|
UBND TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Số: 9642/2002/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ngày 02 tháng 12 năm 2002 |
QUYẾT ĐỊNH CỦA UBND TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
V/v:Phê duyệt đề án “Chương trình phát triển Thương mại - Dịch vụ
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2001-2005”
______________
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) ngày 21/6/1994;
Xét công văn số 116/TM.KTX ngày 31/10/2002 của Sở Thương mại về việc đề nghị phê duyệt chương trình phát triển Thương mại - Dịch vụ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2001-2005;
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1: Phê duyệt và ban hành kèm theo Quyết định này đề án “Chương trình phát triển Thương mại - Dịch vụ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2001-2005”.
Sở Thương mại có trách nhiệm lập kế hoạch thực hiện và triển khai đến các ngành, các cấp nội dung đề án và phần việc của từng ngành, từng cấp. Theo dõi, đôn đốc, tổng hợp báo cáo tình hình triển khai thực hiện nội dung đề án này về UBND tỉnh.
Điều 2: Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Thương mại, Giám đốc các Sở, Ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã, các ngành và cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này kể từ ngày ký./.
TM. UBND TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Hồ Văn Niên
CHƯƠNG TRÌNH
Phát triển Thương mại - Dịch vụtỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2001-2005
_________
Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNHPHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI - DỊCH VỤ
5 NĂM 1996 - 2000
Trong 5 năm 1996 - 2000, kinh tế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cùng với nền kinh tế cả nước phải đối mặt với những khó khăn, thử thách gay gắt, bên ngoài chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực, bên trong là nhiều đợt thiên tai nghiêm trọng, đã làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, với những tiềm năng sẵn có, cùng sự phấn đấu tích cực của toàn tỉnh, Bà Rịa - Vũng Tàu đã có những kết quả phát triển tương đối khá, GDP kể cả dầu khí tăng bình quân 15,9%; nếu trừ dầu khí tăng bình quân 14,9%, thấp hơn mức tăng trong 4 năm 1992 - 1995 (16,4%), nhưng cao hơn mức tăng của cả nước (6,7%). Trong đó Ngành Thương mại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũng đã đạt một số kết quả cụ thể:
I. THƯƠNG MẠI TRONG NƯỚC:
Mặt được:
1. Thị trường và hoạt động thương mại có những bước phát triển khá. Hàng hóa phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân, góp phần quan trọng vào sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tỉnh. Thể hiện qua một số mặt sau đây :
- Tổng mức hàng hóa bán ra của tỉnh thời kỳ 1996 - 2000 tăng bình quân 23,08%/năm. Trong đó: bán buôn tăng 27,78%; bán lẻ tăng 22,27%.
- Tổng doanh thu thương mại - dịch vụ của tỉnh thời kỳ 1996 - 2000 tăng bình quân 14,46% (chi tiết có Biểu đính kèm).
2. Lưu thông hàng hóa nội địa tương đối ổn định và có mức tăng trưởng mạnh. Thị trường thông thoáng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế góp phần ổn định các kênh lưu thông hàng hóa trên thị trường.
3. Môi trường pháp lý cho hoạt động thương mại tại Bà Rịa - Vũng Tàu được triển khai kịp thời, rộng khắp theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước, tạo hành lang thông thoáng cho mọi thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần làm cho thị trường hàng hóa và dịch vụ ngày càng phong phú và đa dạng hơn.
4. Trật tự, kỷ cương trên thị trường được chấn chỉnh, đưa dần vào nề nếp. Buôn lậu, gian lận thương mại, kinh doanh trái phép bước đầu bị kiềm chế, góp phần bảo vệ sản xuất, kinh doanh và lợi ích người tiêu dùng.
5. Quản lý nhà nước về thương mại tại địa phương ngày càng đổi mới, phần nào thể hiện vai trò là người điều hành, quản lý, hướng dẫn hoạt động thương mại trên thị trường đi đúng định hướng, đúng chủ trương phát triển của Tỉnh.
6. Mạng lưới kinh doanh thương mại được mở rộng trên cả địa bàn thành thị và nông thôn. Tính đến cuối quý I năm 2002, toàn tỉnh có 1.397 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế; 02 HTX thương mại - dịch vụ và gần 25.000 hộ kinh doanh.
7. Hệ thống cơ sơ vật chất kỹ thuật thương mại đã bắt đầu được chú ý, nhất là cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu, các hoạt động bán lẻ và dịch vụ. Đến nay trên địa bàn tỉnh đã hình thành một số trung tâm thương mại với đủ tầm cỡ; một số cửa hàng tự chọn, các siêu thị mini ở thành phố Vũng Tàu và một vài thị xã, thị trấn lớn, tạo ra phương thức kinh doanh mới, tiến bộ. Hệ thống chợ trên địa bàn từng bước được cải tạo mở rộng, nâng cấp hoặc xây mới, ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu trao đổi mua bán hàng hóa của dân cư. Cụ thể: trong 5 năm 1996 - 2000 tỉnh đã tập trung đầu tư vào một số công trình lớn gồm: Trung tâm Thương mại Bà Rịa, Chợ Mới Long Điền, Khu Du lịch Biển Đông Bãi Sau. Các công trình này đang phát huy hiệu quả, góp phần làm tăng trưởng kinh tế của ngành cũng như của Tỉnh.
Mặt chưa được:
1. Sức mua xã hội vẫn còn thấp, nhất là ở nông thôn. Nhìn chung cả nước cũng như tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nói riêng chưa đề ra được chiến lược kích cầu phù hợp để nâng sức mua, đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa.
2. Sức cạnh tranh hàng hóa của tỉnh nhìn chung còn yếu, chủng loại còn nghèo nàn, mẫu mã chưa hấp dẫn, hầu hết các doanh nghiệp làm gia công cho nước ngoài, ít có nhãn hiệu, thương hiệu riêng, trình độ gia công chế biến còn ở dạng thô sơ, chất lượng hạn chế và giá thành cao nên khó cạnh tranh cả với thị trường trong và ngoài nước.
3. Hoạt động thương mại nhìn chung còn phân tán, manh mún, qui mô nhỏ bé, chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Mặt khác, hoạt động thương mại còn nhiều mặt chưa thực sự đi vào kỷ cương nề nếp, tình trạng cạnh tranh thiếu lành mạnh vẫn còn phổ biến, các doanh nghiệp của tỉnh chưa có sự phối hợp với nhau trong kinh doanh, chưa hình thành dược những nhóm, những hiệp hội ngành hàng để hỗ trợ cho nhau. Nhất là thương nghiệp ngoài quốc doanh tính tự phát cao, đội ngũ thương nhân tuy đông nhưng không mạnh lại hạn chế trên tất cả các mặt: vốn, cơ sở vật chất, nhất là về trình độ quản lý, khả năng tiếp cận và chi phối thị trường.
5. Công tác quản lý Nhà nước về hoạt động thương mại - dịch vụ của Tỉnh chưa đủ khả năng nắm toàn diện tình hình, chưa hiểu và dự báo được tình hình thị trường và chưa xác định dược hướng đi của nó.
Công tác quản lý nhà nước đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh còn bị buông lỏng, chưa quản lý được hoạt động sau khi đăng ký.
Quản lý thị trường chưa hiệu quả, các hành vi vi phạm pháp luật vẫn còn phổ biến ở nhiều cấp độ khác nhau, buôn lậu và gian lận thương mại diễn biến ngày càng tinh vi, phức tạp hơn, nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn, tác động tiêu cực đến sản xuất kinh doanh.
6. Thương nghiệp quốc doanh phát triển kém, mô hình hoạt động chưa được rõ ràng, việc tiếp cận thị trường còn bị động, lúng túng. Đa số các DNNN do tỉnh quản lý hoạt động kém hiệu quả, kinh doanh thua lỗ hoặc hoạt động cầm chừng, công nợ lớn. Việc thực hiện đổi mới doanh nghiệp nhà nước còn chậm, nhiều vướng mắc; tiến độ cổ phần hóa không đạt kế hoạch. Thiếu vốn, chậm đầu tư đổi mới trang thiết bị, công nghệ sản xuất.
Việc hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp còn bị động, chưa triệt để, chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Kinh tế tập thể quá yếu kém, mạng lưới hợp tác xã thương mại - dịch vụ còn tồn tại quá ít ỏi (hiện nay chỉ còn 2 HTX); doanh thu và hiệu quả còn thấp. Lúng túng trong việc chuyển đổi tổ chức cũng như hoạt động kinh doanh. Không phát triển được mạng lưới HTX.
II. XUẤT NHẬP KHẨU:
1/ Xuất khẩu:
Mặt được:
1. Tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh 5 năm (1996 - 2000) thực hiện 9.705,27 triệu USD, bình quân mỗi năm thực hiện 941,05 triệu USD. Trong đó phần địa phương thực hiện 461,94 triệu USD, bình quân mỗi năm thực hiện 92,39 triệu USD.
2. Qui mô và tốc độ xuất khẩu liên tục được mở rộng và gia tăng, bình quân hàng năm tăng 27,01% (XK cả nước tăng 18,4%) và GDP của tỉnh tăng trưởng là 14,4%).
