|
UBND TỈNH NGHỆ AN Số: 89/2004/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Nghệ An, ngày 24 tháng 08 năm 2004 |
QUYẾT ĐỊNH
Về việc ban hành Đề án “Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự từ năm 2004 đến năm 2007 trên địa bàn tỉnh Nghệ An
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;
- Căn cứ Pháp lệnh thi hành án Dân sự ngày 14/01/2004;
- Căn cứ Chỉ thị số 20/2001/CT-TTg ngày 11/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án Dân sự;
- Căn cứ Chỉ thị số 10/2002/CT-TTg ngày 19/03/2002 của Thủ tướng Chính phủ, về việc thực hiện Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới;
- Xét đề nghị của Chánh Văn phòng UBND tỉnh và Giám đốc Sở Tư pháp,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. Ban hành Đề án "Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự năm 2004 đến năm 2007 trên địa bàn tỉnh Nghệ An".
Điều 2. Quyết định có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký.
Các ông: Chánh Văn phòng UBND tỉnh; Giám đốc Sở Tư pháp; Giám đốc các sở, Thủ trưởng các ban, ngành; Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh và các tổ chức liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
TM. UBND TỈNH NGHỆ AN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
(Đã ký)
NGUYỄN VĂN HÀNH
ĐỀÁNtăng cường và nâng cao hiệuquả công tác thi hành án dân sự từ năm 2004 đến năm 2007 trên địa bàntỉnh Nghệ An
(Ban hành kèm theo Quyết định số 89/2004/QĐ-UB ngày 24 tháng 8 năm 2004 của UBND tỉnh Nghệ An)
Để thi hành nghiêm túc Pháp lệnh Thi hành án dân sự ngày 04/01/2004, (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004) và tiếp tục tổ chức thực hiện Chỉ thị 20/2001/CT-TTg ngày 11/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác Thi hành án dân sự; Chỉ thị số 10/2002/CT-TTg ngày 13/9/2002 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác Tư pháp trong thời gian tới, tạo sự chuyển biến căn bản trong công tác Thi hành án dân sự, UBND tỉnh Nghệ An xây dựng Đề án Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự từ năm 2004 đến năm 2007.
I- THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRONG THỜI GIAN QUA
Nghệ An là một tỉnh lớn, với diện tích tự nhiên trên 16487 km2, dân số: 2.955.049 người; toàn tỉnh có 19 huyện, thành phố, thị xã (trong đó có 10 huyện miền núi), có 469 xã, phường, thị trấn. Là một tỉnh kinh tế còn nghèo, trình độ dân trí và nhận thức hiểu biết về pháp luật chưa cao, tội phạm hình sự, nhất là tội phạm ma tuý trong những năm gần đây chiếm trên 30% án hình sự.
Thực hiện Nghị quyết kỳ họp lần thứ nhất Quốc hội khóa IX ngày 06/10/1992, Pháp lệnh Thi hành án dân sự ngày 21/4/1993 và Chỉ thị 266/CT-TTg ngày 02/6/1993 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển giao công tác Thi hành án dân sự từ cơ quan Tòa án sang Chính phủ, tháng 6 năm 1993, UBND tỉnh và các huyện đã tiếp nhận bàn giao công tác Thi hành án dân sự từ TAND tỉnh và TAND cấp huyện.
A- THỰC TRẠNG VỂ TỔ CHỨC VÀ CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ NĂM 1993 ĐẾN NAY
1. Công tác tổ chức cán bộ và đội ngũ cán bộ thi hành án.
Tại thời điểm tháng 7 năm 1993 cơ quan thi hành án tỉnh, các huyện, thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò có 48 cán bộ, trong đó có 27 chấp hành viên, mỗi đơn vị chỉ có từ 2 đến 3 cán bộ, số có trình độ đại học chỉ đạt 35%, trong đó Phòng thi hành án có 5 chấp hành viên và cán bộ.
Thực hiện Quyết định 141/QĐ-QLTA-THA ngày 21/3/1994 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp phân cấp quản lý về mặt tổ chức các Phòng thi hành án, Đội thi hành án cho Giám đốc Sở Tư pháp, hàng năm Sở Tư pháp tập trung thực hiện kế hoạch chỉ tiêu biên chế, tuyển dụng, đào tạo cán bộ. Hiện nay các cơ quan Thi hành án dân sự toàn tỉnh có 136 biên chế, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, số vụ việc phải thi hành án ngày càng nhiều (năm 1994 toàn tỉnh có 5050 việc, đến năm 2003 có 13266 việc, tăng hơn 2,5 lần), tính chất vụ việc cũng phức tạp hơn, nhưng biên chế vẫn giữ nguyên trong nhiều năm nay. Bình quân mỗi năm một chấp hành viên phải đảm nhận thường xuyên trên 200 việc; tình trạng cán bộ thi hành án cùng một lúc phải kiêm nhiệm nhiều công việc trong cơ quan là khá phổ biến, do đó hạn chế đến kết quả công tác và dẫn đến một số khuyết điểm về chuyên môn trong hoạt động thi hành án. Mặt khác, chất lượng cán bộ, tuy tỷ lệ có trình độ đại học đạt 77%; trung cấp, luân huân có 23% nhưng phần lớn chưa được đào tạo có hệ thống và chuyên sâu về nghề nghiệp.
