĐND cần làm gì để nâng cao hiệu quả quản lý các lĩnh vực đó ở địa phương? Liên hệ thực tế hoạt động của cá nhân đại biểu HĐND.

4. Các yêu cầu đối với đại biểu HĐND trong giám sát các hoạt động quản

lý nhà nước về văn hóa, giáo dục, y tế ở địa phương (nơi đại biểu HĐND công tác)?

5. Kinh nghiệm của cá nhân đại biểu HDND trong việc giám sát các hoạt

động quản lý nhà nước về văn hóa, giáo dục, y tế ở địa phương (nơi đại biểu HĐND công tác)?

126 Giảng viên có thể đưa ra những câu hỏi thảo luận/tình huống phù hợp với thực tế của địa phương, nhu cầu học viên và điều kiện lớp học.

356

TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO HỌC VIÊN7

1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản

Việt Nam.

2. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2019).

3. Luật Giáo dục năm 2019.

4. Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009.

5. Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

6. Nghị quyết về chương trình hoạt động giám sát của HĐND (nơi đại biểu

HĐND công tác).

127 Giảng viên cập nhật, giới thiệu thêm những tài liệu tham khảo khác cho học viên, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và khả năng tìm kiếm tài liệu của học viên.

357

Chuyên đề 14

KỸ NĂNG THU THẬP VÀ XỬ LÝ THÔNG TIN

TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

CẤP HUYỆN, CẤP XÃ

I. Thông tin, thu thập và xử lý thông tin trong hoạt động của Đại biểu

Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

1. Khái niệm, vai trò của thông tin trong hoạt động của Đại biểu Hội

đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

a. Khái niệm thông tin

Thông tin, thông thường được hiểu là tất cả các tin tức, sự việc, sự kiện,

hiện tượng, ý tưởng, phán đoán,... làm tăng thêm sự hiểu biết và phục vụ hoạt động của con người. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 xác định "Thông tin là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra"128. Tuy nhiên, trong xã hội, thông tin không chỉ do cơ quan nhà nước tạo ra mà do nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân tạo ra.

Thông tin góp phần quan trọng trong việc phân tích, dự báo giảm thiểu rủi

ro trong các quyết định quản lý và trong lĩnh vực hoạch định chính sách.

Thông tin có nhiều loại khác nhau: (1) Thông tin nguyên liệu (thông tin ban

đầu, thông tin gốc) có được do thu thập, khảo sát, điều tra, quan sát. Loại thông tin này thường gọi là dữ liệu (data), bao gồm các số liệu, sự kiện, hình ảnh được ghi lại trong quá trình thu thập, ở dạng thô, chưa được xử lý. (2) Thông tin đã qua xử lý, phân tích, tổng hợp, thể hiện dưới dạng biểu, bảng, mô hình, đưa lại những hiểu biết về bản chất của sự vật, hiện tượng. Loại thông tin này có giá trị cao hơn (value added information), thực sự là thông tin, theo đúng nghĩa của nó.

(3) Thông tin quản lý, là kết quả lao động của các nhà quản lý, các nhà khoa học thể hiện dưới dạng các sản phẩm như các quyết định, công trình, báo cáo. Đây là 128 Điều 2, khoản 1, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

358

dạng thông tin có giá trị cao nhất trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin của con người, xã hội, chúng trở thành tri thức (knowledge). Có thể nói, cả ba loại thông tin nêu trên đều hết sức cần thiết trong hoạt động của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã.

Để thực hiện nhiệm vụ của mình, đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã phải nắm bắt được một lượng thông tin lớn về nhiều vấn đề khác nhau. Các đại biểu phải phân tích, đánh giá được các sự kiện khác nhau để có thể đưa ra các quyết định. Thực tế cho thấy, chất lượng hoạt động chung của đại biểu HĐND phụ thuộc đáng kể vào chất lượng, khối lượng thông tin mà đại biểu tiếp nhận, xử lý.

Với hoạt động giám sát, đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã cũng cần thông

tin ở bất kỳ giai đoạn nào của quy trình giám sát. Ví dụ, trong việc xây dựng chương trình giám sát hàng năm, đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã cần phải

được tiếp cận với những thông tin mang tính phản ánh tình hình kinh tế - xã hội nói chung và những vấn đề bức xúc trong xã hội, kiến nghị của cử tri... để xác định những trọng tâm giám sát của HĐND cấp huyện, cấp xã. Trong quá trình thực hiện các hoạt động giám sát, nhu cầu thông tin càng trở nên cấp thiết hơn. hoạt động ở kỳ họp HĐND là thời điểm các đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã Đặc biệt, trong quá trình chất vấn, các đối tượng bị giám sát và xem xét báo cáo cần có được thông tin một cách tập trung và nhu cầu thông tin đa dạng nhất.

Như vậy, thông tin trong hoạt động của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã

là những tín hiệu được thu nhận, được hiểu và được đánh giá là có ích trong hoạt động của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã. Vì thế, chất lượng của thông tin và quá trình thông tin gắn liền với chất lượng và quá trình hoạt động của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã. Để có được những thông tin có chất lượng trong hoạt động thì đại biểu cần phải có kỹ năng thu thập và xử lý thông tin.

b. Vai trò của thông tin trong hoạt động của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp

Vai trò của thông tin thể hiện ở một số phương diện cơ bản sau:

- Giúp đại biểu nhận thức chính xác công việc cần tổ chức thực hiện;

359

- Cung cấp dữ liệu cho đại biểu xây dựng phương án thực hiện và phương

án dự phòng;

- Cung cấp dữ liệu để giải quyết công việc;

- Kiểm tra việc thực hiện công việc.

- Thông tin góp phần quan trọng trong việc phân tích, dự báo, phòng ngừa

và ngăn chặn rủi ro.

Trên cơ sở những thông tin thu thập được, đại biểu có thể phân tích, đánh

giá công việc ở nhiều góc độ để xác định tiềm năng, cơ hội, khả năng thực hiện, những nguy cơ tiềm ẩn, những rủi ro có khả năng phát sinh... trước khi đưa ra các quyết định của mình.

2. Khái niệm, đặc điểm của thu thập thông tin trong hoạt động của Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

a. Khái niệm thu thập thông tin

Thu thập thông tin là quá trình xác định nhu cầu thông tin, tìm nguồn thông

tin, thực hiện tập hợp thông tin theo những tiêu chí cụ thể nhằm đáp ứng mục tiêu đã được định trước.

b. Đặc điểm của thu thập thông tin trong hoạt động của đại biểu Hội đồng

nhân dân cấp huyện, cấp xã

- Thu thập thông tin là hoạt động có tính mục đích, quá trình thu thập thông

tin hướng đến trả lời các câu hỏi: Thông tin này thu thập để làm gì, phục vụ cho công việc gì, liên quan đến những khía cạnh nào của vấn đề?

- Thu thập thông tin có tính đa dạng về phương pháp, cách thức: Tuỳ theo

yêu cầu về thông tin, nguồn lực mà có thể áp dụng các phương pháp, cách thức thu thập thông tin cho phù hợp;

- Thu thập thông tin có thể tìm kiếm từ các nguồn, kênh thông tin khác

nhau. Mỗi kênh thông tin có những ưu điểm và nhược điểm riêng, phù hợp với mỗi loại thông tin cần thu thập. Việc lựa chọn nguồn thông tin thích hợp bảo đảm hiệu quả quá trình thu thập thông tin và chất lượng của thông tin;

- Thu thập thông tin là một quá trình liên tục, nhằm bổ sung, hoàn chỉnh

thông tin cần thiết;

360

- Thu thập thông tin chịu tác động của nhiều nhân tố về kỹ năng thu thập

thông tin, kỹ năng sử dụng các phương pháp, cách thức thu thập thông tin;

- Thu thập thông tin là một khâu trong quá trình thông tin: Thu thập thông

tin gắn với yếu tố đầu vào hoạt động của đại biểu HĐND. Thu thập thông tin không tách rời quá trình xử lý thông tin, nhằm đảm bảo thông tin cho hoạt động

của đại biểu.

Nhu cầu thông tin của đại biểu HĐND thông thường được xác định dựa

trên các yếu tố sau đây:

- Chương trình hoạt động, định hướng nội dung của mỗi kỳ họp, đặc biệt là

chương trình hoạt động, bàn thảo và quyết định các vấn đề về kinh tế - xã hội;

- Những vấn đề nổi cộm của đời sống xã hội thông qua phản ánh của báo

chí, dư luận công chúng, báo cáo hoạt động giám sát, tiếp xúc cử tri, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kết quả nghiên cứu khoa học...