3. Cơ cấu ngành hàng đã được cải thiện phù hợp với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhóm hàng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp năm 1996 chiếm 38,28%, đến năm 2000 chiếm 58,1%; nhóm hàng nông lâm thủy sản giảm, năm 1996 chiếm 61,72%, đến năm 2000 chỉ còn 42,9%, trong đó: ngành thủy sản lại có tốc độ tăng trưởng nhanh, chiếm lĩnh vị trí mũi nhọn trong xuất khẩu của Tỉnh với tỷ trọng từ 30- 35%, ngành hàng nông sản giảm mạnh do ảnh hưởng giá cả thị trường thế giới.
4. Bước dầu đã chú trọng đẩy mạnh xuất khẩu theo lợi thế so sánh của tỉnh và theo hướng công nghiệp hóa, giảm dần tỉ trọng xuất khẩu hàng thô và sơ chế. Tỷ trọng của các mặt hàng đã qua chế biến nhìn chung đều tăng dần qua các năm. Nếu như hàng đã qua chế biến năm 1996 chiếm 46%, thì nay đã chiếm 66,23%. Chất lượng hàng xuất khẩu đã được nâng lên một bước. Một số mặt hàng đã có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới như: hải sản, may mặc, giày da... Trong đó mặt hàng hải sản đã có một doanh nghiệp được thừa nhận sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế (được cấp Code đi Châu Âu).
5. Cơ cấu thị trường xuất khẩu của tỉnh đã có chuyển biến, đến nay đã có quan hệ thương mại với 22 nước. Song Châu Á vẫn là thị trường chính, năm 1996 chiếm 71,29%, năm 2000 chiếm 72,52%. Tỷ trọng xuất khẩu vào thị trường Châu Âu còn thấp, năm 1996 chiếm 25,54%, năm 2000 là 21,6 Xuất khẩu sang thị trường các nước Mỹ, Úc, Canada cũng đã có tiến bộ, tỷ trọng của thị trường này đã tăng từ 3,17% năm 1996 lên 5,84% năm 2000.
6. Triển khai tích cực các chính sách và cơ chế điều hành xuất nhập khẩu đã tạo thuận lợi cho mọi doanh nghiệp chủ động tham gia xuất nhập khẩu. Nhiều hình thức và biện pháp khuyến khích xuất khẩu được thực hiện như thưởng xuất khẩu, thưởng hạn ngạch,... đã thực sự góp phần tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu.
Mặt chưa được:
1. Hoạt động xuất khẩu liên tục tăng trưởng, song mức độ cao thấp của từng năm khá chênh lệch, cho thấy sự tăng trưởng còn bấp bênh, chưa vững chắc.
2. Xuất khẩu của địa phương còn đơn điệu, hàm lượng công nghệ và chất xám trong sản phẩm xuất khẩu chưa cao, chưa đủ sức cạnh tranh với thị trường khu vực và thế giới; tỷ trọng xuất khẩu hàng gia công vẫn còn lớn như: may mặc, giày dép, túi xách. Chưa có chiến lược phát triển ngành hàng, thị trường xuất khẩu còn giới hạn, chưa mở rộng được thị trường; sự phối hợp giữa các doanh nghiệp trung ương và địa phương cũng như giữa các doanh nghiệp địa phương với nhau chưa được đồng bộ. Trình độ công nghệ và quản lý của các doanh nghiệp của tỉnh còn yếu kém, năng lực tài chính hạn chế, nên khả năng thâm nhập thị trường thế giới còn non yếu, uy tín kinh doanh còn chưa rõ nét, chưa có những sản phẩm, những nhãn hiệu hàng hóa mang đặc trưng của tỉnh giữ vị trí đáng kể trên thị trường trong nước và thế giới. Các doanh nghiệp Xuất khẩu lại chưa vươn ra làm đầu mối xuất khẩu được cho các địa phương khác;
3. Tỉnh đã chọn được một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, nhưng chưa đầu tư phù hợp nên số lượng không ổn định, chất lượng kém, thị trường khó mở rộng, công tác tiếp thị còn hạn chế, hàng xuất khẩu chỉ trông chờ vào các nước trung gian nên giá thường rất thấp, thiệt thòi rất lớn trong xuất khẩu.
4. Nhiều chính sách, biện pháp để đẩy mạnh xuất khẩu đã được ban hành, nhưng việc triển khai thực hiện của các ngành chức năng còn chậm, thủ tục còn rườm rà, chưa thực sự khuyến kích doanh nghiệp.
5. Việc đẩy mạnh xuất nhập khẩu được quan tâm nhưng chưa đủ mức, công nghệ chế biến hàng xuất khẩu đa số đều lạc hậu, sản phẩm làm ra chất lượng thấp khó cạnh tranh. Việc đầu tư đổi mới công nghệ chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu của tỉnh hầu hết đều thiếu vốn để kinh doanh và đầu tư đổi mới công nghệ thiết bị, thông tin kinh tế thiếu kịp thời, các biện pháp cải thiện đầu tư và việc sắp xếp một số doanh nghiệp nhà nước theo chủ trương của tỉnh chậm được xử lý đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu của tỉnh.
Tóm lại, hoạt động xuất khẩu của Tỉnh trong những năm qua đã có những bước phát triển khởi đầu mạnh mẽ, hàng hóa xuất khẩu của tỉnh đã phần nào có vị trí trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất khẩu còn chưa cao và qui mô còn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của Tỉnh.
2/ Nhập khẩu:
Mặt được:
1. Tổng kim ngạch nhập khẩu toàn tỉnh 5 năm (1996-2000) thực hiện 499,55 triệu USD, bình quân mỗi năm thực hiện 299,91 triệu USD. Trong đó phần địa phương thực hiện 661,58 triệu USD, bình quân mỗi năm 132,37 triệu USD.
2. Qui mô và tốc độ nhập khẩu liên tục được gia tăng, thời kỳ 1996 - 2000 tăng bình quân 26,8%. Trong đó kim ngạch nhập khẩu phần địa phương bình quân mỗi năm giảm 0,62%.
3. Về cơ cấu hàng nhập khẩu: nguyên, nhiên, vật liệu phục vụ sản xuất luôn chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu hàng nhập khẩu, năm 1996 chiếm 43,2%, năm 2000 chiếm 44,89%. Riêng nhập máy móc thiết bị có xu hướng giảm, từ 20,88% năm 1996 xuống còn 7,26% năm 2000. Tỷ trọng hàng tiêu dùng tăng từ 35,92% năm 1996 lên 47,85% năm 2000, nguyên nhân tăng chủ yếu do doanh nghiệp của Tỉnh được là đầu mối nhập khẩu linh kiện lắp ráp xe gắn máy và tổng đại lý 2 mặt hàng bột ngọt Ajinomoto và dầu ăn Sailing Boat để đóng gói nên làm cho tỷ trọng nhập hàng tiêu dùng tăng lên.
Mặt chưa được:
1. Thị trường nhập khẩu chủ yếu (năm 1996 chiếm 91,3%, năm 2000 là 91,84%) vẫn là các nước Châu Á như: Đài Loan, Singapore … nên công nghệ, máy móc, thiết bị nhập khẩu đa số là công nghệ trung gian, chất lượng thấp; chưa tiếp cận được thị trường công nghệ nguồn, công nghệ cao; nhập khẩu thị trường Châu Âu - Mỹ còn chiếm tỉ trọng thấp (Châu Âu: 6,43%; Mỹ: 1,72%); nhiều doanh nghiệp còn nhập khẩu hàng đã qua sử dụng, trình độ kỹ thuật lạc hậu, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng hàng xuất khẩu.
2. Tỷ lệ nhập khẩu lớn về nguyên liệu gia công hàng may mặc, giày dép và túi xách thể hiện sự phụ thuộc đáng kể vào thị trường cung cấp của nước ngoài, trong khi nguồn nguyên liệu trong nước đối với các sản phẩm này có khả năng đáp ứng được, nhưng các doanh nghiệp chưa tìm được cách giới thiệu để cung ứng cho bạn hàng. Tỷ trọng nhập khẩu hàng tiêu dùng còn lớn.
III. NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINHNGHIỆM CHỦ YẾU:
Hoạt động thương mại trong những năm qua đã đạt được một số kết quả nhất định, mức tăng trưởng cao so với mức bình quân cả nước, nhất là tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và kim ngạch xuất khẩu. Trong điều kiện khách quan và chủ quan còn nhiều khó khăn thử thách, song những kết quả đạt được trong giai đoạn 1996 - 2000 là một thành công của Ngành Thương mại Tỉnh.
1. Nguyên nhân có ý nghĩa quyết định là: trong những năm gần đây chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước trong vấn đề phát triển thương mại đã được đổi mới tương đối phù hợp với tình hình, điều kiện thực tế của cả nước. Sự quan tâm chỉ đạo tích cực, thường xuyên của Bộ Thương mại trong việc triển khai thực hiện các định hướng, mục tiêu nhiệm vụ phát triển của Ngành; Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh có sự quan tâm sâu sát; sự đổi mới trong điều hành kinh tế của UBND tỉnh, sự tích cực, chủ động trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của Sở Thương mại và sự năng động, nỗ lực của toàn thể cán bộ, nhân viên và thương nhân trong toàn ngành đã góp phần để toàn ngành đạt được những kết quả nêu trên.