2. Kết quả thi hành và tình hình quản lý chỉ đạo công tác thi hành án dân sự.
2. 1. Kết quả thi hành: Tại thời điểm bàn giao (tháng 6 năm 1993) các cơ quan Thi hành án dân sự tiếp nhận từ TAND chuyển qua gần 5.000 việc. Tính đến tháng 6 đầu năm 2004, tổng số việc phải thi hành trên toàn tỉnh là 48.442 việc, trong đó: 4920 việc có điều kiện thi hành, đã thi hành xong 40.635 việc, đạt tỷ lệ 94,6%; tổng số tiền phải thi hành là 227.58788.000 đồng, số tiền đã xử lý và thu được 153.11145.000 đồng, trong tổng số 160.805.379.000 đồng có điều kiện thi hành, đạt tỷ lệ: 95,2%.
Mặc dù, Cơ quan Thi hành án tỉnh đã thường xuyên bám sát công tác quản lý, chỉ đạo nghiệp vụ đối với các cơ quan Thi hành án cấp huyện, nhưng thực tế số vụ việc chưa có điều kiện thi hành tồn đọng qua nhiều năm vẫn chiếm số lượng lớn, không giải quyết được dứt điểm do vướng mắc về quy định của pháp luật, đây là một khó khăn lớn vê tổ chức thực hiện nhiệm vụ thi hành án trong thời gian qua.
2. Sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác Thi hành án dân sự trong thời gian qua: Cấp ủy, chính quyền cấp tỉnh, huyện đã quan tâm tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác này, đặc biệt là sự chỉ đạo của Ban chỉ đạo Thi hành án dân sự tỉnh, cấp huyện đã tăng cường được sự chỉ đạo, phối hợp trong công tác thi hành án, giải quyết được nhiều vướng mắc cụ thể, tổ chức thi hành dứt điểm nhiều vụ, việc phức tạp, nổi cộm.
Năm 2002, 2003 thực hiện Thông tư 05/2002/BTP ngày 27/02/2002 của Bộ Tư pháp và Thông tư liên tịch số 15/2002/BTC-BTP ngày 8/02/2002 của Bộ Tài chính - Bộ Tư pháp về việc chuyển giao các vụ việc có giá trị không quá 500.000 đồng cho UBND xã, phường, thị trấn trực tiếp đôn đốc thi hành dưới sự chỉ đạo hướng dẫn của Cơ quan Thi hành án, bước đầu đã quán triệt thực hiện trên toàn tỉnh, nhiều địa phương đã tổ chức thực hiện có kết quả. Tuy nhiên, trong công tác lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo nói chung chưa cụ thể. Một số nơi, chính quyền chưa quán triệt sâu sắc, xác định được vai trò, trách nhiệm trong quản lý, chỉ đạo công tác thi hành án, nên quá trình phối hợp thực hiện chưa được thường xuyên, kết quả đạt còn thấp so với yêu cầu. Án chuyển giao cho UBND xã, phường, thị trấn thực hiện chưa được quán triệt đầy đủ và tập trung đôn đốc, nên kết quả đạt được còn thấp.
3. Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật.
Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật nói chung, pháp luật về thi hành án nói riêng đã được chú trọng với nhiều hình thức như đăng tải trên báo, các phương tiện thông tin đại chúng; qua lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật từ tỉnh đến cơ sở. Tuy nhiên, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật đối với địa bàn cơ sở, nhất là các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa chưa được thường xuyên; hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục pháp luật chưa đa dạng, chưa căn cứ vào tình hình thực tế từng địa bàn, từng đối tượng để có hình thức, phương pháp tuyên truyền phù hợp, nên hiệu quả chưa cao, chưa tạo được ý thức tôn trọng và chấp hành, nhất là các đối tượng phải thi hành án.
