Quay lại

Thông báo số 456/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại Hội nghị tổng kết năm học 2025-2026, triển khai nhiệm vụ năm học 2026-2027

VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 456/TB-VPCP

Hà Nội, ngày 29 tháng 8 năm 2026

THÔNG BÁO

KẾT LUẬN CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ LÊ MINH HƯNG TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT NĂM HỌC 2025-2026, TRIỂN KHAI NHIỆM VỤ NĂM HỌC 2026-2027

Ngày 27 tháng 8 năm 2026, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã chủ trì Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết năm học 2025-2026, triển khai nhiệm vụ năm học 2026-2027. Tham dự Hội nghị có Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu; các đồng chí Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ: Văn phòng Chính phủ, Giáo dục và Đào tạo, Nội vụ, Tư pháp, Khoa học và Công nghệ, Y tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Thanh tra Chính phủ; Lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Tuyên Giáo Trung ương, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; đại diện Lãnh đạo: Văn phòng Trung ương Đảng, Ban Tổ chức Trung ương, Ban Nội chính Trung ương; Lãnh đạo các Hội, Hiệp hội: Khuyến học Việt Nam, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam; Cựu Giáo chức Việt Nam; Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam; Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố.

Sau khi nghe Bộ Giáo dục và Đào tạo báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ năm học 2025-2026, triển khai nhiệm vụ năm học 2026-2027, ý kiến phát biểu của các bộ, ngành, địa phương, cơ sở giáo dục, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng kết luận như sau:

I. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM HỌC 2025-2026

1. Về kết quả đạt được

Năm học 2025 - 2026 là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cùng các Nghị quyết đột phá của Bộ Chính trị trên các lĩnh vực then chốt, đặc biệt là Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Trong bối cảnh đó, ngành Giáo dục đã nỗ lực lớn, quyết tâm cao và đạt nhiều kết quả quan trọng với 08 kết quả nổi bật: (1) Thể chế, cơ chế, chính sách về giáo dục và đào tạo tiếp tục được rà soát, hoàn thiện; đã ban hành số lượng lớn văn bản pháp luật[1] tạo bước đột phá phát triển giáo dục và đào tạo và việc chăm lo, tôn vinh đội ngũ nhà giáo; (2) Cơ hội tiếp cận giáo dục tiếp tục được mở rộng; công bằng trong giáo dục được chú trọng. Các chính sách miễn, hỗ trợ học phí, sách giáo khoa, bữa ăn, tín dụng, học bổng hỗ trợ học sinh vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo tiếp tục được quan tâm. Tập trung xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới; (3) Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018 được triển khai hiệu quả; giáo dục STEM, ngoại ngữ, năng lực số, trí tuệ nhân tạo được chú trọng; học sinh Việt Nam tiếp tục đạt thành tích cao tại các kỳ thi Olympic khu vực và quốc tế[2]; (4) Sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông công lập và đội ngũ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, nhân viên trường học được triển khai quyết liệt theo đúng tinh thần chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước[3]; (5) Chính sách, chế độ phụ cấp, thu hút, sử dụng nhà giáo, nhân viên trường học được hoàn thiện[4]; ban hành các cơ chế, chính sách mới về giảng viên đồng cơ hữu, thu hút chuyên gia, nhà khoa học; (6) Giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chuyển biến tích cực; quy mô người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược tăng[5]; (7) Ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được đẩy mạnh; cơ sở dữ liệu giáo dục và đào tạo được kết nối với dữ liệu dân cư và VneID[6]; (8) Công tác chuẩn bị năm học 2026-2027 được triển khai tích cực, từ tuyển sinh đầu cấp, tăng cường cơ sở vật chất, mạng lưới trường lớp, xây dựng đội ngũ nhà giáo, chương trình và sách giáo khoa, hỗ trợ người dạy và người học theo đúng chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