2. Phát huy vai trò của các chủ thể kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế trong việc phân bố và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường, là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển cùa Ngành Thương mại. Trong đó phân bố thị trường hợp lý cho từng thành phần kinh tế đóng vai trò quyết định, nó tạo điều kiện cho các đối tượng phát huy lợi thế của mình, cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh, phối hợp với nhau, bổ sung cho nhau để hình thành mạng lưới thương mại phù hợp, chuyển dịch hợp lý cơ cấu thị trường.
3. Quản lý nhà nước về thương mại đã bước đầu được đổi mới về chức năng, nhiệm vụ cũng như tổ chức bộ máy. Công tác triển khai, hướng dẫn các văn bản qui phạm pháp luật được tiến hành tương đối đầy đủ đã tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động thương mại Tỉnh phát triển.
4. Sự nỗ lực của các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm thị trường, tạo thêm nhiều mặt hàng mới để xuất khẩu, tìm biện pháp tạo vốn chú trọng đầu tư máy móc, thiết bị để cải tiến mẫu mã, nâng cấp các sản phẩm xuất khẩu, giảm dần tỷ trọng xuất thô.
5. Lập lại trật tự, kỷ cương trên thị trường, kiên quyết chống buôn lậu và gian lận thương mại, góp phần bảo vệ sản xuất kinh doanh và lợi ích người tiêu dùng là phương châm hoạt động và là mục tiêu của quản lý nhà nước về thương mại.
Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số tồn tại, yếu kém bắt nguồn từ những nguyên nhân sau:
1. Mức độ phát triển kinh tế của tỉnh còn thấp so với tiềm năng và vai trò của Tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, do xuất phát điểm để phát triển kinh tế của Tỉnh thấp hơn các địa phương khác trong khu vực như: Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai.
Là Tỉnh có tiềm năng lớn về công nghiệp, song phân bố chủ yếu lại chỉ ở khu vực Thành phố Vũng Tàu, còn lại hơn 70% diện tích và dân cư là vùng nông thôn, không những thế Tỉnh còn có tới 03 Huyện vùng sâu vùng xa và 01 Huyện Hải đảo, kinh tế khó khăn, khả năng phát triển chậm, dẫn đến phân bố thu nhập không đồng đều, nhìn chung thu nhập của các tầng lớp dân cư còn hạn hẹp, nhất là khu vực nông thôn, ảnh hưởng đến sức mua xã hội, hạn chế sự phát triển của ngành. Mặt khác, trong giai đoạn 1996 - 2000, tốc độ tăng trưởng có xu hướng chậm lại do chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực và một phần do cơ cấu kinh tế chưa phù hợp, thiếu chiến lược đầu tư trọng tâm, tình hình đó đã ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng chung của ngành trong thời gian qua.
2. Cơ chế, chính sách, pháp luật còn thiếu và nhiều chồng chéo, mâu thuẫn. Hệ thống văn bản qui phạm pháp luật chậm được ban hành, chậm bổ sung, sửa đổi, thậm chí nhiều văn bản mới ban hành đã tỏ ra thiếu khả thi, không phù hợp với thực tế. Tác động nhiều đến chiến lược phát triển kinh tế.
3. Bố trí cơ cấu đầu tư kinh tế của Tỉnh về nhiều mặt chưa hợp lý, kém hiệu quả, chưa có định hướng đầu tư sát với nhu cầu của thị trường; hiệu quả sản xuất, năng suất, chất lượng còn thấp, không đủ sức cạnh tranh. Trung ương chưa có chính sách, chiến lược đầu tư cho Tỉnh tương xứng với vùng kinh tế trọng điểm.
4. Kinh tế quốc doanh hoạt động còn kém hiệu quả, thiếu vốn kinh doanh và đầu tư đổi mới công nghệ, thông tin kinh tế thiếu kịp thời, chậm được xử lý sắp xếp lại, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Phần thứ hai
CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI - DỊCH VỤ5 NĂM 2001 – 2005
Cơ sở để xây dựng các chỉ tiêu, chương trình phát triển thương mại dịch vụ đến năm 2005 được xuất phát từ một số căn cứ sau:
Khách quan:
Dự báo một số yếu tố tác động từ tình hình kinh tế thế giới:
a) Dự báo chung về kinh tế thế giới năm 2002 - 2003:
Theo nhận định của các tổ chức kinh tế - thương mại quốc tế, tình hình kinh tế toàn cầu năm 2002 và các năm sau có tăng trưởng, nhưng mức tăng trưởng sẽ giảm so với năm 2000 và năm 2001 (là 4,7% va 4,2%);
Tuy nhiên, thương mại của các nước đang phát triển kém thuận lợi hơn năm 2000 và 2001.
Dự báo tăng trưởng thương mại hàng hóa và dịch vụ thế giới năm 2002 sẽ đạt 6,5%. Trong đó, tăng trưởng xuất khẩu của các nước phát triển dự báo đạt 5,2%, của các nước đang phát triển đạt 6,6%, xuất khẩu của các nước có nền kinh tế chuyển đổi đạt 6,5%. Đồng thời, tăng trưởng nhập khẩu của các khu vực trong năm 2002 dự báo giảm, nhưng sẽ cao hơn so với tăng trưởng xuất khẩu, nhất là tại các nước đang phát triển.
Xu hướng cung vượt cầu, giảm giá hàng hóa và dịch vụ trên thị trường thế giới có thể diễn ra trong cả năm do tăng trưởng thương mại toàn cầu năm 2001 và 2002 thấp. Dự báo giá dầu mỏ sẽ tăng 8,6%; giá hàng phi dầu mỏ tăng 4,5%. Chỉ số giá tiêu dùng có xu hướng tăng thấp hơn so với các năm trước đây do kinh tế toàn cầu lâm vào tình trạng suy thoái.
b) Tác động của xu hướng kinh tế thương mại thế giới đến Việt Nam:
* Tác động tích cực:
- Sự phục hồi của kinh tế Hoa Kỳ tạo thuận lợi cho xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam.
- Sự phục hồi kinh tế Đông Nam Á cũng thuận lợi cho ta.
- Giá dầu mỏ chưa ổn định, có thể tăng do chiến tranh lan rộng ở Trung Đông tạo cơ hội tăng kim ngạch xuất khẩu dầu thô của Việt Nam.
- Việc Việt Nam được đánh giá là một nước có môi trường chính trị - kinh tế ổn định sẽ tạo ra sức hấp dẫn mới đối với các nhà đầu tư nước ngoài và du khách quốc tế.
* Tác động tiêu cực:
- Những triển vọng khó dự đoán và không mấy sáng sủa của kinh tế thế giới gây ra sự trì trệ trong thương mại quốc tế, gián tiếp ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam.
- Kinh tế các nước là thị trường chủ yếu của ta vẫn còn rất nhiều khó khăn, chưa phục hồi, nhu cầu tiêu dùng chưa tăng; thị trường vốn bị thu hẹp, giá cả hàng xuất khẩu chưa được cải thiện.
- Luồng vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng giảm mạnh trong những năm gần đây sẽ làm giảm lượng vốn đầu tư nước ngoài vào các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Bên cạnh đó, Trung Quốc đã chính thức là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới với nhiều lợi thế hơn trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo ra sức ép đối với Việt Nam trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
- Môi trường thương mại thế giới kém thuận lợi, xuất hiện nhiều rào cản thương mại đối với hàng Việt Nam, trong khi ta chưa có kinh nghiệm đối phó; chất lượng hàng hóa, khả năng cạnh tranh còn hạn chế; xúc tiến thương mại chưa mạnh.
- Giá xăng dầu không ổn định gây khó khăn cho sản xuất, kinh doanh trong nước. Giá nguyên liệu, nông sản chưa có dấu hiệu phục hồi tiếp tục gây bất lợi cho các nền kinh tế dựa vào xuất khẩu nguyên liệu như Việt Nam.
- Cuộc chiến ở Nam Á và Trung Đông nếu lan rộng sẽ ảnh hưởng đến thị trường (thị trường bị thu hẹp) xuất khẩu của các nước, trong đó có Việt Nam.
Chủ quan:
- Các chỉ tiêu, tốc độ tăng trưởng trong thời kỳ 1996-2000 và 2001 của Tỉnh luôn đạt tương đối cao so với khu vực và cả nước.
- Hạ tầng kinh tế, cơ sở vật chất thương mại dịch vụ đã phần nào được quan tâm dầu tư.
- Các giải pháp của Tỉnh để phát triển các Ngành, lĩnh vực đã phần nào được chiến lược hóa, cụ thể hóa thành những chương trình, kế hoạch cụ thể, tạo cơ sở cho định hướng kế hoạch hàng năm.
- Quán triệt đường lối đổi mới của Trung ương Đảng và Nghị quyết của Đại hội tỉnh Đảng bộ, việc xây dựng và thực hiện Chương trình thương mại - dịch vụ 5 năm 2001 - 2005, có ý nghĩa quan trọng, cho việc định hướng phát triển của ngành. Với những mục tiêu tổng quát là:
+ Khai thác triệt để các năng lực sản xuất cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng xã hội hiện có, để phát triển thương mại - dịch vụ của tỉnh với tốc độ cao hơn mức bình quân chung của thương mại cả nước.