4. Về cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành án.
Tháng 7 năm 1993, khi nhận bàn giao các cơ quan thi hành án chưa có trụ sở, phương tiện, nơi làm việc còn bố trí chung trong Sở Tư pháp, phòng Tư pháp. Những năm gần đây được sự quan tâm tập trung đầu tư của Bộ Tư pháp, sự hỗ trợ của UBND tỉnh, UBND các huyện, thành phố, thị xã nên cơ quan thi hành án từng bước được trang bị về cơ sơ vật chất. Tuy vậy, đến nay mới có 8/19 đơn vị được xây dựng trụ sở mới là các huyện Anh Sơn, Đô Lương, Tân Kỳ, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, thành phố Vinh và thị xã Cửa Lò; 3 đơn vị đang được triển khai xây dựng là Nghĩa Đàn, Quế Phong, Kỳ Sơn. Các huyện còn lại hiện gặp rất nhiều khó khăn, có huyện còn ở chung trong văn phòng HĐND và UBND như Quỳ Châu, một số huyện có nhà làm việc nhưng lại dột nát, hư hỏng, xuống cấp như Thanh Chương, Yên Thành, Tương Dương. Phương tiện hoạt động mỗi đơn vị được cấp một xe máy trước đây, đến nay đã hư hỏng, nhiều đơn vị không còn sử dụng được. Phần lớn cán bộ thi hành án các huyện, nhất là các huyện miền núi phương tiện đi lại để làm nhiệm vụ là xe đạp và xe lai, nên hạn chế đến hiệu quả thực thi nhiệm vụ. Đặc thù của công tác thi hành án là chi phí cho tổ chức điều tra xác minh, phối hợp cưỡng chế, những vụ phức tạp cần phải nhiều ngành tham gia, lực lượng cảnh sát phải huy động nhiều mới có thể thực hiện được. Để đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ thì vấn đề đầu tư xây dựng trụ sở, kho tàng, trang bị phương tiện và hỗ trợ thêm kinh phí phối hợp, kinh phí cưỡng chế cho các cơ quan thi hành án là yêu cầu cần thiết tạo điều kiện cho các cơ quan Thi hành án dân sự hoàn thành tốt nhiệm vụ.
5. Tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.
Đặc điểm của công tác thi hành án dân sự là tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích kinh tế của đương sự cả hai bên người phải thi hành án và người được thi hành án. Do đó, thi hành án dân sự là một trong những lĩnh vực có nhiều đơn thư khiếu kiện của công dân. Cùng với việc thi hành án, các cơ quan Thi hành án đã đề cao trách nhiệm giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo. Năm 2002, 2003 lượng đơn thư giảm hẳn so với trước. Qua tổng rà soát liên ngành theo Kế hoạch số 06/KHLN ngày 15/4/2002 và số 04/KHLN ngày 07/4/2003 của Viện Kiểm sát tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, thì không có các vụ bức xúc kéo dài trong thi hành án mà cấp tỉnh chưa giải quyết. Tuy nhiên, việc theo dõi xử lý đơn thư vẫn chưa được chặt chẽ. Có nhiều trường hợp vẫn chuyển đơn thư không đúng quy định của Luật khiếu nại, tố cáo; thời hạn giải quyết chậm nên gây bức xúc cho công dân. Còn một số vụ việc phức tạp ở cấp huyện, các cơ quan Thi hành án cấp huyện, tỉnh đã giải quyết, nay thuộc thẩm quyền của cấp trên chưa được giải quyết dứt điểm.
B- NGUYÊN NHÂN
1. Nguyên nhân kết quả
1. Kết quả đạt được trong những năm qua, trước hết là nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương và Bộ Tư pháp đối với hoạt động của các cơ quan Tư pháp, trong đó có công tác thi hành án.
1. 2. Bước đầu đã phát huy được sức mạnh của hệ thống chính trị, sự phối hợp giữa các ngành, các đoàn thể, các cấp và chính quyền cơ sở đối với công tác thi hành án, đặc biệt là các cơ quan Tư pháp.
1. 3. Vai trò, trách nhiệm của các cơ quan Thi hành án và chấp hành viên trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ thi hành án được đề cao.
1. 4. Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về thi hành án được tăng cường; công tác tiếp dân và chỉ đạo giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo được quan tâm xử lý kịp thời, đúng pháp luật.
1. 5. Việc kết hợp Thi hành án hình sự với Thi hành án dân sự đã có kết quả bước đầu thể hiện ở các đợt đặc xá, tha tù trước thời hạn, các đối tượng này đã thi hành dứt điểm phần trách nhiệm dân sự của bản án.
2. Nguyên nhân tồn tại khuyết điểm.
1. Nguyên nhân khách quan
-Nhiều vụ việc tồn đọng trong thi hành án chưa được giải quyết, đó là hệ thống pháp luật về thi hành án chậm được hoàn thiện, những bức xúc của thực tiễn đặt ra kéo dài nhiều năm không có điều kiện thi hành vẫn chưa có biện pháp xử lý;
- Chưa có cơ chế cụ thể của pháp luật gắn thi hành án phạt tù với thi hành án dân sự để bảo đảm việc Thi hành án dân sự;
- Nhiều trường hợp việc phối hợp giải quyết trong thi hành án thiếu sự thông nhất giữa các cơ quan có trách nhiệm;
- Loại án ma túy chiếm tỷ lệ lớn (trên 30% án hình sự) nhưng hầu hết là đối tượng không có khả năng thi hành; án tham nhũng, án nợ ngân hàng; án mà bên phải thi hành án là cơ quan tổ chức chính quyền, tiền phải thi hành án lớn nhưng không thi hành được.