Từ những yếu tố trên, có thể tổ chức các loại hình hoạt động sau đây nhằm

thu thập các thông tin cần thiết cho công tác nghiên cứu tham khảo của đại biểu:

- Tổ chức các cuộc tọa đàm trao đổi với các tổ chức nghiên cứu, với các

nhà quản lý, các chuyên gia trên địa bàn về những vấn đề có liên quan đến vấn đề kinh tế xã hội tại địa phương;

- Kết nối với các cơ quan chức năng thu thập các báo cáo bằng văn bản về

những vấn đề đại biểu quan tâm.

3. Khái niệm, đặc điểm của xử lý thông tin trong hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

a. Khái niệm xử lý thông tin

Xử lý thông tin là hoạt động sắp xếp, phân loại, chọn lọc, chỉnh lý, biên tập

thông tin, phân tích, đánh giá thông tin theo các nguyên tắc, yêu cầu, tiêu chí, và phương pháp nhất định, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp giải quyết công việc.

Thông qua việc kiểm tra tính chính xác, tính hợp lý của các tài liệu, số liệu;

hệ thống hóa, phân tích tổng hợp số liệu, tài liệu; chỉnh lý chính xác số liệu, tài liệu để thông tin phản ánh được tình hình, xác định đúng bản chất của các sự

361

việc, các hoạt động, từ đó đưa ra các giải pháp, phương án cho các quyết định dưới các hình thức kiến nghị, đề xuất sáng kiến giải quyết, ban hành các văn bản thích hợp. Đây là khâu then chốt, phản ánh nội dung trọng tâm hoặc kết quả cần đạt tới của quy trình thông tin, bởi lẽ kết quả của nó là tạo lập những thông tin mới phục vụ trực tiếp cho hoạt động của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã. Chính điều đó làm cho hoạt động xử lý thông tin khác biệt với hoạt động lưu trữ, mặc dù trong các hoạt động đều tiến hành công tác thu thập, xử lý, bảo quản và tổ chức sử dụng thông tin.

b. Đặc điểm của xử lý thông tin trong hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

- Kết quả của việc xử lý thông tin trong yêu cầu hiện nay là phải góp phần

tạo ra những quyết định đúng đắn và sự năng động trong hoạt động của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã; phải giúp cho đại biểu có sự sáng tạo, dự báo vấn đề nảy sinh và giải quyết các vấn đề;

- Việc xử lý thông tin còn có khả năng tạo ra những thông tin mới hoặc bổ sung những thông tin mà trước đó chưa được biết đến cho đại biểu;

- Chất lượng thông tin mà người xử lý cung cấp tới đối tượng tiếp nhận có

thể bị tác động bởi nhiều yếu tố như trình độ, sự nhạy bén trong phân tích, thái độ khách quan.

4. Vai trò của thu thập, xử lý thông tin trong hoạt động của Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

a. Đối với công tác lập kế hoạch và ra quyết định

Để có được kế hoạch và những quyết định đúng đắn, các đại biểu cần rất

nhiều thông tin. Nhờ có thông tin mà các đại biểu có thể giải quyết đúng đắn và hiệu quả các vấn đề sau:

- Nhận thức vấn đề cần phải lập kế hoạch và ra quyết định;

- Xác định cơ hội cũng như thách thức;

- Xác lập các cơ sở tiền đề khoa học cần thiết để xây dựng các mục tiêu;

- Lựa chọn các phương án để thực hiện.

b. Đối với công tác tổ chức các hoạt động

362

Trong quá trình thực hiện chức năng tổ chức hoạt động tiếp xúc cử tri, nhân

dân và các hoạt động khác, việc thu thập và xử lý thông tin có vai trò quan trọng ở các phương diện sau:

- Nhận thức các vấn đề liên quan tới việc thiết kế mô hình cơ cấu tổ

chức, phân công phân nhiệm và giao quyền;

- Cung cấp các dữ liệu cần thiết về nhân lực, vật lực và tài lực;

- Xây dựng các phương án để bố trí, sắp xếp, sử dụng nhân lực và phân bổ

các nguồn lực khác;

- Giải quyết các vấn đề liên quan tới công tác tổ chức.

Điều quan trọng nhất vẫn là mỗi đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã, khi được cử tri tín nhiệm, luôn có "cái tâm", thật sự hiểu rõ những nhu cầu, quyền và lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân thì mới có thể đầu tư công sức, trí tuệ, đi sâu, đi sát tìm hiểu ngọn ngành mọi vấn đề cũng như mạnh dạn phát biểu tại diễn đàn của HĐND. Có như vậy, đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã mới thật sự nêu cao vai trò đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân, xứng đáng với sự tin tưởng, gửi gắm của cử tri.

c. Đối với công tác giám sát

Khi thực hiện chức năng giám sát, thu thập và xử lý thông tin giúp các đại

biểu giải quyết đúng đắn và hiệu quả những nội dung sau:

- Mở rộng dân chủ trong hoạt động, phát huy được tiềm năng sáng tạo, tập

trung được trí tuệ của đảng viên, cán bộ, quần chúng;

- Có đầy đủ thông tin, mới xây dựng nghị quyết, chương trình hoạt động sát

thực tiễn, tổ chức thực hiện có hiệu quả.

II. Kỹ năng thu thập, xử lý thông tin trong hoạt động của Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

1. Kỹ năng thu thập thông tin

a. Xác định nguồn thu thập thông tin

Khi xác định nhu cầu bảo đảm thông tin, cần phải trả lời đầy đủ các câu

hỏi: Vấn đề đang giải quyết cần có những thông tin nào? Thông tin hiện còn thiếu những nội dung gì? Những thông tin quan trọng nhất để xử lý vấn đề?

363

Việc xác định nhu cầu thông tin của cá nhân cần được xác định gắn với nhu

cầu thông tin của HĐND cấp huyện, cấp xã, phục vụ việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ chung của HĐND cấp huyện, cấp xã, bảo đảm thông tin cần dựa trên các nguyên tắc cơ bản:

- Nguyên tắc liên hệ ngược: Việc xác định nhu cầu thông tin liên quan đến vấn đề, công việc cần giải quyết cần phải được tiếp cận đa chiều, bảo đảm các chiều cạnh của thông tin liên quan đến vấn đề, không phải là thông tin giản đơn, một chiều.

- Nguyên tắc đa dạng tương xứng: Việc xác định nhu cầu thông tin gắn với

bản chất của vấn đề đang xử lý. Một vấn đề phức tạp không thể giải quyết bằng các thông tin đơn giản mà cần phải bảo đảm các thông tin phù hợp, cần thiết, tương ứng với mức độ phức tạp của vấn đề.

- Nguyên tắc phân cấp bảo đảm thông tin: Nhu cầu thông tin ở mỗi cấp đối

với mỗi vấn đề hoặc cùng một vấn đề có sự khác nhau. Việc xác định nhu cầu thông tin cần gắn với vị trí, công việc được phân giao giải quyết. Xác định đúng nhu cầu thông tin đối với cấp độ của chủ thể sử dụng thông tin sẽ giúp định hướng xác định thu thập thông tin cần thiết, tránh việc ôm đồm, thu thập những thông tin ngoài lề, không liên quan trực tiếp đến vị trí, công việc cần giải quyết.

- Nguyên tắc hệ thống mở: Nhu cầu bảo đảm thông tin được tiếp cận theo

cách tiếp cận mở, khai thác nhiều nguồn thông tin, không bó hẹp ở một nguồn thông tin. Việc xác định nhu cầu thông tin theo nguyên tắc mở nhằm tạo ra nguồn thông tin đa dạng, đa chiều giúp tiếp cận vấn đề toàn diện hơn.

Trên cơ sở xác định nhu cầu thông tin, chủ thể thu thập thông tin cần xác

định rõ thông tin sẽ thu thập từ những nguồn nào? Nguồn thông tin trên thực tế có thể phân loại theo những cách tiếp cận khác nhau nhưng tổng thể có thể được chia thành hai nhóm: Nguồn thông tin thứ cấp và nguồn thông tin sơ cấp. Thông tin thứ cấp là nguồn thông tin sẵn có từ các chủ thể khác cung cấp. Thông tin sơ cấp là thông tin mới, được thu thập thông qua các phương pháp, kỹ thuật nhất định.