2. Về tồn tại, hạn chế, khó khăn, thách thức

Bên cạnh kết quả đạt được, ngành Giáo dục còn một số tồn tại, hạn chế, khó khăn, thách thức: (1) Việc nắm, quán triệt sâu sắc, hiểu kỹ, hiểu đúng, tư duy chiến lược, chủ trương, đường lối của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo có mặt còn hạn chế; việc triển khai mới đạt kết quả bước đầu; chưa tạo chuyển biến thực chất; (2) Công tác tham mưu chính sách, hoàn thiện hệ thống quy định chưa đáp ứng yêu cầu; tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách về giáo dục và đào tạo có nơi còn chậm, chưa hiệu quả; năng lực thực thi ở một số cấp còn hạn chế; vẫn còn tình trạng thiếu giáo viên, phòng học, phòng chức năng, thiết bị dạy học; (3) Đổi mới tư duy, sáng tạo, mạnh dạn đột phá, dám thay đổi chưa mạnh mẽ; đổi mới bên trong ở một số nhà trường chưa thực chất, chưa tương xứng với đổi mới về thể chế và nguồn lực; phương pháp dạy và học, kiểm tra, đánh giá còn nặng về truyền thụ kiến thức, điểm số và thi cử; chất lượng sách giáo khoa có mặt còn hạn chế; còn tình trạng bệnh thành tích, vi phạm pháp luật, gian lận, dạy thêm, học thêm biến tướng, tiêu cực trong thi cử, gánh nặng chi phí của gia đình đóng góp vẫn còn diễn ra ở một số nơi, gây bức xúc, ảnh hưởng đến uy tín của ngành Giáo dục; (4) Giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, bảo đảm sức khỏe, thể chất, tinh thần, văn hóa học đường và an toàn trường học còn những bất cập; còn xảy ra bạo lực học đường, mất an toàn thực phẩm trong trường học và các biểu hiện lệch chuẩn. Đào tạo nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu; liên kết giữa đào tạo với doanh nghiệp, thị trường lao động chưa chặt chẽ; nghiên cứu khoa học chưa chuyển mạnh thành công nghệ, sản phẩm, sáng chế và giá trị gia tăng; (5) Chuyển đổi số, hoàn thiện cơ sở dữ liệu còn chậm, chưa đạt tiến độ; (6) Các địa phương có nơi chưa dành sự quan tâm thích đáng cho giáo dục; biên chế, trường lớp, thiết bị dạy học, bố trí công chức quản lý giáo dục chưa đầy đủ.

Thủ tướng Chính phủ đề nghị các cấp, các ngành, các địa phương, đặc biệt là ngành Giáo dục phải nhìn nhận đúng thách thức, yêu cầu đặt ra; thẳng thắn nghiêm túc, không né tránh những tồn tại, hạn chế nêu trên; xác định rõ nguyên nhân khách quan và chủ quan, trách nhiệm và có giải pháp khắc phục ngay trong năm học mới 2026 - 2027 và thời gian tới.

II. VỀ ĐỊNH HƯỚNG CHỦ ĐẠO VÀ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM NĂM HỌC 2026-2027

1. Định hướng chủ đạo

Năm học 2026 - 2027 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang tính đột phá, như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh tại buổi làm việc ngày 25 tháng 8 vừa qua về đánh giá kết quả 01 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 71- NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo: Năm học 2026 - 2027 là năm học đầu tiên sau Đại hội XIV của Đảng; không chỉ là năm học mới về thời gian mà phải là năm học mới về tư duy, cách làm và chất lượng, hướng tới tạo đột phá phát triển giáo dục, đào tạo.

Với tinh thần đó, năm học 2026 - 2027 phải là năm chuyển trạng thái từ tập trung xây dựng thể chế sang tổ chức thực hiện hiệu quả; từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển; từ kiểm đếm công việc sang đo lường kết quả; từ đổi mới bên ngoài sang đổi mới thực chất từ bên trong mỗi nhà trường, mỗi lớp học, mỗi người thầy và mỗi người học và từ bên trong toàn ngành Giáo dục. Thống nhất phương châm của năm học 2026-2027 là: “Đổi mới tư duy - Chuyển biến mạnh mẽ - Kết quả thực chất”, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan, địa phương tập trung quán triệt và thực hiện tốt một số định hướng chủ đạo sau đây:

(1) Chuyển mạnh trọng tâm từ hoàn thiện thể chế, chính sách sang tổ chức thực hiện đồng bộ, thực chất, tạo kết quả đầu ra rõ nét, đưa các chính sách mới về giáo dục, đào tạo thực sự đi vào cuộc sống. Tập trung xử lý các điểm nghẽn, giải phóng mọi nguồn lực; kết quả phải được đo bằng sự tiến bộ của người học, điều kiện làm việc của nhà giáo, hiệu quả hoạt động của nhà trường, chất lượng nguồn nhân lực.