1. 2. Nguyên nhân chủ quan
- Cấp ủy và chính quyền nhiều nơi chưa quan tâm đúng mức đối với công tác thi hành án dân sự. Công tác quản lý, chỉ đạo chưa thực sự tập trung và quyết tâm cao. Hoạt động của Ban chỉ đạo Thi hành án dân sự tỉnh tuy có duy trì tương đối đều các cuộc họp theo quy chế, nhưng mới chỉ dừng lại ở các thông báo chủ trương, còn sự đôn đốc, kiểm tra của các thành viên Ban chỉ đạo Thi hành án dân sự tỉnh đối với cấp huyện theo phân công còn hạn chế. Ở cấp huyện công tác quản lý, chỉ đạo chưa cụ thể, chưa quyết liệt, một số huyện, UBND thành lập Ban chỉ đạo Thi hành án dân sự nhưng hoạt động còn kém hiệu quả.
- Hoạt động phối hợp giữa các cơ quan Tư pháp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án có bồi thường, có tài sản chưa chặt chẽ, nhiều trường hợp chưa kịp thời có biện pháp phong tỏa, kê biên tài sản trong giai đoạn điều tra, xét xử, hoặc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi Tòa án thụ lý giải quyết các vụ án dân sự, hoặc chưa làm rõ lý lịch tư pháp, địa chỉ của đương sự; có nhiều trường hợp thu giữ tài sản nhưng không làm rõ căn cứ giấy tờ xác định quyền sở hữu, cá biệt có một số trường hợp cấp có thẩm quyên vẫn cấp giấy tờ cho người phải thi hành án ra nước ngoài, trong khi chưa thực hiện nghĩa vụ thi hành theo bản án, làm ảnh hưởng đến hoạt động thi hành án dân sự.
- Điều kiện, phương tiện và kinh phí cho công tác phối hợp, kiểm tra của Ban chỉ đạo thi hành án dân sự và các cơ quan Thi hành án dân sự chưa được tỉnh và huyện quan tâm giải quyết đúng mức. Một số cơ quan thi hành án ở cấp huyện chưa có trụ sở ổn định.
- Về tổ chức thực hiện nhiệm vụ của cơ quan thi hành án đối với những trường hợp đối tượng phải thi hành án có điều kiện thi hành, nhưng cơ quan thi hành án thiếu kiên quyết; một số cán bộ thi hành án tinh thần trách nhiệm trong công việc chưa cao, ngại khó, thiếu bản lĩnh nghề nghiệp, thậm chí có sai phạm, ảnh hưởng đến kết quả và uy tín của cơ quan Thi hành án.
II- PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2007
A. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU
Tập trung thực hiện việc củng cố và hoàn thiện tổ chức bộ máy, công tác cán bộ, nhằm xây dựng cơ quan Thi hành án ngang tầm với công tác nhiệm vụ, có đội ngũ cán bộ có trình độ, phẩm chất và năng lực thực thi tốt nhiệm vụ Thi hành án dân sự. Hàng năm phấn đấu 100% số việc thụ lý mới được tổ chức thi hành, 95-100% số việc có điều kiện được tổ chức thi hành có kết quả, trong đó số việc thi hành xong hoàn toàn phải đạt 80-85% về số vụ và 75% trở lên về tiền, trong đó số tiền thực thu phải đạt 55% trở lên, năm sau cao hơn năm trước. Kiên quyết không để án tồn đọng, không còn tình trạng bức xúc trong thi hành án.
B. NHIỆM VỤ
Để thi hành nghiêm túc Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 và tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự, tạo sự chuyển biến căn bản trong hoạt động thi hành án theo Chỉ thị 20/2001/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và thực hiện Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới. Công tác thi hành án dân sự từ năm 2004 đến 2007 cần tập trung thực hiện tốt những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
1. Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng cường đội ngũ cán bộ cho các cơ quan thi hành án dân sự theo quyết định, chỉ đạo của Bộ Tư pháp, bảo đảm cơ quan thi hành án đủ mạnh để hoàn thành nhiệm vụ. Tăng cường vai trò tổ chức chỉ đạo của UBND các cấp và sự phối hợp chặt chẽ trong hoạt động tư pháp từ giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Đảm bảo tính khả thi và hiệu lực thực tế của bản án, quyết định của Tòa án.