364

Thu thập thông tin sơ cấp
Thu thập thông tin thứ cấp
Ưu điểm
- Việc thu thập phù hợp với mục đích sử dụng;
Phương pháp thu thập thông tin
được kiểm soát và rõ ràng đối với chủ thể thu thập;
Giải đáp được vấn đề mà thông
tin thứ cấp không làm được.
Việc thu thập không tốn kém, thường có ở các xuất bản phẩm;
-Có thể thu thập nhanh chóng;
-Thông tin thứ cấp đa dạng, có thể so sánh thông tin và quan điểm về cùng một vấn đề.
Nhược
điểm
Đòi hỏi nhiều thời gian và chi
phí lớn;
Có thể có thông tin như thống kê không thu thập được;
Cách tiếp cận có tính chất hạn chế. Có loại không thể thu thập được loại thông tin sơ cấp này.
- Là thông tin phong phú, đa dạng ;
- Đáp ứng kịp thời cho quá trình thu thập và xử lý thông tin ;
- Chi phí tương đối rẻ;
- Là thông tin có sẵn nên chỉ đúng một phần hoặc không đúng so với thời điểm hiện tại.

b. Cách thức thu thập thông tin từ các nguồn thông tin

(i) Thu thập thông tin qua nguồn thứ cấp

- Nguồn thông tin thứ cấp như: Thông tin từ các hồ sơ tài liệu, văn bản;

thông tin từ sách báo, tạp chí, đài phát thanh, truyền hình, internet và các phương tiện thông tin đại chúng khác;

- Kỹ thuật thu thập thông tin thứ cấp

Xác định thông tin cần thu thập

Xác định nguồn, kênh thông tin thứ cấp

Thu thập thông tin tổng quan và quá khứ

Thu thập thông tin cập nhật và cụ thể hơn

Thu thập thông tin chuyên sâu

Tập hợp và đánh giá kết quả thu thập

365

- Một số lưu ý:

+ Thu thập thông tin tổng quan và quá khứ: Sử dụng sách là cần thiết;

+ Thu thập thông tin cập nhật và cụ thể hơn: Sử dụng các ấn phẩm xuất bản

định kỳ;

+ Thu thập thông tin chuyên sâu: Sử dụng các báo cáo nghiên cứu, tài liệu hội thảo, các tài liệu và các bản đồ;

+ Tập hợp và đánh giá kết quả thu thập thông tin: Đánh giá xem thông tin

vừa thu thập được có thật sự liên quan và hữu ích hay không bằng cách đặt câu hỏi như thông tin này có đúng với mục tiêu đề ra không? Thông tin thu thập đã bao trùm hết các khía cạnh của chủ đề cần quan tâm? Thông tin có dễ hiểu?

(ii) Thu thập qua nguồn sơ cấp

- Phương pháp quan sát:

+ Quan sát là một trong những phương pháp cụ thể về việc thu thập thông

tin cá biệt về một đối tượng nhất định. Quan sát để thu thập thông tin khác với quan sát thông thường ở chỗ hoạt động quan sát này có tính mục đích, được ghi lại, có kiểm tra tính ổn định và tính hiệu lực của kết quả thu nhận được.

+ Phân loại quan sát:

Tiêu chí
phân loại
Các loại quan sát
Mô tả
Theo vị trí
người quan sát
Quan sát tham dự
Người quan sát trực tiếp tham dự vào các hoạt động cùng với những đối tượng được quan sát
Theo vị trí
người quan sát
Quan sát không
tham dự
Người quan sát không tham dự vào các hoạt động cùng với những đối tượngt được quan sát
Theo cách
thức quan sát
Quan sát công khai
Đối tượng được quan sát biết rõ mình đang bị quan sát
Theo cách
thức quan sát
Quan sát bí mật
Đối tượng được quan sát không biết mình đang bị quan sát

366

+ Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp quan sát

Ưu điểm
- Quan sát là con đường ngắn nhất tiếp cận trực tiếp hiện thực; - Quan sát đem lại hình ảnh cụ thể, xác thực, sinh động;
- Thông tin từ quan sát đem lại dấu hiệu cần thiết để tiến tới thẩm định bản chất của sự kiện.
Nhược điểm
Ưu điểm
- Quan sát là con đường ngắn nhất tiếp cận trực tiếp hiện thực; - Quan sát đem lại hình ảnh cụ thể, xác thực, sinh động;
- Thông tin từ quan sát đem lại dấu hiệu cần thiết để tiến tới thẩm định bản chất của sự kiện.
- Hoạt động quan sát chịu ảnh hưởngcủat các yếu tố chủ quan. Hiện thực cuộc sống c qua quan sát thường gắn với sự nhìn nhận, xem xét và trạng thái tâm lí của bản thân người quan sát;
Ưu điểm
- Quan sát là con đường ngắn nhất tiếp cận trực tiếp hiện thực; - Quan sát đem lại hình ảnh cụ thể, xác thực, sinh động;
- Thông tin từ quan sát đem lại dấu hiệu cần thiết để tiến tới thẩm định bản chất của sự kiện.
- Hoạt động quan sát bị giới hạn bởi thời gian, không gian;
- Quan sát có khi chỉ thấy được biểu hiện t bên ngoài chưa chắc đã đúng với bản chất của sự việc;
- Thông tin quan sát có thể mang tính rời rạc, thiếu tính hệ thống.

+ Các bước quan sát:

B1. Xác định sơ bộ khách thể quan sát

B2. Xác định thời gian và địa điểm quan sát

B3. Lựa chọn thời gian quan sát

B4. Xác định tiến trình quan sát

B5. Thực hiện ghi chép thông tin từ quan sát

B6. Kiểm tra lại việc quan sát

367

- Phỏng vấn:

+ Phỏng vấn là cuộc gặp gỡ, trao đổi, hỏi chuyện giữa người phỏng vấn với

một hoặc một nhóm đối tượng nhằm thu thập, khai thác thông tin phục vụ công việc cụ thể.

+ Ưu điểm của phỏng vấn: tái hiện được sự kiện xảy ra qua lời kể của các nhân chứng; khách quan hoá thông tin; tạo giá trị, mức độ tin cậy cao cho thông tin; khám phá thế giới nội tâm của nhân vật; tạo ra sự độc quyền về thông tin.

+ Quy trình, phương pháp thực hiện một cuộc phỏng vấn

B1. Giai đoạn chuẩn bị

B2. Giai đoạn nhập cuộc

B3. Giai đoạn triển khai các câu hỏi chủ chốt

B4. Giai đoạn kết thúc cuộc phỏng vấn

B5. Các phương tiện hỗ trợ phỏng vấn

- Thảo luận nhóm

Thảo luận nhóm là quá trình thu nạp thông tin và các ý tưởng hiệu quả

nhất. Mỗi thành viên trong quá trình thảo luận tham gia đóng góp ý kiến cũng

tức là cung cấp thông tin liên quan đến các vấn đề cần giải quyết. Các thông tin được chia sẻ sẽ làm được bổ sung và làm phong phú nguồn tư liệu cần thiết phục vụ cho nội dung vấn đề nhóm cần giải quyết. Cũng chính trong quá trình thảo luận nhóm, các ý tưởng khác nhau sẽ được đề xuất, tạo nên sự đa dạng trong việc kiếm tìm các giải pháp cho vấn đề cần giải quyết. Nhờ đó nhóm có cơ hội lựa chọn nhiều hơn cho những quyết định cuối cùng. Thảo luận nhóm thường tập trung gồm từ 6 - 12 người tập hợp lại với nhau để trình bày những quan điểm của họ về một vấn đề cần thảo luận, nghiên cứu.

- Thu thập thông tin bằng bảng hỏi định lượng

368

+ Là phương pháp thông tin dùng một hệ thống câu hỏi được chuẩn bị sẵn trên giấy theo những nội dung xác định. Người được hỏi có thể trả lời câu hỏi theo hình thức trực tiếp viết câu trả lời vào phiếu thu thập thông tin hoặc câu trả lời được người hỏi ghi lại trên phiếu thu thập thông tin;

+ Hiệu quả của phương pháp thu thập thông tin này phụ thuộc rất lớn vào

việc thiết kế một bảng hỏi chuẩn có khả năng đem lại cho người thu thập những thông tin đầy đủ, chính xác về đối tượng. Mặt khác, một bảng hỏi được thiết kế chuẩn sẽ giúp cho việc tổng hợp, thống kê, xử lý các thông tin thu thập được dễ dàng, thuận lợi;

+ Có 3 loại bảng hỏi: bảng hỏi đóng, bảng hỏi mở và bảng hỏi kết hợp 2

hình thức đóng và mở. Bảng hỏi đóng cố định các phương án trả lời, bảng hỏi mở chỉ nêu câu hỏi mà không nêu phương án trả lời. Bảng hỏi kết hợp sẽ có một số câu hỏi có phương án trả lời cố định và một số câu chỉ nêu câu hỏi mà không có phương án trả lời.