(2) Tập trung xử lý các tồn tại, hạn chế về đội ngũ và cơ sở vật chất; bảo đảm “đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên”; không để học sinh vì hoàn cảnh khó khăn mà không được đến trường. Rà soát, xử lý tình trạng thiếu phòng học, phòng chức năng, trang thiết bị; quá tải trường lớp tại đô thị, khu công nghiệp. Sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục chuyển sang làm công tác giảng dạy; xác định vị trí việc làm, quy mô, tiêu chuẩn, quy chuẩn trường lớp để xác định biên chế. Chuẩn bị đầy đủ điều kiện cần thiết để đưa các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới vào hoạt động; có cơ chế quản lý, vận hành bền vững.

(3) Đổi mới thực chất từ bên trong ngành Giáo dục, từ quản trị nhà trường, đội ngũ nhà giáo đến nội dung, phương pháp dạy và học, thi, kiểm tra, đánh giá. Nghiên cứu tiếp thu ý kiến góp ý tâm huyết của giáo viên, chuyên gia để tiếp tục rà soát hoàn thiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, kịp thời điều chỉnh những bất cập. Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá; kiên quyết chống bệnh thành tích, gian lận trong dạy và học. Rà soát các quy định về hồ sơ, sổ sách, báo cáo; chấm dứt tình trạng phát sinh các loại hồ sơ sổ sách ngoài quy định; rà soát các yêu cầu, tiêu chí đánh giá, báo cáo để giáo viên tập trung vào việc dạy học, nâng cao chất lượng. Tăng cường giáo dục lịch sử dân tộc, truyền thống yêu nước, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống; ngoại ngữ; nâng cao năng lực số, STEM và sử dụng, ứng dụng AI có chọn lọc.

(4) Bảo đảm an ninh, an toàn trường học, an toàn thực phẩm; xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kỷ cương, “Thầy ra thầy - Trò ra trò”. Thực hiện nghiêm các quy định về phòng, chống bạo lực học đường, xâm hại trẻ em, tệ nạn xã hội, bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng; rà soát toàn bộ quy trình bảo đảm an toàn thực phẩm, đề cao trách nhiệm người đứng đầu.

(5) Đổi mới mô hình phát triển, nâng cao năng xuất, sức cạnh tranh của nền kinh tế phụ thuộc chính vào ngành Giáo dục. Do đó, giáo dục, đào tạo phải đi trước một bước phục vụ đổi mới mô hình phát triển của đất nước; giáo dục nghề nghiệp phải gắn chặt với doanh nghiệp và thị trường lao động; giáo dục đại học phải thực sự trở thành trung tâm đào tạo nhân tài, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ[7].

(6) Đẩy mạnh triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị; tập trung xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, lấy dữ liệu làm nền tảng đổi mới quản trị. Hoàn thiện các cơ sở dữ liệu giáo dục và đào tạo bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”, kết nối với dữ liệu dân cư và các cơ sở dữ liệu quốc gia. Đưa nội dung giáo dục về trí tuệ nhân tạo vào chương trình, hoạt động dạy và học phù hợp; đặc biệt là học bạ số của toàn bộ học sinh gắn với khám chữa bệnh, các chính sách xã hội.

2. Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của các bộ, cơ quan, địa phương

a) Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị, Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Đảng ủy Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 22 tháng 8 năm 2026 về đánh giá kết quả 01 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị; Chỉ thị số 31/CT- TTg ngày 05 tháng 8 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm năm học 2026 - 2027; tập trung xử lý kiến nghị của các địa phương; chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế, các cơ quan liên quan xem xét vấn đề trường đại học trong bệnh viện; triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia liên quan đến giáo dục và đào tạo.

- Chỉ đạo, hướng dẫn đổi mới thực chất quản trị nhà trường, nội dung, phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; nghiêm túc chấn chỉnh bệnh thành tích, không để xảy ra gian lận, tiêu cực; bảo đảm kỷ cương, an toàn trường học.

- Bảo đảm các điều kiện phát triển giáo dục; khắc phục tình trạng thừa, thiếu giáo viên và chênh lệch điều kiện giáo dục giữa các vùng, miền; xử lý ngay, không để xảy ra tình trạng thiếu sách giáo khoa, nhất là các khu vực khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo.

- Rà soát sắp xếp lại các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học theo tinh thần chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; hoàn thiện quy định đối với các cơ sở giáo dục mới; phối hợp chặt chẽ cùng Bộ Nội vụ, địa phương triển khai ngay các chương trình đào tạo về quản lý giáo dục, nâng cao trình độ cho giáo viên và cán bộ quản lý; tập trung nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và đào tạo nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhu cầu thị trường lao động; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo.