2. Triển khai Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 14/01/2004 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004), thường xuyên tổng rà soát, phân loại, xác định chính xác, đúng quy định của pháp luật đối với loại án không có điều kiện thi hành, phân tích rõ loại án thu cho ngân sách nhà nước (án phí, tiền phạt) 5 năm trở lên; loại chỉ có 50.000 đ án phí trở xuống, tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý; loại án phí có giá ngạch và các khoản tiền phạt khác từ 10 năm trở lên. Tổng hợp đề nghị Tòa án nhân dân xét miễn, giam thi hành án, hoặc có căn cứ để hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án. Đối với loại án có điều kiện thi hành phải tập trung phân loại chính xác, làm rõ những vụ việc có điều kiện thi hành nhưng đối tượng chây ỳ, xác định rõ nguyên nhân và giải pháp để chỉ đạo tổ chức thực hiện nghiêm minh; xử lý kịp thời nghiêm minh (kể cả biện pháp hình sự) những người có điều kiện mà trốn tránh, chây ỳ không chịu thi hành án; phấn đấu không để án tồn đọng trên địa bàn.
3. Tập trung giải quyết kịp thời, dứt điểm đơn thư khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự, thực hiện tốt việc tiếp công dân, phấn đấu 100% đơn thư khiếu nại, tố cáo về thi hành án được giải quyết kịp thời, đúng pháp luật ngay ở các cơ quan thi hành án, không để đơn thư vượt cấp.
4. Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án, nâng cao trách nhiệm của chính quyền, các ngành, Mặt trận và các đoàn thể xã hội và công dân trong việc thi hành án.
5. Tăng cường cơ sở vật chất, bảo đảm cho các cơ quan Thi hành án có đủ trụ sở, kho bảo quản tang tài vật, phương tiện đi lại và điều kiện làm việc, đáp ứng yêu cầu tổ chức thực hiện nhiệm vụ hiện nay và thời gian tới.
C. MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỦ YẾU
1. Đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trước hết là pháp luật thi hành án dân sự, nâng cao ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật, làm chuyển biến về nhận thức của các ngành, các cấp và nhân dân trong việc chấp hành nghiêm các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan Tư pháp. Việc tuyên truyền pháp luật phải được tiến hành thường xuyên. Tăng cường vai trò tổ chức, phối hợp, chỉ đạo của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở các cấp.
2. Hàng năm, ngay từ đầu năm ngành Tư pháp giúp UBND chỉ đạo các cơ quan Thi hành án kịp thời triển khai kế hoạch và các giải pháp cụ thể để phối hợp thi hành. Đối với việc có điều kiện cần phân tích rõ: việc qua xác minh phản ánh tài sản duy nhất chỉ có nhà đủ để ở; loại việc mà bên phải thi hành án là cơ quan, chính quyền. HTX; việc mà đối tượng phải thi hành án đã thành niên sống chung trong gia đình không xác định được tài sản của người phải thi hành án; việc có điều kiện nhưng chỉ thi hành án dần từng tháng với số tiền ít chưa đủ tiền lãi suất của số tiền phải thi hành án chưa thi hành; loại việc có điều kiện nhưng bằng mọi cách chống đối quyết liệt. Làm rõ án của từng năm để có chủ trương chỉ đạo thi hành, đẩy mạnh phong trào thi đua trong thi hành án, phấn đấu đối với án từ năm 2003 về trước phải sớm kiên quyết thi hành dứt điểm.
3. Tăng cường vai trò và trách nhiệm của các cơ quan Tư pháp, bảo đảm sự phối hợp tốt trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Đối với các vụ án có bồi thường, phạt tiền, tịch thu, truy thu thì phải kịp thời phong tỏa, kê biên tài sản từ giai đoạn điều tra hoặc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình Tòa thụ lý giải quyết vụ kiện; tất cả tài sản phải thu giữ các giấy tờ về sơ hữu và sử dụng nếu không có giấy tờ thì phải xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Quản lý chặt chẽ các đối tượng còn có nghĩa vụ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự chưa được thi hành từ cơ sở phường, xã, thị trấn, bảo đảm cho giai đoạn thi hành án có hiệu quả.
4. Tăng cường công tác cán bộ, bảo đảm cho đội ngũ cán bộ làm công tác thi hành án có phẩm chất, đạo đức, trình độ năng lực, được đào tạo có hệ thống, sàng lọc và kiên quyết xử lý những cán bộ thái hóa biến chất; giải quyết chính sách những cán bộ sức khỏe yếu, không có năng lực đảm nhận được nhiệm vụ.
5. Đẩy mạnh quan hệ phối hợp với các ngành, Mặt trận và đoàn thể quần chúng, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, kết hợp đồng bộ nhiều biện pháp vận động, giáo dục thuyết phục và cưỡng chế, bảo đảm cho các bản án, quyết định của Tòa án được thi hành kịp thời, đúng pháp luật, không có tình trạng tồn đọng các vụ việc kéo dài như lâu nay.