+ Các giai đoạn tiến hành điều tra bằng bảng hỏi:

B1. Làm quen với khách thể

B2. Xác định rõ nội dung, trình tự câu hỏi

B3. Soạn thử hệ thống câu hỏi

B4. Điều tra thử ở một số khách thể

B5. Điều chỉnh hệ thống câu hỏi

B6. Xây dựng phiếu điều tra với hệ thống câu hỏi chính thức

B7. Tiến hành điều tra chính thức

Để tiết kiệm chi phí, có thể thu thập thông tin bằng bảng hỏi định lượng

trực tuyến, qua các phần mềm miễn phí dưới dạng điện toán đám mây như Google biểu mẫu được lưu trữ trên Google drive.

369

- Thu thập thông tin miệng (qua các ý kiến đóng góp và phản ánh từ các cuộc họp, qua điện thoại và trao đổi trực tiếp).

Thông tin từ các ý kiến đóng góp, từ các cuộc họp, qua điện thoại và trao

đổi trực tiếp là một nguồn thông tin quan trọng. Đối với các thông tin này, cần chú ý ghi chép lại, khai thác qua các kết luận các cuộc họp. Cần lưu ý, thông tin đóng góp có thể chỉ là thông tin một chiều, mang tính chủ quan nên cần tập hợp

và đối chiếu thông tin với các nguồn thông tin khác.

Thông tin từ các cuộc họp cần thu thập thông tin đã được chính thức hoá trong văn bản làm cơ sở cho việc khai thác và sử dụng.

c. Một số lưu ý về thu thập thông tin

Đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã nên:

- Tiếp nhận và quản lý các văn bản đến, đi một cách khoa học như văn bản

từ cấp trên gửi xuống, cấp dưới gửi lên, công dân gửi đến hàng ngày, cần phải được cập nhật vào sổ theo dõi đầy đủ và sắp xếp theo một thứ tự nhất định để dễ tra cứu;

- Lập hồ sơ công việc một cách đầy đủ và khoa học; tổ chức sắp xếp tài liệu

khoa học, thuận lợi cho việc tra cứu cung cấp thông tin được nhanh chóng, chính xác, bí mật.

- Thường xuyên sưu tập, cập nhật đường lối, chủ trương của Đảng, chính

sách, pháp luật của nhà nước;

- Thường xuyên cập nhật tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương;

- Chọn lọc đặt mua báo, tạp chí có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của

cơ quan, tổ chức;

- Tổng hợp các tin, bài theo từng vấn đề;

- Ghi chép, sao chụp, tổng hợp các tài liệu, thông tin có liên quan...

2. Kỹ năng xử lý thông tin

a. Nguyên tắc xử lý thông tin

- Thống nhất hài hòa, bổ sung, hoàn thiện ba loại thông tin (thông tin thuận

và ngược chiều, thông tin khách quan, thông tin chức năng), ba nguồn thông tin

370

(được cơ quan, tổ chức có trách nhiệm cung cấp; thu thập từ tiếp xúc và khảo sát thực tế; thu thập được từ truyền thông đại chúng và mạng toàn cầu).

- Thận trọng khi tham khảo, sử dụng với thông tin dự báo, thông tin từ nước ngoài, thông tin có sai biệt với thông tin chính thức;

- Loại bỏ các yếu tố bình luận lẫn trong thông tin, các dư luận xã hội chưa kiểm chứng.

Quá trình xử lý thông tin phải nắm được hạt nhân của thông tin. Thông tin

trong không ít trường hợp được đưa cùng với những yếu tố bình luận, dư luận xã hội, những nhận xét của người đưa tin. Vì vậy, để xử lý thông tin hiệu quả cần loại bỏ những yếu tố bình luận, nhận xét, yếu tố mang tính dư luận xã hội để xác định đúng nội dung cốt lõi, yếu tố khác quan trong thông tin được cung cấp.

b. Kỹ năng xử lý thông tin tức thời

Trong giao tiếp với cấp trên, các cơ quan chức năng hoặc với cử tri, đại

biểu phải xử lý nhiều thông tin thu nhận được. Trong một số trường hợp, trước những thông tin vừa thu thập được, đại biểu phải đưa ra những câu trả lời, những quyết định và biện pháp giải quyết cụ thể, ngay tại thời điểm tiếp nhận thông tin mà không có thời gian để nghiên cứu, xử lý. Đối với trường hợp này, việc xử lý thông tin cần phải được thực hiện chủ động, tích cực để có thể đưa ra quyết định đúng đắn.

Thứ nhất, nhanh chóng xác định thông tin đã thu nhận được để phân loại,

sắp xếp thông tin. Thông tin này có thể từ đối tượng liên quan cung cấp thông qua phát biểu, trao đổi trực tiếp, thông qua thái độ của người trong cuộc. Từ đó, xác định những thông tin có ý nghĩa mấu chốt đối với sự việc.

Thứ hai, kết hợp những thông tin vừa thu nhận được với những thông tin đã

có đó từ các nguồn khác nhau để có cơ sở giải quyết vấn đề. So sánh, đối chiếu với thông tin đã có xem tính phù hợp, mâu thuẫn tìm ra cơ sở để giải quyết công việc.

Thứ ba, xác định đối tượng tiếp nhận câu trả lời, quyết định, biện pháp giải

quyết là cấp trên, cấp dưới, đồng nghiệp, dân cư... để đưa ra các phương án giải quyết phù hợp, hiệu quả.

371

Thứ tư, bổ sung những thông tin cần thiết thông qua việc tiếp tục đối thoại, trao đổi nếu thông tin thu nhận và thông tin đã biết chưa đủ cơ sở để giải quyết.

Thứ năm, đưa ra cách giải quyết, câu trả lời, quyết định cho trường hợp, tình huống cần giải quyết.

c. Kỹ năng xử lý thông tin theo quy trình

Các bước xử lý thông tin theo quy trình

B1. Tổng hợp và hệ thống hóa thông tin theo từng vấn đề, lĩnh vực

B2. Kiểm tra độ tin cậy, tổng hợp thông tin

B3. Cung cấp, phổ biến thông tin

B4. Bảo quản, lưu trữ thông tin

Trong đó:

- Bước 1. Tập hợp và hệ thống hoá thông tin theo từng vấn đề, lĩnh vực

+ Tóm tắt thông tin và phân loại thông tin theo các nhóm như thông tin kinh tế, thông tin chính trị- xã hội, thông tin quá khứ, hiện tại, thông tin dự báo;

+ Tóm tắt những thông tin cơ bản, những thông tin mới, thông tin có điểm khác biệt với những thông tin trước.

- Bước 2. Kiểm tra độ tin cậy, phân tích, tổng hợp thông tin

+ Xác định độ tin cậy của các nguồn tin;

+ Lý giải được sự mâu thuẫn giữa các thông tin (nếu có);

+ Chọn ra những thông tin đầy đủ hơn, có độ tin cậy cao hơn, chỉnh lý

chính xác tài liệu, số liệu.

- Bước 3. Cung cấp, phổ biến thông tin

Thông tin đã được xử lý cần phải phổ biến được kịp thời truyền đạt đến các

đối tượng cần tiếp nhận thông tin. Ở bước này, cần lựa chọn hình thức và kênh

truyền đạt thông tin phù hợp. Có những thông tin phải sao chép bằng bản photocopy để phát bằng văn bản cho các đối tượng tiếp nhận; có thông tin cần

372

sử dụng các phương tiện truyền thông để cung cấp; có thông tin truyền đạt tại hội nghị, các cuộc họp bằng miệng hoặc bằng văn bản. Cần nghiên cứu kỹ các hình thức cung cấp, phổ biến thông tin để lựa chọn hình thức và kênh thông tin sao cho phù hợp và hiệu quả.

Muốn cung cấp thông tin được tốt, đại biểu HĐND có thể:

+ Tìm hiểu chính xác yêu cầu về thông tin cần cung cấp: yêu cầu thông tin

về vấn đề gì; phạm vi thông tin; thời gian cung cấp thông tin; hình thức cung cấp thông tin (báo cáo trực tiếp hoặc bằng văn bản);

+ Xác định các thông tin cần cung cấp: thông thường khi cung cấp thông

tin, cần xác định thông tin chính, thông tin có tác dụng bổ trợ, giải thích, thuyết phục, chứng minh... cho thông tin chính, những thông tin mang tính chất tham mưu, tư vấn.

- Bước 4. Bảo quản, lưu trữ thông tin

Việc bảo quản và lưu trữ thông nhằm đảm bảo cho tài liệu thông tin không

bị hư hỏng và phục vụ cho công tác hàng ngày và lâu dài. Việc bảo quản, lưu trữ thông tin cần được bảo đảm về cơ sở vật chất, những thiết bị hiện đại.

Thông thường có các hình thức lưu trữ thông tin chính cần sử dụng: Lưu

trữ bằng văn bản vào các cặp hồ sơ lưu trữ thông tin; lưu trữ ở máy tính (đối với các dữ liệu có phần mềm số hoá), lưu trữ trên dịch vụ điện toán đám mây nhằm đảm bảo an toàn thông tin, truy xuất mọi lúc mọi nơi.