+ Tiếp tục đổi mới cơ cấu đầu tư huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật thương mại, tạo bước nhảy vọt về khả năng cạnh tranh của hàng hóa và kim ngạch xuất khẩu theo hướng phát huy lợi thế của từng ngành hàng, từng sản phẩm.
+ Bảo đảm lưu thông hàng hóa thông suốt trên thị trường trong nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa và văn minh thương mại, tạo ra nhiều lợi thế, chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện để thích nghi quá trình hội nhập kinh tế, thương mại thế giới.
Từ những mục tiêu tổng quát trên, Chương trình thương mại - dịch vụ 5 năm 2001-2005 có những mục tiêu cụ thể như sau:
1. Doanh thu thương mại - dịch vụ tăng bình quân 13,5%/ năm.
Trong đó: - Doanh thu thương mại tăng 13,6%;
- Dịch vụ tăng 13,3% (du lịch tăng 10,9%; dịch vụ dầu khí tăng 16,7%).
2. Giá trị xuất khẩu trên địa bàn trừ dầu khí tăng 16,6%/ năm.
Xuất phát từ những mục tiêu cơ bản nêu trên, các chương trình cụ thể phát triển Ngành Thương mại Bà Rịa -Vũng Tàu như sau :
I- ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI THỜI KỲ 2001 - 2005
1- Đối với Thương mại trong nước:
- Tiếp tục giữ vững ổn định thị trường, đảm bảo cung cầu hàng hóa, tăng tích lũy cho ngân sách nhà nước, cải thiện đời sống nhân dân trong tỉnh, góp phần phát triển kinh tế, thực hiện tốt các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
- Phát huy hơn nữa vai trò của các chủ thể kinh tế, tạo điều kiện phát huy mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế trong lưu thông hàng hóa, hình thành sự phân bố cụ thể, ổn định trong từng vùng, từng ngành hàng về vai trò của từng thành phần, có sự phối hợp chặt chẽ trong khâu tổ chức lưu thông và hình thành các kênh lưu thông ổn định, vững chắc và phù hợp với nhu cầu từng vùng, từng thị trường trong Tỉnh.
- Ổn định và phát triển thị trường trong nước đi đôi với phát triển và mở rộng thị trường ngoài nước, đẩy mạnh xuất khẩu; đẩy mạnh đầu tư sản xuất kinh doanh, trong đó chú trọng đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị công nghệ để nâng cao sức cạnh tranh và tạo tiền đề thuận lợi cho quá trình hội nhập.
- Xây dựng chiến lược kích cầu ngắn hạn, dài hạn để từ đó gia tăng sức mua, đẩy mạnh lưu thông hàng hóa, tạo đầu ra cho sản xuất. Mở rộng mạng lưới thương mại, nhất là địa bàn nông thôn.
- Phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là những dịch vụ mà tỉnh có lợi thế như: du lịch, cảng biển, vận tải biển, dầu khí...
- Đẩy nhanh tiến độ sắp xếp lại và thực hiện cổ phần hóa DNNN nhằm đa dạng hóa thành phần sở hữu, tạo nguồn lực tập trung mạnh hơn cho kinh doanh xuất nhập khẩu và chi phối thị trường. Đầu tư đổi mới công nghệ, đầu tư phát triển nguồn nhân lực, tăng cường hiệu quả quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh, tăng năng suất, giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường trong nước và thế giới.
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về thương mại trên địa bàn tỉnh, trên cơ sở nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động của Sở Thương mại và hệ thống quản lý thương mại - dịch vụ trên toàn Tỉnh.
Chỉ tiêu định hướng:
- Tổng doanh thu thương mại - dịch vụ toàn Ngành tăng bình quân 13,42%/năm. Trong đó:
+ Kinh tế quốc doanh chiếm 26,12%, tăng 4,7%/năm.
+ Kinh tế ngoài quốc doanh chiếm 73,88%, tăng 19,3%/năm.
2. Xuất nhập khẩu:
-Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu hàng đã qua chế biến, phấn đấu đến năm 2005 chiếm 75% tổng kim ngạch xuất khẩu; chú trọng nâng cao các mặt hàng xuất khẩu chủ lực (hải sản, nông sản, may mặc, giày da...), đặc biệt phải đẩy mạnh xuất khẩu tôm; đồng thời đẩy mạnh các mặt hàng khác, nghiên cứu các mặt hàng mới.
- Nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa, trên cơ sở đẩy mạnh đầu tư đổi mới công nghệ, dây chuyền thiết bị sản xuất hàng xuất khẩu. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với nhu cầu thị trường (cà phê, điều, bò, gà, heo...).
- Chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu đa dạng hóa bạn hàng; tiếp tục giữ và củng cố các thị trường truyền thống, đồng thời tích cực mở rộng thêm thị trường mới; chú trọng phát triển các thị trường có dung lượng lớn, đặc biệt coi trọng thị trường Trung Quốc, Nga, Hoa Kỳ…
- Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, đảm bảo cung cấp kịp thời thông tin thị trường, giá cả cho doanh nghiệp. Dự báo thị trường và định hướng hoạt động cho doanh nghiệp, thực hiện tốt vai trò hỗ trợ doanh nghiệp trong phát triển hoạt động thương mại.
- Tạo mọi điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp FDI đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao tỷ trọng của khối này trong tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh.
- Đẩy mạnh các hoạt động xuất khẩu tại chỗ mà tỉnh có tiềm năng như: du lịch quốc tế, xuất khẩu lao động...và các dịch vụ về cảng, hàng hải.
- Quản lý chặt chẽ nhập khẩu, hết sức coi trọng nhập khẩu công nghệ cao, công nghệ hiện đại từ các nước Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản phục vụ cho công nghiệp hóa - hiện đại hóa của tỉnh. Hạn chế nhập khẩu hàng hóa có trình độ kỹ thuật lạc hậu, ảnh hưởng đến năng suất, hiệu quả sản xuất và khả năng cạnh tranh của hàng hóa. Thay thế nhập khẩu bằng những mặt hàng trong nước sản xuất được đối với hàng tiêu dùng và các nguyên, phụ liệu.
Chỉ tiêu định hướng:
a) Xuất khẩu:
Dự kiến mức tăng trưởnng xuất khẩu toàn tỉnh tăng bình quân 14,97%/ năm. Trong đó:
- Doanh nghiệp trung ương: chiếm 96,77%, tăng 14,72%/ năm.
- Doanh nghiệp địa phương chiếm 2,98%, tăng 13,23%/ năm.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của các doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp: chiếm 0,25%, tăng 36,68%/ năm.
* Định hướng mục tiêu xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu:
Nhóm nông lâm, thủy hải sản:
- Thủy sản: Dự kiến xuất khẩu 16.178 tấn/năm, tăng 9,68%/ năm. Thị trường xuất khẩu chủ yếu: Nhật; Lào; Hàn Quốc; Đài Loan; Trung Quốc; Ý; Mỹ.
- Cà phê: Dự kiến xuất khẩu bình quân mỗi năm 9. 160 tấn, tăng 8,04%/năm.
- Tiêu: Dự kiến xuất khẩu 240 tấn/năm, tăng 31,24%/năm.
- Cao su: Dự kiến xuất khẩu 3.000 tấn/năm, tăng 23,76%/năm.
Nhóm Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệ :
- Hàng giày da và giày thể thao xuất khẩu: Dự kiến xuất khẩu 21,4 triệu USD/năm, tăng 12,35%/năm. Thị trường xuất khẩu; Đức; Hà Lan; Anh; Pháp; Ý; Tây Ban Nha; Bỉ.
- Hàng may mặc: Dự kiến xuất khẩu 15 triệu USD/năm, tăng 6,69%/năm. Thị trường xuất khẩu: Đài Loan; Singapore; Pháp; Nhật; Úc; Đức v.v..
b) Nhập khẩu:
Dự kiến mức tăng trưởng nhập khẩu toàn tỉnh tăng bình quân 12,52%/năm. Trong đó:
- Doanh nghiệp trung ương: chiếm 44,93%, tăng 13,61%/năm.
- Doanh nghiệp địa phương: chiếm 26,28%, tăng 5,45%/năm.
- Dự kiến các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu: Bộ linh kiện xe gắn máy 43.747 bộ/năm, tăng 3%/năm; bột ngọt (mỳ chính) 6.874 tấn/năm, tăng 2,4%/năm; vải 2.740 ngàn mét/năm, tăng 4,42 %/năm (biểu số 01 đính kèm).
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: chiếm 28,79%,tăng 17,99%/năm.
3. Định hướng phát triển một số thị trường xuất, nhập khẩu chủ yếu và biện pháp thực hiện:
3. 1 Thị trường Châu Á:
Trong những năm tới, do tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động, đặc biệt là xu hướng phát triển về phương Đông, nên Châu Á vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh (dự kiến chiếm khoảng 67,36%). Song, nhất thiết phải nâng tỉ trọng các thị trường khác.