- Tập trung rà soát, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để tổ chức chu đáo Lễ khai giảng năm học mới 2026 - 2027 và khánh thành các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền vào sáng ngày 05 tháng 9 năm 2026; thực hiện nhiệm vụ khám sức khỏe đầu năm học cho học sinh.

- Xây dựng kế hoạch, phương án, lộ trình cụ thể về việc: (i) Rà soát, hoàn thiện Chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; (ii) Thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, cao đẳng; (iii) Nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; (iv) Hoàn thiện chính sách đối với nhà giáo; (v) Rà soát, hoàn thiện quy hoạch hệ thống mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, nghề nghiệp đến đại học, cao đẳng; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 10 năm 2026 (lưu ý có việc cần làm ngay trong năm học này; có việc cần làm trong những năm học tiếp theo).

- Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị, trình Chính phủ trước ngày 30 tháng 9 năm 2026.

- Rà soát tiêu chí, tiêu chuẩn diện tích, số lượng, định mức phòng học, lớp học... phù hợp với thực tiễn, nhất là tại các đô thị và khu vực có mật độ dân số cao; đề xuất với Thủ tướng Chính phủ các nhiệm vụ, giải pháp chỉ đạo các địa phương khắc phục triệt để tình trạng thiếu trường, thiếu lớp, thiếu giáo viên trong năm 2026.

-Tập trung triển khai hiệu quả Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 18 tháng 8 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ về Đề án “Chương trình học bổng toàn phần dành cho các nhà khoa học trẻ, sinh viên xuất sắc đi đào tạo tại các trường đại học hàng đầu thế giới về các công nghệ chiến lược” có kết quả ngay trong năm 2026.

- Tập trung nghiên cứu, triển khai giải pháp hiệu quả phòng, chống và xử lý nghiêm gian lận trong thi cử, kiểm tra, đánh giá, dạy và học.

b) Bộ Tài chính rà soát, bảo đảm tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo; ưu tiên bố trí ngân sách cho các nhiệm vụ cấp bách, trọng tâm, trọng điểm, nhất là các nhiệm vụ xây dựng trường, tổ chức học bán trú, nội trú, hạ tầng số, hỗ trợ người học khó khăn; bảo đảm đủ nguồn để thực hiện các chế độ, chính sách đối với người dạy và người học; khẩn trương đề xuất chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với đơn vị cung cấp xuất ăn cho các cơ sở giáo dục, y tế; rà soát, hoàn thiện chính sách thuế đối với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo.

c) Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu việc phân cấp, giao tổng biên chế cho địa phương tự chủ tuyển dụng và sử dụng, bảo đảm không thiếu giáo viên; rà soát thực trạng đội ngũ công chức quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo cấp xã, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hóa chuyên môn và bố trí điều tiết phù hợp; quy định vị trí việc làm công chức cấp xã.

d) Bộ Xây dựng phối hợp với các địa phương rà soát quy hoạch, bảo đảm quỹ đất cho trường học, nhất là tại đô thị, khu công nghiệp, địa bàn tăng dân số cơ học, các xã biên giới; không để phát triển khu đô thị, khu dân cư mới mà thiếu trường học.

đ) Bộ Y tế có biện pháp cụ thể tăng cường y tế trường học; chăm sóc sức khỏe thể chất, tinh thần; kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm trong cơ sở giáo dục.

e) Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, cơ quan liên quan có phương án phù hợp quản lý sử dụng điện thoại, mạng xã hội trong trường học; hạn chế rủi ro, ngăn chặn các nội dung độc hại trên không gian mạng và bạo lực học đường; phòng ngừa, phát hiện sớm, đấu tranh, xử lý kịp thời hành vi bạo lực học đường, mua bán, sử dụng thuốc lá điện tử, ma túy, xâm hại trẻ em, các tệ nạn xã hội khác trong và xung quanh trường học; hỗ trợ Bộ Giáo dục và Đào tạo đẩy nhanh việc cập nhật, hoàn thiện cơ sở dữ liệu ngành giáo dục, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia.

g) Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo tập trung triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

h) Đề nghị các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy xác định giáo dục và đào tạo là ưu tiên trọng điểm; quan tâm thường xuyên, chỉ đạo, hỗ trợ ngành Giáo dục thực hiện nhiệm vụ; yêu cầu đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố:

- Chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng giáo dục và đào tạo trên địa bàn; bảo đảm an toàn trường học, an toàn thực phẩm; kỷ cương dạy học và thi cử; điều kiện ăn, ở, học tập cho học sinh nội trú, bán trú.