Đối với đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã nên biết sử dụng các hình thức

lưu trữ này trong giai đoạn hiện nay, khi xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới chính phủ số và chuyển đổi số mạnh mẽ. Các tài liệu lưu trữ hoặc các thư mục, tệp dữ liệu trong máy tính cần phải được tổ chức khoa học, tỉ mỷ, dễ tra cứu.

Các thông tin bí mật phải tuân thủ chế độ bảo mật trong lưu trữ, tra cứu, sao chép.

III. Ứng dụng công nghệ thông tin trong thu thập và xử lý thông tin

trong hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

1. Ứng dụng công nghệ thông tin trong thu thập thông tin

a. Tìm kiếm, tra cứu thông tin trực tuyến

373

Tìm kiếm, tra cứu thông tin trên mạng máy tính còn gọi là tìm kiếm thông tin trực tuyến (online).

Thông tin trên mạng do các tổ chức, cơ quan cung cấp dịch vụ thông tin,

cung cấp từ các cơ sở dữ liệu được đặt trong các máy chủ kết nối với Internet.

Thông qua máy tính cá nhân hay thiết bị di động thông minh có kết nối với

Internet, đại biểu có thể truy cập vào các nguồn thông tin từ các tổ chức khác nhau (như cổng thông tin của các cơ quan nhà nước, cổng dịch vụ công của các

bộ, ngành, địa phương và Cổng dịch vụ công quốc gia, cổng dữ liệu mở quốc gia, nhà xuất bản, thư viện, kho lưu trữ, các trường đại học...) trên khắp thế giới để thỏa mãn nhu cầu thông tin.

Nguyên tắc chung trong tìm tin:

- Khi khai thác thông tin trên Internet để tăng tốc độ tìm kiếm, có thể xem

đồng thời một số Website. Chẳng hạn, khi người dùng đang mở một cửa sổ (Website) để tải về một tài liệu cần dùng, có thể mở thêm cửa sổ mới (bằng lệnh Ctrl+N) để truy cập các địa chỉ khác tức là cùng lúc khai thác đa nhiệm.

- Mở các Website có chứa các Search Engine (máy tìm kiếm, trạm tìm kiếm, công cụ tìm kiếm) để tìm kiếm thông tin.

Ví dụ: như truy cập: https://www.google.com.

Có hai cách tìm kiếm thông tin trực tuyến: tìm tên trên thư mục chủ đề và tìm tin trên các máy tìm kiếm.

Cách 1: Tìm trên các thư mục chủ đề là tìm tin theo hệ thống phân loại như

mục chủ đề: nhấp chuột trên hạng mục chủ đề mong muốn cần tìm.

Cách 2: Tìm tin theo từ khóa trên các máy tìm kiếm Search Engine nói

chung và tìm trên Google. Tìm tin theo từ khóa có hai cách: tìm tin thông thường và tìm tin nâng cao (Advanced Search).

- Tìm kiếm thông tin bao gồm các bước sau:

+ Bước 1: Phân tích yêu cầu

+ Bước 2: Diễn đạt lệnh tìm kiếm - cú pháp lệnh

+ Bước 3: Phân nhóm yêu cầu thông tin

+ Bước 4: Chọn công cụ tìm kiếm phù hợp

374

+ Bước 5: Nếu bước đầu chưa thành công - hãy thử lại

+ Bước 6: Đánh giá kết quả tìm

- Bước 1: Phân tích yêu cầu

Trả lời các câu hỏi:

+ Thông tin liên quan đến vấn đề gì?

+ Thông tin lấy từ đâu?

Từ đó, sẽ lựa chọn ra các từ khóa đại diện cho nội dung cần tìm, ví dụ:

+ Hoạt động của đại biểu HĐND;

+ Thông tin hoạt động của đại biểu HĐND ở Việt Nam;

+ Thông tin hoạt động của đại biểu HĐND ở Việt Nam theo thời gian (cụ

thể: hoạt động của đại biểu HĐND ở Việt Nam năm 2020).

- Bước 2: Diễn đạt lệnh tìm kiếm - cú pháp lệnh

Diễn đạt lệnh tìm kiếm thông tin cần ngắn gọn, đúng cụm từ, đúng cú pháp

lệnh để tìm được nội dung cần thiết nhanh nhất.

Ví dụ: Muốn tìm thông tin hoạt động của Đại biểu HĐND năm 2020

- Bước 3: Phân nhóm yêu cầu thông tin

Yêu cầu tìm:

+ Gồm các từ, cụm từ dễ hiểu như "Tiếp xúc cử tri"; "trả lời chất vấn của

đại biểu"..

+ Tìm kiếm thông tin theo một chủ đề hẹp như: Các dự báo về giao thông

nông thôn ở Việt Nam;

+ Tìm thông tin khái quát về một chủ đề như: Quyền sở hữu trí tuệ.

- Bước 4: Chọn công cụ tìm kiếm phù hợp

+ Chọn công cụ tìm kiếm phù hợp với thông tin mà bạn cần;

+ Xem xét cách thức là việc của từng công cụ tìm và diễn đạt lại lệnh tìm

để có thể khai thác tối đa các chức năng của công cụ tìm đó;

+ Cố gắng thực hiện việc tìm kiếm trên nhiều phương tiện tìm kiếm khác

nhau;

+ Xem các kết quả tìm và sử dụng các thuật ngữ được sử dụng trong các

văn bản tìm được để tìm kiếm lại.

375

Ví dụ: Để các cụm từ trong ngoặc kép hoặc sử dụng các lệnh tìm AND,

OR, NOT..

- Bước 5: Nếu bước đầu chưa thành công - hãy thử lại

Nếu lần đầu tìm tài liệu mà chưa đạt kết quả như mong muốn, thì ta tìm lại

bằng các cụm từ gần nghĩa.

Ví dụ: "Cải cách hành chính", " Đổi mới thủ tục",.

- Bước 6: Đánh giá kết quả tìm

Khi tìm được thông tin, chú ý tên miền địa chỉ liên kết để xác định độ tin

cậy của thông tin.

- Sử dụng dấu nháy kép để tìm kiếm chính xác đúng cụm từ:

+ Cú pháp: "nội dung cần tìm";

+ Ví dụ: "Thủ tục hành chính, "Cải cách hành chính"...

- Sử dụng dấu nháy kép để tìm kiếm chính xác đúng cụm từ

+ Cú pháp: "nội dung cần tìm;

+ Ví dụ: "Thủ tục hành chính', "Cải cách hành chính'.

C "Thủ tục hành chính" 0

Web Hình ảnh Video Thêm▼ Các công cụ tìm kiếm

Khoảng 4.130.000 kết quả (0,24 giây)

Cục kiểm soát Thủ tục Hành chính

thutuchanhchinh.vn/ ▼

"Phải kiên quyết loại bỏ các thủ tục không cần thiết, tăng cường kỷ luật kỹ cương,

trách nhiệm của cán bộ công chức trong thực thi công vụ và xử lý nghiêm các ...

Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC - Văn bản - Tin tức - Giới thiệu

Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC - Cục kiểm soát Thủ tục Hành chính

csdl.thutuchanhchinh.vn/ ▼

Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC.

TTIn

- Sử dụng toán tử cộng:

+ Cú pháp: "nội dung cần tìm +"nội dung cần tìm

376

+ Ví dụ: "Tai nạn giao thông" +2013

nạn giao thông"+2013 - Tim với Google

Tìm kiếm Hình ảnh Tin tức Gmail Drive Lịch Dịch Thêm

)ogle "Tai nạn giao thông"+2013 Q

Web Hình ảnh Video Thêm▼ Các công cụ tìm kiếm

Khoảng 4.190.000 kết quả (0,26 giây)

tai nạn giao thông - Hình ảnh kinh hoàng vụ tai nạn xe tải đối đầu xe ...

kenh14.vn/tai-nan-giao-thong.html

06/09/2013 22:09:39. Hà Nội: Xe khách lao xuống ao, hàng chục hành khách hoàng

loạn. Vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng trên xảy ra vào khoảng 16h 30 ...

Tai nan giao thong 24H > Những vụ TAI NẠN GIAO THÔNG thảm khốc

www.24h.com.vn/tai-nan-giao-thong-c408.html

Tai nan giao thong 24H| Cập nhật tin tức nóng nhất về các vụ tai nạn giao thông chết

người thương tâm. Tin nhanh, hình ảnh, video clip HOT nhất tại ...