Ở Châu Á, ngoài các bạn hàng đang chiếm tỉ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu của tỉnh như: Nhật; Hàn Quốc; Đài Loan; Thái Lan...; chú trọng đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Lào, là những thị trường tiềm năng, có nhiều điều kiện phù hợp với hàng hóa của ta; trong đó, đặc biệt quan tâm thị trường Trung Quốc. Mặc dù hiện nay hàng của ta phải chịu sự cạnh tranh quyết liệt với hàng Trung Quốc, nhưng chúng ta có điều kiện thuận lợi về một số mặt hàng mà Trung Quốc thiếu như: hải sản, cao su... nếu có chiến lược hàng hóa của ta có thể tham gia ngày càng nhiều hơn vào thị trường này.Tuy nhiên, với thị trường này, bài toán mà các doanh nghiệp của ta cần phải quan tâm là tìm giải pháp hạ giá thành sản phẩm, quản lý hoạt động xuất khẩu chặt chẽ, nhưng mềm dẻo, sáng tạo mới tạo được sức cạnh tranh để phát triển thị trường này. Bởi Trung Quốc là nước nổi tiếng trên thế giới về tài kinh doanh của thương nhân và sức đoàn kết cộng đồng người Hoa của họ.
Về kim ngạch xuất khẩu: Dự kiến xuất vào thị trường này đạt 100,94 triệu USD/cả thời kỳ, chiếm 67,36% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, tăng 55,9% so với 5 năm 1996 - 2000.
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu 5 năm 2001- 2005 cơ bản vẫn giống như các năm trước. Nhưng tìm mọi biện pháp để đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng tiêu dùng, hải sản, cao su, lương thực thực phẩm vào thị trường Trung Quốc, Lào, Cămpuchia, thay đổi cơ cấu xuất khẩu.
3. 2 Thị trường Âu-Mỹ:
Trong những năm tới, cơ cấu thị trường phải chuyển dịch sang một số nước Châu Âu và Châu Mỹ. Vì đây là thị trường tiêu thụ trực tiếp với dung lượng hàng hóa lớn và giá thường cao hơn các nước Châu Á. Tuy nhiên, bài toán đối với quản lý Nhà nước về xuất khẩu của Tỉnh nói chung và với các doanh nghiệp muốn đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa sang thị trường này nói riêng là: tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa thị trường này đòi hỏi rất cao; bởi vậy, muốn vào thị trường này, các doanh nghiệp phải chú trọng nâng cao về chất lượng hàng hóa. Đặc biệt mặt hàng lợi thế của tỉnh ta là hải sản, Tỉnh đang triển khai đề tài "áp dụng tiêu chuẩn HACCP trong sản xuất thủy sản xuất khẩu" để nhằm đáp ứng yêu cầu về an toàn thực phẩm tại các thị trường Mỹ và EU.
Nhưng, bên cạnh việc đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cấp các cơ sở chế biến, thì vấn đề tạo nguồn hải sản chất lượng cao cho các cơ sở chế biến như: đầu tư công nghệ bảo quản sau khai thác là một nhu cầu bức thiết hiện nay để tăng sức cạnh tranh hàng hải sản xuất khẩu của tỉnh trên thị trường thế giới.
Về kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đạt 35,82 triệu USD, tăng 67,39% so với 5 năm 1996-2000. Dự kiến các mặt hàng hải sản; giày da; may mặc có khả năng tăng thêm nhiều, trong đó hải sản sẽ có bước nhảy vọt đáng kể, kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu ngành hàng xuất khẩu.
II. CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI - DỊCH VỤ GIAI ĐOẠN 2001 - 2005:
Để có thể thực hiện tốt định hướng trên, các chương trình phát triển thương mại - dịch vụ triển khai thực hiện trong giai đoạn 2001 -2005 như sau:
1- Chương trình phát triển hạ tầng kinh tế thương mại:
- Hoàn thành dự án Quy hoạch phát triển mạng lưới chợ đến năm 2010 trên địa bàn tỉnh.
- Triển khai Dự án hoàn chỉnh, bổ sung qui hoạch mạng lưới kinh doanh xăng dầu trên địa bàn Tỉnh đến năm 2010.
- Xây dựng dự án qui hoạch hệ thống kinh doanh khí hóa lỏng (gas).
Các dự án qui hoạch là cơ sở để thực hiện đầu tư phát triển mạng lưới gồm:
- Tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống mạng lưới kinh doanh thương mại, xây dựng và hoàn thiện các trung tâm thương mại huyện, Thành phố Vũng Tàu, phát triển HTX thương mại - dịch vụ, cụ thể:
+ Đầu tư xây mới Chợ Vũng Tàu và cải tạo, nâng cấp, xây mới một số chợ xã (phường), xây dựng Trung tâm Thương mại - Dịch vụ các huyện Châu Đức, Tân Thành, Xuyên Mộc, Long Đất.
+ Đầu tư hệ thống bán hàng, tụ điểm kinh doanh thương mại - dịch vụ ở các vùng nông thôn, vùng sâụ, vùng xa.
+ Nhân rộng điển hình, phát triển thêm HTX thương mại dịch vụ.
KHÁI TOÁN NHU CẦU VỐN ĐẦU TƯ:
Tổng nhu cầu vốn đầu tư: 6.180 tỷ đồng. Trong đó:
* Riêng mức đầu tư các công trình thương mại lớn: 529 tỷ đồng.
Chia theo nguồn vốn:
. Vốn ngân sách nhà nước: 23 tỷ đồng
. Vốn các doanh nghiệp và các hộ kinh doanh: 396 tỷ đồng
. Vốn vay ngân hàng: 70 tỷ đồng.
Tính chất đầu tư:
- Nguồn vốn ngân sách nhà nước dùng để hỗ trợ xây dựng mạng lưới chợ, đặc biệt đối với các chợ và tụ điểm thương mại - dịch vụ ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Đầu tư xây dựng hạ tầng các trung tâm thương mại, xây dựng trung tâm hội chợ và triển lãm.
- Vốn của các doanh nghiệp và nhân dân tham gia góp vốn xây dựng và phát triển các công trình thương mại nhỏ gắn liền với hệ thống doanh nghiệp và dân cư trên địa bàn.
- Vốn vay ngân hàng: Dùng để đầu tư cho tất cả các loại công trình XDCB, các dự án phát triển của doanh nghiệp mà đảm bảo được yêu cầu cho vay của tổ chức tín dụng.
Chương trình này do Sở Thương mại chủ trì triển khai, phối hợp là các Sở: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính Vật giá, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Liên minh các Hợp tác xã và kinh tế hợp tác và UBND các Huyện, Thị xã, Thành phố thuộc tỉnh.
2- Chương trình phát triển mặt hàng xuấtkhẩu chủ lực:
- Đối với mặt hàng hải sản:
+ Từ nay đến năm 2005, nâng số lượng các doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận của EU (hoặc tổ chức chất lượng quốc tế lên ít nhất là 4 doanh nghiệp. Cụ thể triển khai: Công ty Chế biến XNK Thủy sản (Baseatood); Công ty Cổ phần Hải Việt, Công ty TNHH Tiến Đạt...
+ Đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao như: tôm, chả cá Surimi, cá lạng, mực rán, cá hấp và các sản phẩm cao cấp khác.
Tiểu chương trình (chương trình cụ thể ngành): do Sở Thuỷ sản chủ trì triển khai, phối hợp là các Sở Thương mại, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính Vật giá, Khoa học Công nghệ và Môi trường, các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu Thủy sản.
- Đối với hàng nông sản:
+ Quy hoạch công nghiệp chế biến, sơ chế nông sản. Nối kết chặt chẽ giữa sản xuất nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ.
+ Hình thành nhanh các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, vùng chuyên canh, sản xuất nông sản nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến. Cụ thể hình thành:
. Vùng chuyên canh cây cao su
. Vùng chuyên canh cây điều
. Vùng chuyên canh cà phê
. Vùng chuyên canh hồ tiêu
. Vùng chuyên canh cây ăn trái đặc sản
. Vùng chuyên canh rau an toàn và rau sạch
. Vùng chăn nuôi tập trung.
Trong đó: tập trung cao cho cây điều và cao su vì đây là lợi thế nông sản không phải địa phương nào cũng trồng được, đồng thời các mặt hàng này vẫn chưa bão hòa trên thị trường thế giới. Riêng cây cà phê cần nghiên cứu thay đổi chất lượng cây giống và kỹ thuật chăm sóc để đạt chất lượng cao hơn.
Về chăn nuôi tập trung cho con heo, gà vì đây là nguồn hàng có thể xuất khẩu tại chỗ thay thế cho nhập khẩu phục vụ dầu khí.
Từ đây, rút ra định hướng mặt hàng chủ lực của nhóm nông sản là: Cà phê, cao su, điều và các con heo, gà để có những chương trình cụ thể phát triển chuyên ngành, phục vụ cho xuất khẩu.
Tiểu chương trìnhnày do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp là các Sở: Thương mại, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính Vật giá và UBND các Huyện, Thị, Thành phố.
- Đối với hàng công nghiệp và TTCN:
+ Đầu tư chiều sâu các cơ sở sản xuất theo hướng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO, ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất để tăng năng suất, hạ giá thành, tăng khả năng cạnh tranh. Tập trung đầu tư cho các sản phẩm như may mặc, giày da, thủ công mỹ nghệ...
Cụ thể:
Có đề án tập trung mở rộng các nhà máy: của công ty cổ phần may Xuất khẩu Vũng Tàu, công ty Tramatsuco, công ty TNHH Hy Vọng... để tăng năng suất lao động, hoàn chỉnh hệ thống sản xuất đủ năng lực thực hiện các đơn hàng lớn, chuyển dần mục tiêu sản xuất từ gia công tiến tới hình thức mua nguyên liệu - bán sản phẩm và dần tiến đến trực tiếp xuất khẩu sản phẩm có nhãn hiệu, thương hiệu riêng.