6. Thực hiện tốt kế hoạch tổng rà soát phân loại đơn thư khiếu nại tố cáo về thi hành án theo kế hoạch của liên ngành Viện Kiểm sát tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, giải quyết dứt điểm những vụ bức xúc, kéo dài.
- Tổ chức tốt công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo kịp thời, đúng pháp luật ngay từ các cơ quan thi hành án, hạn chế trường hợp đơn thư khiếu nại tố cáo vượt cấp.
- Xử lý nghiêm khắc và kịp thời đối với trường hợp cơ quan Thi hành án, chấp hành viên và cán bộ thi hành án thiếu trách nhiệm, vi phạm các quy định của pháp luật về thi hành án, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan nhà nước, tổ chức và công dân.
7. Kiện toàn, tăng cường hoạt động của Ban chỉ đạo Thi hành án dân sự tỉnh và Ban chỉ đạo Thi hành án dân sự các huyện, thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò. Ban chỉ đạo Thi hành án dân sự các cấp có nhiệm vụ bám sát quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ thi hành án, kịp thời tháo gỡ vướng mắc, xử lý các vấn đề nổi cộm phức tạp, từng vụ việc cụ thể mà cơ quan thi hành án báo cáo đề xuất, kịp thời trình UBND giải quyết những khó khăn, vướng mắc thuộc thẩm quyền để cơ quan thi hành án tiến hành nhiệm vụ được thuận lợi. Trong năm 2004 cần tổ chức Hội nghị sơ kết đánh giá việc thực hiện chuyển giao số vụ việc có giá trị không quá 500.000 đồng cho UBND phường, xã, thị trấn trực tiếp đôn đốc thi hành; Tập huấn và quán triệt thực hiện Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 trong các ngành nội chính, các cơ quan có liên quan ở cấp tỉnh, UBND, các ngành cấp huyện và chính quyền cơ sở.
8. Tranh thủ sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và sự giám sát của Hội đồng nhân dân đối với công tác thi hành án dân sự.
9. Có kế hoạch cụ thể trình Bộ Tư pháp về đầu tư xây dựng, phấn đấu đến năm 2007, tất cả các cơ quan Thi hành án phải có trụ sơ và hệ thống kho tang vật theo Nghị định 18/2002/NĐ-CP ngày 18/02/2002 của Chính phủ. Đồng thời có sự hỗ trợ kinh phí của địa phương tỉnh và huyện, bảo đảm cho hoạt động của Ban chỉ đạo Thi hành án dân sự và tổ chức thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án.
III- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
A. CÁC BƯỚC PHÁT TRIỂN ĐỀ ÁN
1. Trên cơ sở kết quả tổng rà soát đội ngũ cán bộ, căn cứ vào biên chế chức danh tiêu chuẩn để tiến hành sắp xếp, điều chuyển, bố trí lại lực lượng hiện có, tuyển dụng mới cán bộ công chức theo yêu cầu của ngành, bảo đảm số lượng, chất lượng, đặc biệt coi trọng lực lượng chấp hành viên, bảo đảm cho các cơ quan thi hành án đủ điều kiện để tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đây là một nhiệm vụ thường xuyên, nhưng năm 2004, 2005 tập trung rà soát đội ngũ chấp hành viên, kịp thời củng cố tổ chức cán bộ ở một số cơ quan thi hành án cấp huyện lực lượng còn mỏng. Nghiên cứu giải quyết chính sách đối với một số cán bộ do năng lực, sức khỏe không đảm nhận được nhiệm vụ.
2. Tập trung rà soát điều tra, xác minh phân loại án là công việc thường xuyên, nhưng làm kỹ ngay từ thời điểm triển khai đề án 2004.
- Năm 2004: tổng hợp số án không có điều kiện thi hành án về án phí, tiền phạt, để 6 tháng cuối năm 2004, sau khi có hướng dẫn liên ngành, tổng hợp đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xét miễn, giảm, hỗ trợ thi hành án theo quy định của Pháp lệnh Thi hánh án dân sự năm 2004, giải quyết gọn tình trạng án tồn đọng.
Tập trung giải quyết số việc bức xúc kéo dài, có điều kiện mà hồ sơ tồn đọng từ năm 2002 về trước.
Tháng 8/2004, Sở Tư pháp chỉ đạo các cơ quan Thi hành án dân sự hoàn thành việc tổng rà soát loại án để kiến nghị xử lý theo Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, các quy định của Chính phủ và Bộ, ngành có hên quan. UBND tỉnh và thủ trưởng các ngành trong khối nội chính sẽ nghe và chỉ đạo tổ chức các vụ, việc có điều kiện thi hành từ trước đến nay khó khăn phức tạp nhưng chưa thi hành được.