- Sử dụng và toán tử trừ:

+ Cú pháp: "nội dung cần tìm -nội dung cần tìm";

+ Ví dụ: "Tai nạn giao thông" -2013

Hình ảnh Tin tức Gmail Drive Lịch Dịch Thêm

"Tai nạn giao thông"-2013 ■ Q

Web Hình ảnh Video Thêm▼ Các công cụ tìm kiếm

Khoảng 2.250.000 kết quả (0,22 giây)

tai nạn giao thông|Tinhte.vn - Cộng đồng Khoa học & Công nghệ

www.tinhte.vn > Diễn đàn> Tag

Trang chủ Diễn đàn> Tag>. tai nạn giao thông. Thông tin, hình ảnh, video về tai nạn

giao thông cuLong. Chủ đề. Vì sao vỏ ngoài xe hơi dễ hư hỏng dù chỉ gặp ...

[Infographic] Tai nạn giao thông - những con số đáng báo động ...

www.tinhte.vn > Diễn đàn> Xe > Giao thông & PTVC khác

- Tìm theo định dạng File (dạng dữ liệu theo phần mở rộng của file)

+ Cú pháp: filetype: [định dạng File] [nội dung cần tìm];

+ Một số định dạng file thông dụng: .DOC .XLS. PPT. FLV. PDF. WMA.

WMV.MP3.

+ Ví dụ cụ thể: nếu ta muốn tìm tài liệu Powerpoint Presentation về chủ đề

Internet Marketing, chúng ta sẽ gõ từ khóa:

377

filetype:ppt Internet Marketing

3e:ppt Internet Marketing - Tìm với Google

Tìm kiếm Hình ảnh Tin tức Gmail Drive Lịch Dịch Thêm v

ogle filetype:ppt Internet Marketing 0

Web Hình ảnh Video Blog Thêm▼ Các công cụ tìm kiếm

Khoảng 34.800 kết quả (0,17 giây)

Mẹo: Tìm kiếm chỉ kết quả tiếng Việt. Bạn có thể chỉ định ngôn ngữ tìm kiếm của mình

trong Tùy chọn

IPPT Chapter 8, Internet Marketing

berkeley.name/eBusiness/ebecm08.ppt - Dịch trang này

□ 2001 Prentice Hall, Inc. All rights reserved. Chapter 8, Internet Marketing. Outline

8.1 Introduction 8.2 Branding 8.3 Internet Marketing Research 8.4 E-mail ...

PPη Measuring Internet Marketing Effectiveness

banhbeo.files.wordpress.com/2010/11/week12.ppt ▼ Dịch trang này

Measuring Internet Marketing Effectiveness. Week 12. Objectives. The maintenance

Process; Measuring internet marketing effectiveness; Measuring the flow ...

rPPT Internet Marketing Stratedv

- Tìm kiếm theo Site (Tên miền):

+ Cú pháp: Site:Tên miền "nội dung cần tìm"

+ Ví dụ: Site:.gov.vn "cải cách hành chính

G Site:.gov.vn "cải cách hành chính

c 0 google.com/sear ính"&oq=Site%3A.gov.vn+"cải+cách+hành+chính"&aqs=chrome..69i5... 0 ☆

Ứng dụng Tài liệu họ họp Ủy TO chia sẻ áp lực.. TRUNG TAM BOI D... LP Bắt đầu Sáng kiến.. Bài 1 - Dữ liệu mở I... Cơ bản về dữ liệu

Google Site:.gov.vn "cải cách hành chính" × 囲 Q

Q Tất cả Ⓛ Hìnha nanh Tin tức ⦿ Cài đặt Công cụ

Khoảng 5.700.000

https://moha.gov.vn dan

Công bố chỉ số cải cách hành chính (Par Index) - Bộ Nội vụ

Báo cáo Chỉ số cải cách hành chính - PAR INDEX 2018 (27/05/2019) ... định Chỉ số cải cách

,... Liên kết website, hành chính của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh,

Quốc hội Việt Nam ... Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ

Nội vụ (www.moha.gov.vn) khi trích dẫn lại

Bị thiếu: Site: | Phải bao gồm: Site:

Bạn đã truy cập trang này 2 lần. Lần truy cập cuối: 25/10/2020

http://thainguyen.gov.vn> cai-cach-hanh-chinh

Cải cách hành chính và PCI - Cổng thông tin điện tử tỉnh Thái ..

Thái Nguyên: Xếp hạng Chỉ số cải cách hành chính năm 2020 tăng 2 bậc so với năm ... Thành

lập Đoàn kiểm tra, Tổ kiểm tra đột xuất về công tác cải c h Ghi rõ nguồn

"thainguyen.gov.vn" khi phát hành thông tin từ website này.

http://thanhtra.dakIak.gov.vn>BaiViet>Edit ▼

Cải cách thủ tục hành chính và cơ chế "một cửa", "một cửa ..

Cải cách hành chính ở Việt Nam được triển khai trên nhiều nội dung: cải cách thể chế, cải

378

b. Sử dụng công cụ Google Drive trong thu thập thông tin

Có thể sử dụng công cụ Google biểu mẫu để tạo biểu mẫu, sau đó có

thể gửi biểu mẫu để thu thập thông tin từ những người nhận được biểu mẫu gửi qua Email cá nhân hoặc công cộng.

Ví dụ: Để sử dụng Google biểu mẫu khảo sát (thu thập) ý kiến của học

viên về các vấn đề liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng cần đăng nhập vào tài khoản google drive, và google biểu mẫu, nhập các câu hỏi khảo sát:

PHIẾU PHẢN HỒI CỦA HỌC VIÊN

I. Công tác chuẩn bị giảng dạy, nội dung, phương pháp giảng

dạy và tác phong sư phạm của giảng viên

Câu 1. Nêu rõ mục tiêu, vị trí, yêu cầu và nội dung trọng tâm của

chuyên đề

Tốt

Bình thường

Không tốt

Mục khác:

Câu 2. Các kiến thức của chuyên đề được trình bày rõ ràng, lô

gich, có sự dẫn dắt hợp lý giữa các vấn đề khác nhau

Tốt

Bình thường

Không tốt

Gửi biểu mẫu, có thể gửi qua Email, Facebook, mạng xã hội,

379

Gửi biểu mẫu

Tự động thu thập địa chỉ email HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA của người trả lời

Gửi qua S < 1

Email

Tới

Chủ đề

PHIẾU PHẢN HỒI CỦA HỌC VIÊN

Tin nhắn

Tôi đã mời bạn điền vào biểu mẫu:

Đính kèm biểu mẫu trong email

Thêm công tác viên HỦY GỬT

Người được gửi biểu mẫu sẽ nhận được biểu mẫu và nhấn điền biểu mẫu để

trả lời các câu hỏi trong biểu mẫu và gửi lại cho người khảo sát.

Hình ảnh không được hiển thị. Hiển thị hình ảnh dưới đây

Joogle Biểu mẫu

Tôi đã mời bạn điền vào biểu mẫu:

PHIẾU PHẢN HỒI CỦA HỌC VIÊN

ĐIỀN BIỂU MẪU

Tạo Biểu mẫu Google của riêng bạn

Trả lời 号 Chuyển tiếp

Google sẽ tự động thống kê, tổng hợp các thông tin người được khảo sát gửi lại như phân mềm thống kê SPSS.

380

2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lý thông tin

Kết quả thu thập thông tin từ nghiên cứu tài liệu, số liệu thống kế, phỏng

vấn, khảo sát tồn tại dưới hai dạng:

- Thông tin định tính;

- Thông tin định lượng.

Để nâng cao hiệu quả xử lý thông tin, việc ứng dụng công nghệ thông tin

vào quá trình này ngày càng phổ biến.

a. Xử lý thông tin định tính

- Đọc tư liệu thu thập

Để phân tích thông tin định tính có hiệu quả phải nhập vào dữ kiện đã thu

thập bằng cách đọc đi, đọc lại. Trước hết phải đọc để xem nội dung có phù hợp với ý định đã đưa ra, thông tin có đầy đủ, chi tiết hay không, người phỏng vấn có sử dụng các kỹ thuật định tính một cách thích hợp?

Hình ảnh không được hiển thị. Hiển thị hình ảnh dưới đây

Google Biểu mẫu

Tôi đã mời bạn điền vào biểu mẫu:

PHIẾU PHẢN HỒI CỦA HỌC VIÊN

ĐIỀN BIỂU MẪU

Tạo Biểu mẫu Google của riêng ban

ナ Trả lời Chuyển tiếp

381

- Các bước cơ bản trong xử lý thông tin định tính:

Đọc, nghiền ngẫm thông tin
Mã hóa
thông tin

Lý giải

Cô đọng
thông tin
Trình bày
thông tin

+ Đọc kỹ tư liệu thu thập để xác định được những chủ đề nổi bật và phát

triển những giải thích tạm thời. Phải xem những chủ đề nào bị bỏ sót và những

chủ đề nào mới xuất hiện. Ghi những nhận định, những "ghi nhớ ngay vào tư

liệu đang đọc.