+ Khuyến khích các thành phần kinh tế khác đầu tư vào lĩnh vực sản xuất đá mỹ nghệ và các ngành nghề truyền thống khác.
Tiểu chương trìnhnày do Sở Công nghiệp chủ trì triển khai, phối hợp là các sở, Ngành: Thương mại, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính Vật giá, Khoa học Công nghệ và Môi trường, các doanh nghiệp xuất khẩu hàng Công nghiệp, Hội Nghệ nhân Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
3. Chương trình đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, dự báo và phát triển thị trường:
- Tổ chức tốt và đẩy mạnh hoạt động của Trung tâm xúc tiến thương mại thuộc Sở Thương mại. Phát huy mạnh mẽ khả năng của các tổ chức XTTM khác, hình thành qui chế phối hợp giữa các tổ chức Xúc tiến thương mại nhằm phục vụ tốt nhất cho nhu cẩu của doanh nghiệp.
- Hỗ trợ các doanh nghiệp nắm bắt kịp thời thông tin thị trường, giá cả; tư vấn về khả năng cạnh tranh, cơ hội tiếp thị, thủ tục giao dịch ký kết hợp đồng thương mại, luật pháp về kinh doanh thương mại, tập huấn nâng cao kỹ năng về xúc tiến thương mại cho các doanh nghiệp, để giúp các doanh nghiệp đẩy mạnh kinh doanh, phát triển thị trường.
- Tạo cơ hội cho các doanh nghiệp giao lưu, giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm đối tác, thị trường thông qua các chương trình hội thảo, hội chợ, triển lãm, tổ chức các đoàn khảo sát nghiên cứu thị trường...
- Lập dự án xây dựng Website Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Lập hệ thống cơ sở dữ liệu kinh tế, các dự án đầu tư, nguồn nhân lực của Tỉnh để phục vụ tốt nhất cho nhu cầu thông tin của doanh nghiệp và của khách hàng nước ngoài.
- Có dự án đầu tư phát triển công tác thông tin thương mại trong các doanh nghiệp và đẩy mạnh vai trò tác dụng tin học hóa trong các cơ quan quản lý nhà nước về thương mại và các ngành chức năng liên quan trên địa bàn tỉnh.
- Nghiên cứu lập dự án chiến lược phát triển nhãn hiệu hàng hóa và thương hiệu cho doanh nghiệp Tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
- Tổ chức nghiên cứu, điều tra, phân tích và dự báo thị trường về tiêu thụ nông - hải sản, để tạo điều kiện cho doanh nghiệp và nông - ngư dân nắm bắt kịp thời thông tin, định hướng sản xuất, khai thác, nuôi trổng phù hợp với yêu cầu của thị trường.
- Xây dựng chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp tìm kiếm thị trường xuất khẩu, ngoài chính sách chung của Nhà nước. Có kế hoạch hỗ trợ cụ thể như: tổ chức và hỗ trợ kinh phí đưa đoàn đi nước ngoài khảo sát thị trường và tham gia các gian hàng trong hội chợ triển lãm quốc tế.
- Phối hợp với các tham tán thương mại của sứ quán ta ở nước ngoài hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong tỉnh nghiên cứu thị trường và liên doanh với các công ty nước ngoài.
Chương trình này do Sở Thương mại chủ trìtriển khai: phối hợp là các sở, Ngành: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính Vật giá, Ngoại vụ, Thủy sản, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chi nhánh Phòng Thương mại công nghiệp Việt Nam tại Bà Rịa - Vũng Tàu.
4. Chương trình đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh:
- Tập trung đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ tại các cơ sở sản xuất của tỉnh để nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh. Cụ thể:
+ Về hải sản: Sở Thủy sản chủ trì triển khai, phối hợp là các Sở Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính Vật giá, Khoa học Công nghệ và Môi trường.
* Đầu tư phát triển các dây chuyền sản xuất các sản phẩm hải sản ăn liền để tăng giá trị xuất khẩu.
* Tiếp tục mở rộng, nâng cấp và đầu tư thêm dây chuyền công nghệ mới cho các Xí nghiệp Đông lạnh. Đặc biệt là các cơ sở sản xuất mặt hàng tôm xuất khẩu.
* Đóng mới các tàu dịch vụ hậu cần nghề cá ngoài khơi để làm nhiệm vụ thu mua, bảo quản hải sản đảm bảo chất lượng cao, nhằm tạo nguồn nguyên liệu chất lượng cao, ổn định cho sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu.
* Có đề án triển khai việc sản xuất nước đá vẩy trên tàu đánh cá để bảo quản sản phẩm sau đánh bắt, nâng cao chất lượng nguyên liệu phục vụ cho chế biến.
+ Về nông sản:Do sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trìtriển khai, phối hợp là các Sở Kế hoạch Đẩu tư, Tài chính Vật giá, Khoa học Công nghệ và Môi trường.
* Đầu tư mở rộng, nâng cao công suất, đổi mới trang thiết bị các cơ sở sản xuất hiện có, chủ yếu là các cơ sở chế biến hạt điều, mủ cao su.
* Xây dựng nhà máy chế biến Cà phê hòa tan để tăng giá trị xuất khẩu và giảm lượng xuất khẩu nguyên liệu.
* Xây dựng đề án về bảo quản hàng nông sản sau thu hoạch phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
+ Về may mặc và giày da xuất khẩu:Do Sở Công nghiệp chủ trìtriển khai, phối hợp là các Sở: Kế hoạch và Đẩu tư, Tài chính Vật giá, Khoa học Công nghệ và Môi trường.
* Đầu tư đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý sản xuất, xây dựng chương trình quản lý theo chất lượng ISO và đầu tư hệ thống vệ sinh môi trường, nhằm tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp, giúp duy trì và phát triển thị trường xuất khẩu sang các nước có yêu cầu cao.
5. Chương trình đẩy mạnh tiêu thụ nông sản:
- Nghiên cứu, xây dựng khu trung tâm giao dịch tập trung về nông sản của Tỉnh hoặc các chợ đầu mối nông sản để tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng và nông dân giao dịch, giới thiệu sản phẩm, hợp đồng kinh tế.
- Nghiên cứu, hình thành mô hình thí điểm trạm giao dịch thu mua nông sản phục vụ cho xuất khẩu tại các Hợp tác xã Nông nghiệp.
- Xây dựng cơ chế, chính sách tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tìm kiếm thị trường tiêu thụ nông sản của Tỉnh.
- Tổ chức các hội chợ chuyên đề về nông sản, kết hợp với mô hình tham quan hội thảo tại nông trường, trang trại, ruộng, vườn ...
- Xây dựng hệ thống các mối quan hệ kết nối chặt chẽ giữa doanh nghiệp và nông dân trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, thông qua các hình thức ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm hoặc ký hợp đồng cung ứng vật tư sản xuất đối sản phẩm của nông dân ...
Chương trình này do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì, phối hợp là các Sở: Thương mại, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính Vật giá, Liên minh các Hợp tác xã và kinh tế hợp tác và UBND các Huyện, Thị, Thành phố.
6. Chương trình phát triển dịch vụ:
Tập trung phát triển các loại hình dịch vụ sau:
- Dịch vụ thương mại:Sở Thương mại chủ trì, phối hợp là các Sở Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính Vật giá, Giao thông vận tải, Hải quan Tỉnh.
+ Phát triển hệ thống Dịch vụ đại lý hưởng hoa hồng.
+ Xây dựng và phát triển Dịch vụ tạm nhập, tái xuất.
+ Dịch vụ chuyển khẩu.
+ Dịch vụ cung ứng hàng hóa cho tàu biển.
+ Đẩy mạnh phát triển các dịch vụ khác.
- Dịch vụ dầu khí:Sở Thương mại chủ trì, phối hợp là các Sở, Ngành: KH &ĐT, Tài chính Vật giá, Du lịch, Công nghiệp.
Trong lĩnh vực này, các doanh nghiệp của tỉnh cần tham gia chiếm lĩnh thị phần dịch vụ dầu khí nhiều hơn nữa. Dự kiến đến năm 2005, nâng tỷ lệ doanh thu về dịch vụ kỹ thuật từ 15 - 17% và dịch vụ đời sống từ 17-19% trong tổng doanh thu dịch vụ dầu khí trên địa bàn tỉnh.
+ Dịch vụ kỹ thuật bao gồm:
. Dịch vụ cảng, kho tàng, bến bãi.
. Dịch vụ cung ứng vật tư, thiết bị.
. Dịch vụ sửa chữa giàn khoan và bảo dưỡng phương tiện thủy.
+ Dịch vụ đời sống:
Dịch vụ cung cấp thực phẩm, khách sạn, du lịch..., đây là mảng công việc rất lớn và là một thế mạnh của địa phương, phải đầu tư phát triển loại dịch vụ này đạt chất lượng tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng yêu cầu của ngành dầu khí.
- Dịch vụ cảng biển: tập trung vào các loại dịch vụ:
+ Dịch vụ bốc xếp, vận chuyển hàng hóa.