- Năm 2005: tập trung giải quyết số việc bức xúc và những việc có điều kiện từ năm 2003 - 2004.
- Năm 2006 - 2007 tổ chức thi hành có kết quả và giải quyết cơ bản án từ 2006 trở về trước.
- Năm 2007 trở đi các vụ việc phải được thi hành kịp thời, không để vi phạm đến thời hạn thi hành án, không có án tồn đọng. Hoàn thiện tổ chức bộ máy các cơ quan thi hành án.
B. TRÁCH NHIỆM CÁC CẤP, CÁC NGÀNH
Tăng cường sự phối hợp của các ngành, Mặt trận và các đoàn thể, đặc biệt là các ngành trong khối nội chính để thực hiện tốt nhiệm vụ thi hành án.
1. Ngành Công an làm tốt công tác bảo vệ cưỡng chế kịp thời, an toàn. Đối với những đối tượng có điều kiện thi hành nhưng cố tình có các hành vi chống đối, cản trở không chịu thi hành, có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan Công an chủ động hoặc theo đề nghị của Cơ quan thi hành án bắt giữ, khởi tố để điều tra xử lý nhằm giáo dục răn đe chung. Đối với những vụ án kinh tế, tham nhũng gây thất thoát lớn tài sản của Nhà nước, các vụ án khác liên quan đến trách nhiệm bồi thường dân sự cần có biện pháp ngăn chặn tẩu tán tài sản ngay từ khi phát hiện vụ án đảm bảo cho việc thi hành án có hiệu quả.
2. Ngành Kiểm sát trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, thường xuyên tiến hành công tác kiểm sát thi hành án dân sự toàn diện, không chỉ đối với cơ quan thi hành án, chấp hành viên, các cơ quan, tổ chức cá nhân có liên quan mà cả đối tượng phải thi hành án trên cơ sở đó tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thi hành án. Cùng với cơ quan công an, chủ động hoặc theo đề nghị của cơ quan thi hành án kiên quyết đưa ra truy tố trước pháp luật, đối với hành vi chống người thi hành công vụ, chống đối không chấp hành án nhằm bảo đảm việc thi hành án kịp thời, đầy đủ, đúng pháp luật.
3. Tòa án các cấp trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ xét xử, cần phải tính đến yếu tố khả thi trong thi hành án dân sự, các bản án phải ghi rõ địa chỉ, tài sản tạm giữ, kịp thời có các biện pháp khẩn cấp, phong tỏa tài sản trong các vụ kiện dân sự để bảo đảm việc thi hành án; án đã xét xử có hiệu lực pháp luật phải kịp thời chuyển giao cho Cơ quan thi hành án đúng thời hạn theo quy định của pháp luật. Để triển khai Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, khi có đề nghị của các cơ quan thi hành án thì TAND thực hiện việc xét miễn, giảm đối với khoản án phí, tiền phạt không có điều kiện thi hành.
4. Bảo hiểm xã hội tỉnh chỉ đạo Bảo hiểm xã hội các huyện, thành phố, thị xã phối hợp thực hiện tốt các quyết định cưỡng chế của cơ quan thi hành án trừ vào thu nhập của đối tượng phải thi hành án đang được hưởng chế độ tại bảo hiểm xã hội theo quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 200
5. Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các Ngân hàng Thương mại thực hiện kịp thời các yêu cầu của cơ quan thi hành án trong điều tra xác minh tài sản, thu nhập, hồ sơ thế chấp, cầm cố của đối tượng phải thi hành án, thực hiện phong tỏa tài sản khi có quyết định của cơ quan thi hành án để bảo đảm việc thi hành án theo quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004.
6. Sở Tài nguyên Môi trường chỉ đạo Phòng Tài nguyên Môi trường cấp huyện thực hiện tốt sự phối hợp với cơ quan thi hành án trong việc xử lý, làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho người mua được tài sản, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan thi hành án xử lý tài sản để bảo đảm việc thi hành án nhanh chóng, hiệu quả theo quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự 2004 và pháp luật về đất đai.
7. Sở Tư pháp giúp UBND tỉnh tăng cường công tác quản lý Nhà nước, thanh tra kiểm tra, đôn đốc chỉ đạo để đẩy mạnh kết quả thi hành án và tăng cường phối hợp với các cơ quan truyền thông đại chúng làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nhất là đối với địa bàn phường xã, nâng cao nhận thức pháp luật cho nhân dân để tự giác chấp hành pháp luật. Tăng cường công tác cán bộ, bảo đảm tiến độ các bước triển khai của đề án. Tham mưu giúp UBND tỉnh chỉ đạo sơ kết việc thực hiện đôn đốc thi hành án chuyển giao cho phường, xã, thị trấn, triển khai tập huấn Pháp lệnh thi hành án dân sự 2004 cho lãnh đạo các ngành liên quan cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã; đôn đốc cấp huyện tập huấn Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, tiếp tục quán triệt Thông tư 05/2002/BTP ngày 27/02/2002 của Bộ Tư pháp và Thông tư liên tịch số 15/2002/BTC-BTP ngày 08/02/2002 cua Bộ Tài chính - Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn chuyển giao một số vụ việc có giá trị không quá 500.000 đồng cho UBND các xã, phường, thị trấn trực tiếp đôn đốc thi hành.