Phải chú ý chất lượng của thông tin thu thập bằng cách xem lại các phương

pháp, kỹ thuật thu thập thông tin của những người cộng tác có phù hợp không.

+ Mã hoá dữ kiện, lập bản chỉ dẫn các dữ kiện:

Khi xử lý thông tin cần sắp xếp các dữ kiện, đọc các dữ kiện, bước tiếp

theo là mã hoá, làm bản chỉ dẫn về các dữ kiện theo những đề mục, phạm trù

nhất định. Đây là cách tổ chức và phân loại các dữ kiện để sau này có thể so

sánh các trường hợp, tìm ra các khuôn mẫu chung lý giải các vấn đề.

Có nhiều hình thức mã hoá thông tin khác nhau: mã hoá mở, mã theo trục,

mã chọn lọc. Do đó nếu có nhiều người cùng xử lý thông tin thì phải thảo luận

đi đến những kết luận chung về việc mã hoá.

Hiện nay, có những phần mềm có chức năng sắp xếp, phân loại các dữ kiện

định tính - như phần mềm Aquad, Hyperresearch, Nudist, Nvivo (Úc),

Ethnograth, Qualpro, Meca... Nhưng việc phân ra các đề mục, mã hoá vẫn là

công việc của người xử lý thông tin. Máy tính chỉ giúp lọc ra các sự kiện, sắp

382

xếp sự kiện còn việc dựa trên các sự kiện này để lý luận vẫn là công việc của người xử lý thông tin.

Khi mã hoá, người xử lý thông tin có thể ghi chú thêm những nhận định

của mình, với những quy ước riêng. Trong quá trình mã hoá cũng có thay đổi tên gọi các mã cho phù hợp với thông tin được xử lý. Đồng thời, người xử lý thông tin sẽ nhận thấy có một số mã tập hợp lại với nhau, tập trung nhiều thông tin, nhưng cũng có mã trở thành rời rạc.

Sắp xếp, truy xuất các mã, hình thành các tập tin theo chủ đề: Sau khi đã

đọc đi, đọc lại các thông tin và mã hoá, có thể bắt đầu một bước mới bằng cách sắp xếp và truy xuất các mã (coding sort). Đây là việc tập hợp các văn bản của những mã giống nhau thành các tập tin mới. Bước này có thể làm thủ công hay bằng các phần mềm ứng dụng xử lý nghiên cứu định tính.

+ Trình bày các dữ kiện:

Trình bày các dữ kiện là làm một bản liệt kê tóm tắt những điều liên quan

đến chủ đề phân tích. Trước hết phải quan tâm nắm bắt những sắc thái, khác biệt trong chủ đề, phân biệt các khía cạnh định lượng và định tính, những khác biệt giữa những cá nhân, các nhóm nhỏ. Phải phân biệt những chủ đề chính và những chủ đề phụ xuất hiện từ các dữ kiện. Sau khi đã phân biệt, hãy quay trở lại dữ kiện và tìm xem những thông tin hỗ trợ những chủ đề chính, chủ đề phụ đã nêu

ra, cả khía cạnh định lượng và định tính.

+ Cô đọng thông tin:

Cô đọng thông tin là tinh lọc thông tin để có thấy rõ những khái niệm chủ

yếu và tương quan giữa chúng. Thực hiện bước này khi việc thu thập thông tin

kết thúc và sau khi mã hoá, nghiền ngẫm tư liệu. Mục tiêu của giai đoạn này là để có một cái nhìn, nắm ý nghĩa tổng quát của tư liệu và phân biệt được các chủ đề trung tâm với các chủ đề phụ, phân biệt cái chủ yếu và không chủ yếu. Để có cái nhìn tổng quát như vậy về tư liệu đôi lúc cần những sơ đồ dễ nhìn bằng cách

sử dụng các bản tóm tắt, bản ma trận, sơ đồ, đồ thị..

- Giải thích thông tin:

383

Làm thế nào để đi đến được các ý nghĩa cơ bản của các thông tin định tính? Giải thích có nghĩa là tìm ra được ý nghĩa chủ yếu của thông tin. Mục tiêu của giải thích không phải là liệt kê ra các chủ đề hấp dẫn với các minh hoạ, mà là cho thấy mô hình phân tích là thích hợp và nó nói lên cái gì.

- Tổng hợp kết quả, cung cấp thông tin: Rút ra thông tin cuối cùng về đối

tượng, sự vật, sự việc. Cung cấp thông tin các thông tin này phục vụ quá trình quản lý.

- Lưu trữ thông tin bằng hồ sơ và dữ liệu trên máy tính.

b. Xử lý thông tin định lượng

Để cô đọng các dữ kiện cần phải tiến hành công việc mã hoá. Hiện nay có

các phần mềm chuyên dụng xử lý các bảng hỏi và xử lý thống kê như SPSS, SPAD, SAS, Stata, Statgraphics.

- Việc xử lý các dữ kiện định lượng bao gồm các công việc chính: (1) sắp

xếp, mô tả các dữ kiện, (2) tìm tương quan giữa các biến số (3) giải thích khoảng cách giữa các kết quả đạt được và những kết quả chờ đợi; (4) xác định thông tin cuối cùng; (5) cung cấp thông tin; (6) bảo quản, lưu trữ thông tin;

- Giải thích về ý nghĩa thông tin thu thập được với các thông tin đã có,

thông tin chính thức, tìm cơ sở để luận giải sự khác biệt, để khẳng định tính chính xác của thông tin;

- Xác định thông tin bản chất thu thập được;

- Cung cấp thông tin cho các chủ thể liên quan bằng hình thức thích hợp;

- Lưu trữ thông tin trong hồ sơ tài liệu và trong dữ liệu máy tính.

Khi xử lý thông tin cần kết hợp hai loại thông tin định lượng và định tính.

Nếu có mâu thuẫn, quá trình xử lý thông tin cần phải quyết định dung hoà hay ưu tiên như thế nào để đi đến một lý giải toàn diện những kết quả đã tìm được, để có được thông tin hữu ích phục vụ cho quá trình giải quyết công việc.

3. Đảm bảo an toàn trong thu thập và xử lý thông tin

Đại biểu cần có trách nhiệm, chú trọng áp dụng các biện pháp kỹ thuật để đảm bảo an toàn dữ liệu, an toàn mạng máy tính, đảm bảo an toàn và bảo vệ

384

thông tin cá nhân; chống truy cập, sử dụng, thay đổi, phát tán trái phép thông tin cá nhân và các hành vi không được phép khác.

- Áp dụng quy trình đảm bảo an toàn và bảo vệ thông tin;

- Sử dụng công nghệ mã hóa đối với thông tin;

- Áp dụng quy trình quản lý an toàn hạ tầng kỹ thuật bao gồm (nhưng

không giới hạn):

+ Thiết lập hệ thống tường lửa;

+ Mã hóa tín hiệu trên đường truyền;

+ Sử dụng tài khoản, mật khẩu;

+ Thiết lập giải pháp và hệ thống thiết bị dự phòng, tự động khôi phục

dữ liệu;

+ Sử dụng các thiết bị chuyên dụng có chức năng bảo vệ tự động tăng

cường khả năng phòng, chống sự tấn công đột nhập từ bên ngoài.

Trong quá trình thu thập và xử lý thông tin phải tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về bảo đảm an toàn, bảo vệ thông tin cá nhân trong quá trình chia sẻ, trao đổi thông tin giữa các cơ quan nhà nước. Đại biểu cần tăng cường áp dụng các giải pháp định danh và xác thực điện tử.

Để đảm bảo an toàn thông tin, dữ liệu cần thực hiện giải pháp tổng thể về

kỹ thuật, con người, cơ sở vật chất. Những giải pháp cần được thực hiện thường xuyên, liên tục vì công nghệ thông tin luôn phát sinh, phát triển theo thời gian.

IV. Những trở ngại trong quá trình thu thập, xử lý thông tin và giải pháp khắc phục

1. Tình trạng thừa hoặc thiếu thông tin

a. Trở ngại

Quá trình thu thập thông tin luôn đối mặt với hai vấn đề hoặc thừa thông tin hoặc thiếu thông tin. Sự thừa về thông tin dẫn đến khó khăn trong việc lựa chọn những thông tin phản ánh đầy đủ nhất, toàn diện nhất về bản chất sự việc, hiện tượng và tạo sức ép phải thu thập thêm thông tin vì tâm lý không muốn bỏ sót thông tin dù thông tin thu thập được có thể đã đến mức bão hoà. Việc thừa thông

tin cũng dẫn đến khó khăn cho quá trình xử lý. Việc xử lý nhiều thông tin vừa

385

đòi hỏi thời gian vừa đòi hỏi nhiều nguồn lực và kỹ năng xử lý thông tin.