+ Hoa tiêu.
+ Dịch vụ cho thuê kho ngoại quan.
+ Bảo dưỡng, sửa chữa tàu.
Du lịch là ngành kinh tế có nhiều tiềm năng, thế mạnh phát triển. Dự kiến tốc độ tăng trưởng thời kỳ 2001 -2005 là 15%.
(Chương trình này đã có đề án riêng của tỉnh).
Tuy nhiên, với vai trò gắn bó giữa thương mại và du lịch, trong chương trình phát triển này, thương mại cần nghiên cứu những vấn đề liên quan một cách sâu sắc hơn. Cụ thể:
- Xây dựng dự án nghiên cứu tập hợp các nhu cầu của khách du lịch xuất khẩu, thị hiếu của họ, tâm lý khách du lịch đối với các mặt hàng lưu niệm ... để từ đó, có những kế hoạch phối hợp với ngành du lịch xây dựng các cơ sở sản xuất hàng lưu niệm, hàng bán phục vụ khách du lịch quốc tế, nhằm gia tăng kim ngạch xuất khẩu tại chỗ.
-Tiểu chương trình này có thể đề xuất UBND Tỉnh bổ sung vào đề án phát triển du lịch của Tỉnh hoặc Sở Thương mại chủ trì, phối hợp là các Sở, Ngành: Du lịch, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính Vật giá, Công nghiệp, Hội nghệ nhân Thành phố Vũng Tàu, Long Hải, UBND các Huyện, Thị, Thành phố.
- Dịch vụ về thông tin liên lạc: do Bưu Điện Tỉnh chủ trì tập trung phát triển các tiềm năng theo thứ tự ưu tiên sau:
+ Dịch vụ viễn thông (điện thoại cố định, di động, điện tín, fax, thư điện tử, Internet v.v...).
+ Dịch vụ bưu chính (thư, bưu kiện, phát chuyển nhanh, điện hoa, chuyển tiền điện tử...)
- Dịch vụ về xuất khẩu lao động: do SởLao động - Thương binh và Xã hội chủ trìtriển khai, phối hợp là các Sở Giáo dục đào tạo, các Sở quản lý ngành có doanh nghiệp được cấp phép Xuất khẩu lao động, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ xuất khẩu lao động, các tổ chức tư vấn lao động.
+ Xây dựng kế hoạch, chiến lược xuất khẩu lao động dự kiến bình quân mỗi năm xuất khẩu khoảng 500 - 1000 lao động. Trong cả thời kỳ dự kiến xuất khẩu khoảng 4.000 lượt lao động.
+ Xây dựng chiến lược, kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu xuất khẩu lao động.
Các dịch vu khác: Phát huy lợi thế của tỉnh, đẩy mạnh hoạt động các loại dịch vụ cảng biển, hàng hải, khoa học công nghệ môi trường, bảo hiểm, tài chính, ngân hàng...Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trìtriển khai, yêu cầu: Từng ngành có chương trình, kế hoạch phát triển ngành mình đến năm 2005, Sở Thương mại phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm tổng hợp chương trình dịch vụ chung.
III- MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI THỜI KỲ 2001 - 2005:
Nhóm giải pháp về thị trường:
Thương mại trong nước:
- Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật để mọi người hiểu rõ và tự giác chấp hành pháp luật. Tổ chức tốt hoạt động QLTT nhằm ổn định thị trường, kiên quyết chống buôn lậu, gian lận thương mại và những hành vi vi phạm pháp luật trong kinh doanh. Xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế cùng phát triển, hợp tác, cạnh tranh lành mạnh.
- Tập trung triển khai thực hiện các chương trình phát triển thương mại - dịch vụ trong giai đoạn 5 năm.
- Kích cầu tiêu dùng bằng các hình thức như bán hàng có thưởng, bán trả góp, khuyến mại, quảng cáo và phát triển hình thức bán hàng thông qua bảo lãnh của ngân hàng v.v...
- Xây dựng qui chế, chương trình phối hợp giữa các sở, ngành, các doanh nghiệp có liên quan trong xúc tiến tìm kiếm thị trường tiêu thụ nông sản, đồng thời thông qua đó có chính sách hỗ trợ như: ứng vốn ngân sách, ưu đãi lãi suất để các doanh nghiệp có điều kiện hợp đồng chặt chẽ với nông dân trong việc sản xuất và thu mua nông sản trên địa bàn tỉnh.
- Xây dựng chiến lược khai thác, phát triển thị trường nông thôn, đặc biệt là việc áp dụng các phương tiện thông tin hiện đại để tuyên truyền và định hướng cho người tiêu dùng, giảm dần khoảng cách phân biệt giữa thị trường nông thôn và thành thị. Đẩy mạnh các hình thức dịch vụ bán hàng lưu động, bán hàng đến tận nhà.
- Định hướng mạnh cho đầu tư sản xuất hàng tiêu dùng thay thế hàng nhập khẩu. Tập trung kinh doanh các mặt hàng Việt Nam chất lượng cao.
- Xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể từng năm và kế hoạch tổng thể cả giai đọan, nêu rõ trọng tâm, trọng điểm của công tác tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường. Chủ động tìm ra những điểm chốt trong công tác QLTT của Tỉnh, đề xuất tham mưu cho UBND Tỉnh những chiến thuật đấu tranh với các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, các hình thức sản xuất hàng giả, hàng nhái và các thủ đoạn trốn lậu thuế.
- Tiếp tục thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính, giảm bớt phiền hà cho các thương nhân, góp phần thúc đẩy thương mại của tỉnh phát triển.
Xuất nhập khẩu:
Tiếp tục duy trì thị trường truyền thống và phát triển thị trường mới sang các nước Trung Đông và Châu Phi...
- Đa dạng hóa thị trường và bạn hàng xuất khẩu. Chuyển dịch cơ cấu thị trường theo hướng tăng nhanh các thị trường tiêu thụ trực tiếp có dung lượng lớn như Nhật Bản, EU, Mỹ...; giảm dần các thị trường trung gian. Từng bước khôi phục các thị trường truyển thống như Nga, SNG, Đông Âu... .
- Đẩy mạnh quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động trong tiến trình hội nhập với thị trường thế giới và khu vực để đẩy mạnh xuất khẩu; củng cố và phát triển thị trường ngoài nước; tìm các biện pháp để thâm nhập thị trường thông qua hệ thống tham tán thương mại của ta ở nước ngoài và các cộng đồng người Việt ở các nước; Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại nhằm tăng khả năng hướng dẫn và hỗ trợ các doanh nghiệp tìm kiếm thị trường và bạn hàng xuất khẩu.
- Ổn định và củng cố các khách hàng và thị trường truyền thống thông qua các biện pháp: tăng cường uy tín doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa và có chính sách ưu đãi với họ.
Nhóm giải phảp về tăng cường đầu tư:
- Tập trung đầu tư phát triển có trọng tâm, trọng điểm một số ngành, lĩnh vực có thế mạnh của tỉnh như hải sản, du lịch, công nghiệp gắn với cảng biển và khí đốt. Sử dụng có hiệu quả và phát huy tối đa công suất các công trình kinh tế như các hệ thống cảng, khu du lịch, ụ tàu, nhà máy xí nghiệp v.v…
- Tạo nguồn vốn đầu tư đổi mới công nghệ, theo hướng đầu tư từng bước, vốn ít nhưng hiệu quả kinh tế cao, đầu tư phù hợp với trình độ năng lực quản lý và tay nghề công nhân. Đặc biệt ưu tiên cho xuất khẩu để tăng kim ngạch, tập trung đầu tư công nghệ chế biến các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh như: hải sản, giày da, may mặc, cao su, cà phê, tiêu. Phấn đấu nghiên cứu mở ra mặt hàng mới trong xuất khẩu.
- Đầu tư đáp ứng mục tiêu tăng dần tỉ trọng hàng xuất khẩu đã qua chế biến theo tỷ lệ từ 66/34 như hiện nay lên 75/25 trong khoảng thời gian 5 năm tới bằng cách đầu tư chế biến sâu các mặt hàng nông – hải sản, hàng công nghiệp và TTCN (giày da, may mặc, túi xách...) và hàng tiêu dùng (dầu ăn, bột ngọt...).
Nhóm giải pháp tạo vốn để phát triển Ngành Thương mại:
- Huy động mọi nguồn vốn của các thành phần kinh tế trong tỉnh, trong nước và ngoài nước, nhưng tập trung vào nguồn vốn trong nước, khuyến khích tìm nguồn vốn trong tỉnh.
- Ban hành các chính sách cụ thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong tỉnh thực hiện việc liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước để tìm thêm nguồn vốn.
- Đa dạng hóa hình thức sở hữu doanh nghiệp, đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa các doanh nghiệp thương mại của tỉnh, nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động huy động nguồn vốn bằng các hình thức phát hành cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu. Thực hiện ngay việc bán khoán, cho thuê các doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm giữ để dùng nguồn vốn đó bổ sung cho các doanh nghiệp TNQD mạnh mà nhà nước xét thấy cần phải đầu tư.
- Lập phương án tổng thể cho các doanh nghiệp thanh lý một số tài sản không cần thiết để bổ sung vốn.