- Tập trung quyết liệt cho việc hoàn thành các trường phổ thông nội trú liên cấp đợt 1 (khởi công năm 2025) tại các xã biên giới đất liền và khai giảng năm học mới.

- Rà soát nhu cầu, tuyển dụng hết biên chế được giao; điều động, bố trí, sử dụng hiệu quả đội ngũ giáo viên, không để tình trạng thiếu giáo viên kéo dài. Rà soát quy hoạch, bảo đảm ưu tiên quỹ đất, vốn đầu tư cho các khu vực thiếu trường lớp, đô thị, khu công nghiệp, vùng khó khăn, biên giới; rà soát các trụ sở dôi dư dành cho trường học.

- Chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương, nhất là vấn đề lạm thu, dạy thêm, học thêm, thi cử, an toàn trường học, an toàn thực phẩm; xử lý nghiêm sai phạm, không né tránh, không bao che; nâng cao năng lực quản lý cấp cơ sở.

- Nghiên cứu huy động các nguồn lực hỗ trợ phù hợp cho công tác giáo dục, đào tạo; thực hiện các chế độ, chính sách đối với nhà giáo, người học; bảo đảm sách giáo khoa, trang thiết bị dạy học theo quy định.

Văn phòng Chính phủ thông báo để các bộ, cơ quan, các tỉnh, thành phố và các cơ quan liên quan biết, thực hiện.


Nơi nhận:
- Thường trực Ban Bí thư (để b/c);
- Thủ tướng Chính phủ (để b/c);
- PTTgCP Lê Tiến Châu (để b/c);
- Văn phòng Trung ương Đảng;
- Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương;
- Ban Tuyên giáo Trung ương;
- Ban Nội chính Trung ương;
- Ban Tổ chức Trung ương;
- Trung ương Mặt trậnTổ quốc Việt Nam;
- Các bộ, cơ quan ngang bộ;
- Tỉnh ủy, Thành ủy, UBND các tỉnh, thành phố;
- Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh;
- Các hội, hiệp hội: KHVN, Liên hiệp các Hội KHKT VN, Cựu Giáo chức VN, các trường ĐH, CĐ VN;
- VPCP: BTCN, PCN Đỗ Ngọc Huỳnh; Trợ lý TTgCP, các Vụ: TKBT, PL, QHĐP, NC, TCCV;
- Lưu: VT, KGVX(02).DNam.

KT. BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM
PHÓ CHỦ NHIỆM




Đỗ Ngọc Huỳnh

[1] Đã ban hành 124 văn bản, gồm 03 Luật, 02 Nghị quyết của Quốc hội, 25 Nghị định và Nghị quyết của Chính phủ, 16 Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và 78 Thông tư.

[2] 08 đoàn dự thi đều có học sinh đoạt giải; trong đó có 15 HCV, 21 HCB, 07 HCĐ và 01 Bằng khen.

[3] Theo báo cáo của các địa phương, tổng số cơ sở giáo dục dự kiến giảm từ 37.515 xuống 18.575 cơ sở (giảm 50,5%); giảm 32.625 hiệu trưởng, hiệu phó và 11.041 nhân viên trường học.

[4] Chính phủ đã ban hành Nghị định số 182/2026/NĐ-CP ngày 22/5/2026, trong đó điều chỉnh tăng phụ cấp ưu đãi theo nghề của giáo viên lên mức từ 45% - 80%, của nhân viên trường học bổ sung 20%.

[5] Năm 2026, hơn 53% thí sinh đăng ký xét tuyển đại học có nguyện vọng vào các ngành STEM; chỉ tiêu 15 nhóm ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược đạt 138.535, tăng 13%.

[6] Cơ sở dữ liệu được cập nhật với khoảng 50 nghìn cơ sở giáo dục, hơn 27 triệu học sinh, sinh viên và trên 1,4 triệu giáo viên; tạo trên 18 triệu học bạ số.

[7] Tập trung cho bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, điện hạt nhân, đường sắt, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng mới và các công nghệ chiến lược.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu456/TB-VPCP
Ngày ban hành29/08/2026
Loại văn bảnThông báo
Ngày có hiệu lực29/08/2026
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýVăn phòng Chính phủ / Đỗ Ngọc Huỳnh
Phạm viTrung ương, Văn phòng Chính phủ
Trích yếuKết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại Hội nghị tổng kết năm học 2025-2026, triển khai nhiệm vụ năm học 2026-2027
Tình trạng hiệu lựcChưa xác định

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.