Chỉ đạo Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh tăng cường quản lý bồi dưỡng nghiệp vụ thi hành án, kịp thời giải quyết những vướng mắc trong thi hành án đối với cơ quan thi hành án cấp huyện. Từng quý nắm tình hình kết quả trong toàn tỉnh, nhất là những vụ khó khăn, báo cáo với UBND, Ban chỉ đạo thi hành án dân sự tỉnh có giải pháp hỗ trợ, chỉ đạo giải quyết.
Cơ quan thi hành án tỉnh tập trung chỉ đạo giải quyết dứt điểm các vụ phức tạp nổi cộm ở tỉnh và cấp huyện, chỉ đạo tổng rà soát, điều tra xác minh phân loại chính xác các vụ việc phải thi hành án để có biện pháp xử lý. Đôi với án có điều kiện thi hành phải phân tích rỏ, có kế hoạch tổ chức thực hiện triệt để, kiên quyết dứt điểm, bảo đảm tiến độ các bước thực hiện Đề án.
8. UBND các huyện, thành phố, thị xã theo thẩm quyền và trên cơ sở Đề án này, hàng năm có kế hoạch cụ thể để chỉ đạo công tác thi hành án dân sự, xem đây là một nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của địa phương mình. Kiện toàn và tạo điều kiện để Ban chỉ đạo thi hành án dân sự, các cơ quan thi hành án hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Các thành viên Ban chỉ đạo thi hành án dân sự tỉnh, một năm ít nhất có hai kỳ xuống địa bàn huyện được phân công, để nắm tình hình, đôn đốc đẩy mạnh hoạt động thi hành án. Các thành viên Ban chỉ đạo thi hành án dân sự các huyện, một quý ít nhất một lần xuống địa bàn các phường, xã được phân công, đôn đốc chính quyền cơ sở thực hiện phối hợp với cơ quan Thi hành án và chủ động đôn đốc thi hành có kết quả số vụ việc được cơ quan Thi hành án chuyển giao.
9. UBND các xã, phường, thị trấn có nhiệm vụ phối hợp thực hiện việc thi hành án và trực tiếp đôn đốc thi hành việc được cơ quan thi hành án chuyển giao theo sự chỉ đạo của cơ quan thi hành án bảo đảm các vụ việc có điều kiện thi hành án trên địa bàn được thi hành kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật.
C. CÁC YẾU TỐ BẢO ĐẢM CHO THỰC HIỆN ĐỂ ÁN
1. Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện làm việc và hỗ trợ kinh phí cho các Cơ quan thi hành án. Giao cho các Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên Môi trường, Sở Tài chính, UBND các huyện, thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò hoàn thành thủ tục cấp đất xây dựng trụ sở gắn liền với hệ thống kho theo Nghị định số 18/2002/NĐ-CP ngày 18/2/2002 của Chính phủ ban hành quy chế quản lý kho vật chứng, ở hai cơ quan là Công an và Thi hành án, để Bộ Tư pháp sớm có phê duyệt dự án đầu tư xây dựng kho và trụ sở cho cơ quan Thi hành án tỉnh và các cơ quan thi hành án cấp huyện, nhất là số các đơn vị đến nay chưa có trụ sở làm việc.
2. Hàng năm UBND tỉnh, UBND các huyện, thành phố Vinh, thị xã cửa Lò có trách nhiệm hỗ trợ thêm kinh phí, phương tiện cho hoạt động phối hợp, bảo đảm đẩy mạnh công tác thi hành án dân sự trên địa bàn.
Về kinh phí: Giao cho Sở Tư pháp phối hợp với Sở Tài chính chỉ đạo Cơ quan Thi hành án tỉnh, tính toán trình UBND tỉnh quyết định:
- Cấp hỗ trợ cho cơ quan thi hành án cấp huyện mỗi đơn vị một xe máy để có phương tiện đi lại làm nhiệm vụ.
- Hỗ trợ kinh phí phối hợp cưỡng chế, kinh phí xác minh điều tra các vụ thi hành án tính theo đầu việc và kinh phí cho hoạt động của Ban chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh, cấp huyện hàng năm.
- Hỗ trợ kinh phí để tổ chức đoàn cán bộ thi hành án đi học tập kinh nghiệm các tỉnh làm tốt công tác thi hành án để rút kinh nghiệm triển khai, thực hiện tốt Đề án.