Trái ngược với việc thừa thông tin là tình trạng thiếu thông tin hữu ích.

Việc thiếu thông tin hữu ích dẫn đến việc cần phải tốn nhiều thời gian và nguồn lực hơn để thu thập đủ thông tin cho quá trình giải quyết công việc. Mặt khác, do thiếu thông tin hữu ích nên cho dù cố gắng thu thập thông tin thì thông tin thu thập được có thể không phản ánh hết được bản chất của đối tượng, dẫn đến có thể nhận thức sai lệch về đối tượng. Việc thiếu thông tin hữu ích dẫn đến quá trình xử lý thông tin khó tìm ra bản chất, ý nghĩa của thông tin. Bởi lẽ, thông tin chỉ có ý nghĩa thống kê khi đạt đến một định mức nhất định.

b. Giải pháp khắc phục

Để tránh tình trạng thừa hoặc thiếu thông tin, đại biểu HĐND nên thực hiện

những công việc sau:

- Xác định rõ mục tiêu thu thập, xử lý thông tin, điều này đóng vai trò

quyết định đối với hiệu quả trong hoạt động. Do vậy đại biểu cần đặt mục tiêu thông tin song hành, đồng bộ gắn kết trong hệ thống các mục tiêu hoạt động;

- Xây dựng kế hoạch thu thập, xử lý thông tin để đảm bảo đúng mục tiêu và

thống nhất hành động;

- Việc xử lý thông tin thu thập được cũng cần phải quản lý để thống nhất,

không trùng lặp, không tản mát và đúng kế hoạch, mục tiêu đề ra. Trong một số trường hợp đại biểu phải ra quyết định đối với việc xử lý hay không xử lý, xử lý như thế nào đối với những loại thông tin nhất định.

2. Hạn chế về năng lực và kỹ năng xử lý thông tin

a. Trở ngại

Hạn chế về năng lực, kỹ thuật thu thập và xử lý thông tin có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thông tin và hiệu quả khai thác, sử dụng thông tin. Sự quá tải về thông tin, sự đa dạng về thông tin dẫn đến những khó khăn trong quá trình thu thập và xử lý. Sự hạn chế về kỹ năng thu thập thông tin biểu hiện trên nhiều phương diện như thiếu kỹ năng lựa chọn phương pháp thu thập thông tin, kỹ năng triển khai áp dụng các phương pháp. Việc xử lý thông tin sẽ giảm bớt hiệu

quả nếu chủ thể thu thập thông tin kém kiến thức về thống kê, thiếu kỹ năng

386

phân tích thông tin, kỹ năng sử dụng phương tiện tin học trong xử lý số liệu.

b. Giải pháp khắc phục

Trong việc thu thập, tổng hợp, phản ánh ý kiến cử tri (là trách nhiệm của

đại biểu HĐND) cũng cần chú ý: có những ý kiến, kiến nghị, nguyện vọng là đúng, không sai chủ trương, chính sách nhưng chưa hoặc không phù hợp với thực tế, không có tính khả thi - cũng được coi như là thông tin không mang tính đại diện. Khi đó, trong tiếp xúc cử tri, đại biểu cần giải thích để cử tri hiểu, chia sẻ và thôi không kiến nghị nữa.

Chính vì vậy, để có thể đánh giá được chất lượng thông tin trong quá trình

xử lý, đại biểu cần có đầy đủ kiến thức và kinh nghiệm trong việc đánh giá chất lượng thông tin. Đại biểu cần chú trọng tới nguồn thông tin chính thống, đáng tin cậy; đối với việc thu thập thông tin trên mạng internet cần chú ý tới những nguồn tin từ địa chỉ tên miền của những cơ quan nhà nước và các tổ chức uy tín, từ đó giảm thiểu được thời gian xử lý thông tin, tránh được tin giả, tin độc.

Đại biểu cần phải luôn cập nhật, học hỏi các kiến thức mới và kỹ năng cần

thiết như đã đề cập ở trên trong nội dung chuyên đề này. Có như vậy mới đảm bảo tính khách quan và tin tưởng đối với chất lượng thông tin.

3. Những trở ngại trong cơ cấu tổ chức, phong cách quản lý, văn hoá tổ chức

a. Trở ngại

Cơ cấu tổ chức, phong cách quản lý và văn hoá tổ chức có thể ảnh hưởng

đến quá trình thu thập và xử lý thông tin. Văn hoá tổ chức khép kín, thiếu sự cởi mở, chia sẻ thông tin giữa các đại biểu và cán bộ, công chức với nhau có thể sẽ gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, khi tổ chức duy trì quá nhiều thủ tục cứng nhắc cũng dẫn đến việc thu thập và chia sẻ thông tin khó khăn, trở thành rào cản cho quá trình thu thập thông tin. Cơ cấu tổ chức cồng kềnh, nhiều tầng nấc có thể làm cho thông tin thu thập không đầy đủ hoặc bị nhiễu qua các tầng nấc.

b. Gải pháp khắc phục

Ngày 09/4/2020 Chính phủ ban hành Nghị định số 47/2020/NĐ-CP về

quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước. Đây là một mốc

387

quan trọng trong quá trình xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, bước đầu quy định về dữ liệu mở của cơ quan nhà nước, đơn giản hóa quá trình

kết nối, chia sẻ dữ liệu số, tạo hành lang pháp lý minh bạch và thuận lợi cho dữ liệu lưu chuyển từ nơi có đến nơi cần.

Dữ liệu hình thành trong hoạt động của cơ quan nhà nước được chia sẻ

phục vụ các hoạt động của cơ quan nhà nước hướng tới phục vụ người dân, doanh nghiệp tuân thủ quy định của pháp luật trong việc tạo lập, quản lý và sử dụng dữ liệu. Cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm chia sẻ dữ liệu với cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật.

Đại biểu cần nắm rõ những quy định dữ liệu của cơ quan nhà nước được

chia sẻ cho tổ chức, cá nhân thực hiện theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và các quy định của pháp luật hiện hành. Đại biểu cũng cần thường

xuyên hoàn thiện những kỹ năng thu thập và xử lý thông tin, chia sẻ và làm việc cộng tác trên môi trường mạng.

Giải pháp quan trọng tiếp theo để giải quyết vấn đề này là cần phải xây

dựng cơ chế mở để có dữ liệu mở của cơ quan nhà nước, đơn giản hóa thủ tục, quy trình trao đổi thông tin, hướng tới tạo dựng văn hóa chia sẻ và làm việc cộng tác trên môi trường mạng, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Đại biểu

HĐND cấp huyện, cấp xã.

388

CÂU HỎI THẢO LUẬN129

1. Các phương pháp thu thập thông tin được sử dụng trong hoạt động của

đại biểu. Những phương pháp nào đại biểu hay áp dụng nhất, vì sao?

2. Kinh nghiệm của cá nhân đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã trong thu

thập và xử lý thông tin phục vụ nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã ?

3. Trong thực tế hoạt động, cá nhân đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã ứng

dụng công nghệ thông tin trong công tác thu thập và xử lý thông tin như thế nào?

4. Phân tích những khó khăn khi thu thập và xử lý thông tin trong hoạt

động của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã? Liên hệ thực tế hoạt động của cá nhân đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã.

129 Giảng viên có thể đưa ra những câu hỏi/tình huống khác để thảo luận, trao đổi phù hợp với thực tế của địa phương, nhu cầu học viên và điều kiện lớp học.

389

TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO HỌC VIÊN130

1. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

2. Hàn Viết Thuận, Giáo trình hệ thống thông tin trong quản lý, Nxb. Đại

học Kinh tế Quốc dân, năm 2008.

3. Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã (nơi

ĐBHĐND công tác).

4. Robert Heller, Thông tin hiệu quả: Communicate Clearly, Nxb. Tổng

hợp Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2008.

5. Richard Paul, Cẩm nang tư duy phân tích, Nxb. Tổng hợp Thành phố

Hồ Chí Minh, năm 2015.

130 Giảng viên cập nhật, giới thiệu thêm những tài liệu tham khảo khác cho học viên, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và khả năng tìm kiếm tài liệu của học viên.

390

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu846/QĐ-BNV
Ngày ban hành08/08/2021
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực08/08/2021
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýBộ Nội vụ / Trương Hải Long
Phạm viTrung ương, Bộ Nội vụ
Trích yếuNăm 2021 về Tài liệu bồi dưỡng đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.