Nhóm giải pháp về nhân lực và tổ chức hoạt động thương mại:
- Xây dựng chiến lược tổng thể đào tạo đội ngũ cán bộ có đủ trình độ chuyên môn nghiệp vụ chuyên ngành cho mọi thành phần kinh tế, chú trọng đối với đội ngũ cán bộ trong các cơ quan và DNNN, nhằm tạo nên một lực lượng lao động thương mại phù hợp với từng thời kỳ phát triển.
- Khuyến khích và tạo điều kiện cho các đối tượng thuộc các thành phần kinh tế học tập, bồi dưỡng kiến thức kinh doanh thương mại, kiến thức luật pháp để thích ứng với từng thời kỳ phát triển của đất nước.
- Đối với các doanh nghiệp có qui mô tương đối lớn và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải xây dựng một đội ngũ lao động giỏi chuyên môn nghiệp vụ, có đủ năng lực đáp ứng mọi yêu cầu kinh doanh trong nước và quốc tế.
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về thương mại trên địa bàn tỉnh:
+ Tăng cường và kiện toàn bộ máy quản lý về thương mại từ tỉnh đến huyện để nâng cao năng lực, hiệu quả, hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với các hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh.
+ Xây đựng kế hoạch đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước, quản lý thị trường và quản lý kinh doanh nhằm đáp ứng dược yêu cầu trước mắt và lâu dài phát triển ngành thương mại tỉnh.
Nhóm giải pháp hỗ trợ về cơ chế, chính sách của Nhà nước:
- Xây dựng và hệ thống hóa các chính sách khuyến khích đầu tư cho thương mại dịch vụ nói riêng và cho kinh tế Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nói chung, các chính sách hỗ trợ tài chính, hỗ trợ xuất khẩu cho các doanh nghiệp trên địa bàn phải được hệ thống thành những qui định ổn định trong một thời gian tương đối dài đủ để các doanh nghiệp chủ động xây dựng và triển khai được kế hoạch hành động của mình.
- Hỗ trợ cho các doanh nghiệp có thị trường được vay vốn lưu động theo nhu cầu thương vụ, vay ưu đãi để doanh nghiệp đủ vốn đầu tư, nâng cấp các cơ sở chế biến hàng xuất khẩu.
- Đẩy mạnh hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện những điều kiện để được hưởng chính sách ưu đãi, khuyến khích xuất khẩu của Nhà nước. Cố gắng phát huy tối đa mọi khả năng để tìm kiếm nguồn hàng xuất khẩu.
- Tổ chức phối hợp, gắn kết các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu trong tỉnh lại với nhau, bằng cách thành lập các hiệp hội ngành hàng để thống nhất hỗ trợ nhau trong hoạt động xuất khẩu, tránh tình trạng bán phá giá làm thiệt hại chung cho mặt bằng giá tại địa phương.
- Có cơ chế hỗ trợ từ Ngân sách tỉnh, giúp đỡ các doanh nghiệp trong việc thâm nhập và mở rộng thị trường như: hỗ trợ kinh phí tham gia Hội chợ, triển lãm quốc tế. Tỉnh phối hợp với các tham tán thương mại của sứ quán ta ở nước ngoài hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong tỉnh nghiên cứu thị trường, tìm kiếm bạn hàng và liên doanh với các công ty nước ngoài.
- Có chính sách cụ thể riêng của Tỉnh về khuyến khích đẩy mạnh khai thác các loại hình dịch vụ như dịch vụ du lịch, xuất khẩu lao động và các loại dịch vụ có thu ngoại tệ khác.
IV - KIẾN NGHỊ VỀ CHÍNH SÁCH TẠO ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN:
Chính sách mặt hàng:
Nhà nước cần hỗ trợ các địa phương trong nghiên cứu xây dựng chiến lược mặt hàng, xác định các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh để tập trung phát triển. Hiện nay việc nghiên cứu tại địa phương có rất nhiều hạn chế, do thiếu cán bộ, không đủ khả năng, nên các dự án nghiên cứu thiếu tầm chiến lược, không bao quát được các yêu cầu, rất cần thiết được các cơ quan nghiên cứu phối hợp giúp đỡ, nhưng để thực hiện được vấn đề này cần có sự hỗ trợ của Nhà nước. Có chính sách hỗ trợ cho việc nghiên cứu sản xuất sản phẩm mới, sản phẩm đặc sắc để gia tăng xuất khẩu, mở rộng thị trường.
- Chính sách về thị trường và hội nhập:
Hình thành (thiết lập) các tổ chức xúc tiến thương mại cấp nhà nước ở các khu vực.
Bộ Thương mại cần tăng cường hỗ trợ các địa phương có được nhiều thông tin, hiểu biết về thị trường thế giới, các thông tin về hàng hóa (giá cả, mẫu mã, thị hiếu và đặc biệt là độ tin cậy của bạn hàng v.v...);
Công tác thông tin thương mại và dự báo thị trường là yếu tố rất quan trọng để phát triển thị trường. Đề nghị Bộ Thương mại có những thông tin đầy đủ hơn, cập nhật hơn trên trang Web của Bộ để giúp địa phương có những cơ sở chính xác thông báo cho doanh nghiệp.
- Chính sách về đầu tư:
Nhà nước cần có chính sách đầu tư thích hợp, đầu tư đặc biệt đối với vùng kinh tế trọng điểm, riêng đối với Bà Rịa - Vũng Tàu, nên nghiên cứu có chủ trương để lại một phần từ khoản thu dầu khí để đầu tư cho hạ tầng kinh tế- xã hội của Tỉnh.
Phần thứ ba
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Phân công trách nhiệm của các cấp, các ngành và các doanh nghiệp trong việc triển khai thực hiện chương trình:
1. UBND Tỉnh:
- Ban hành chỉ thị triển khai chương trình phát triển thương mại dịch vụ 5 năm trên toàn địa bàn.
- Thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình do 01 Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng Ban, thành viên là Giám đốc các sở, ban, ngành liên quan.
Vai trò của Giám đốc Sở Thương mại là thường trực Ban Chỉ đạo.
Ban chỉ đạo chịu trách nhiệmtrước Tỉnh ủy, HĐND, Chủ tịch UBND Tỉnh về nhiệm vụ triển khai, điều hành, theo dõi tiến độ và kết quả thực hiện chương trình.
- Thành lập tổ chuyên viên giúp việc cho Ban chỉ đạo, thành viên bao gồm cán bộ, chuyên viên các ngành là thành viên BCĐ.
2. Nhiệm vụ cụ thể của các ngành:
Căn cứ vào trách nhiệm của từng Sở, Ngành đã được phân công trong từng chương trình ở trên, cơ quan có vai trò chủ trì sẽ triển khai xây dựng kế hoạch chi tiết theo từng chương trình hoặc tiểu chương trình, theo tiến độ (có danh mục phân công chi tiết và tiến độ kèm theo chương trình này), các ngành phối hợp sẽ thực hiện những công việc do cơ quan chủ trì chương trình phân công.
Cơ quan chủ trì chương trình (tiểu chương trinh) chịu trách nhiệm trước Ban chỉ đạo về tiến độ, phương pháp triển khai và quá trình thực hiện từng chương trình cụ thể, hàng năm có báo cáo sơ, tổng kết chương trình, đánh giá tình hình thực hiện, kết quả cụ thể, báo cáo Ban chỉ đạo và gửi thường trực Ban chỉ đạo để tổng hợp chung.
3. Cơ chế làm việcvà phối hợp của các cơ quan trong triển khai chương trình phát triển Thương mại dịch vụ 5 năm:
-Ban chỉ đạo: Tổ chức triển khai, điều hành chung toàn bộ chương trình tổng thể phát triển Thương mại Dịch vụ. Ban chỉ đạo gồm các thành viên là lãnh đạo UBND Tỉnh, lãnh đạo các Sở, Ngành liên quan, làm việc kiêm nhiệm.
Trong quá trình điều hành, các văn bản do Trưởng Ban chỉ đạo ký sử dụng con dấu Ủy ban Nhân dân Tỉnh. Văn bản do Phó Ban chỉ đạo (Thường trực) ký sử dụng con dấu Sở Thương Mại. Các Văn bản hướng dẫn, chỉ đạo chuyên ngành khác, do các thành viên của Ban chỉ đạo ký sử dụng con dấu của cơ quan chuyên ngành.
-Các Sở, Ngành: Chịu trách nhiệm thực hiện các chương trình chi tiết theo danh mục phân công. Cơ quan chủ trì chương trình được quyền phân công trách nhiệm cho các thành viên phối hợp trong chương trình.
Các Sở, Ngành có thể thành lập bộ phận chuyên môn theo dõi, triển khai các chương trình, giúp cho thành viên Ban chỉ đạo tại sở, ngành đó. Các bộ phận chuyên môn của các Sở, Ngành có liên quan trong cùng chương trình có trách nhiệm phối hợp với nhau, giúp các thành viên Ban chỉ đạo nắm vững tình hình chung.
Chương trình phát triển Thương mại - Dịch vụ Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, giai đoạn 2001-2005 là một trong các chương trình trọng điểm do Tỉnh ủy, HĐND tỉnh chỉ đạo xây dựng và UBND tỉnh ban hành. Các sở, ngành, địa phương trong tỉnh có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc việc xây dựng kế hoạch triển khai./.