Quay lại

Thông tư liên tịch 09-TT/LB thông tư liên bộ 09-TT/LB năm 1968 hướng dẫn về bảo vệ chống sét cho các xí nghiệp sơ tán trong thời chiến do Bộ Lao động - Ủy ban kiến thiết cơ bản Nhà nước ban hành

ỦY BAN KIẾN THIẾT CƠ BẢN NHÀ NƯỚC – BỘ LAO ĐỘNG
*******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
*******

Số: 09-TT/LB

Hà Nội, ngày 04 tháng 7 năm 1968

THÔNG TƯ LIÊN BỘ

QUY ĐỊNH VÀ HƯỚNG DẪN VỀ BẢO VỆ CHỐNG SÉT CHO CÁC XÍ NGHIỆP SƠ TÁN TRONG THỜI CHIẾN

Chấp hành chủ trương của Đảng và Chính phủ, các xí nghiệp của trung ương cũng như địa phương phải phân tán, sơ tán đến những nơi an toàn để tránh những thiệt hại do chiến tranh phá hoại của địch gây ra, và tiếp tục sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, góp phần đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Tình hình đó đã đặt ra nhiều vấn đề mới cần phải được giải quyết. Một trong những vấn đề đó là công tác phòng, chống sét cho các xí nghiệp công nghiệp phân tán và sơ tán trong thời chiến.

Hiện nay, nhìn chung công tác phòng chống sét chưa được giải quyết một cách đúng mức: nhiều cơ sở chưa đặt vấn đề hoặc chưa tiến hành phòng, chống sét cho những công trình cần phải bảo vệ; một số nơi khác đã tiến hành phòng, chống sét nhưng chưa bảo đảm yêu cầu về kỹ thuật; ngược lại, có nơi lại tiến hành đặt thiết bị bảo vệ chống sét một cách tràn lan, gây lãng phí tiền của, vật tư, không phù hợp với phương châm xây dựng trong thời chiến.

Thông tư này ban hành nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng của công tác chống sét cho các cơ sở công nghiệp sơ tán trong thời chiến, đưa công tác quản lý kỹ thuật vào nề nếp, bảo vệ người, máy móc và công trình, tiết kiệm nguyên vật liệu.

Thông tư này chỉ quy định và hướng dẫn công tác phòng, chống sét cho các xí nghiệp công nghiệp sơ tán thông thường, mà không áp dụng cho những xí nghiệp có sản xuất và tàng trữ các chất dễ cháy, dễ nổ, khi cháy nổ có thể gây ra cái chết người hàng loạt hoặc thiệt hại lớn về kinh tế.

I. NGUYÊN TẮC CHUNG

1. Tất cả các cơ sở khi tiến hành công tác bảo vệ chống sét phải thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:

a) Đảm bảo an toàn cho người, máy móc và công trình một cách chắc chắn;

b) Hết sức tiết kiệm vật tư, triệt để sử dụng nguyên vật liệu cũ, sẵn có;

c) Đảm bảo thiết kế, thi công nhanh chóng để sớm đưa toàn bộ công trình hoặc từng bộ phận vào sản xuất. Có thể thiết kế, thi công hệ thống bảo vệ chống sét sau khi thiết kế, thi công các công trình chính của xí nghiệp. Nhưng trong nhiệm vụ thiết kế phải ghi rõ thời gian bắt đầu tiến hành thiết kế, thi công và thời gian phải hoàn thành hệ thống chống sét.

d) Hết sức chú ý đến tình hình phòng không, không vì việc đặt hệ thống bảo vệ chống sét mà để lộ địa điểm của xí nghiệp.

2. Những công trình sau đây nhất thiết phải bảo vệ chống sét đánh thẳng (trừ trường hợp đặc biệt nói ở mục 3 tiếp theo):

a) Những công trình thường xuyên có 20 người trở lên làm việc trong một ca và những công trình quan trọng của xí nghiệp, khi những công trình này không được bảo vệ bởi những công trình khác hoặc cây xanh; nếu những công trình đó chỉ được bảo vệ một phần bởi các công trình khác hoặc cây xanh, thì phải tiến hành bảo vệ phần còn lại;

b) Những công trình có mật độ máy móc bằng kim loại lớn, những công trình xây dựng trên các vùng đất có quặng kim loại, những ống khói, ống xã hơi… bằng kim loại mà chiều cao trên 10m, thì mặc dù đã được cây xanh bao che cũng phải tiến hành đặt hệ thống bảo vệ chống sét.

Những ống khói, ống xã hơi… bằng kim loại mà chiều cao dưới 10m, hoặc bằng gạch, bằng bê-tông… với bất kỳ chiều cao nào, chỉ tiến hành bảo vệ chống sét khi chung quanh nó không có cây xanh cao hơn bao che.

Ghi chú:

Những công trình quan trọng của xí nghiệp là những công trình có chứa các máy móc, thiết bị đầu mối của xí nghiệp đó, mà khi hư hỏng sẽ làm đình trệ dây chuyền sản xuất của toàn xí nghiệp. Ví dụ như: trạm phát điện, trạm phân phối điện, lò hơi… hoặc những công trình có chứa máy móc quý, đắt tiền, hiếm, khi bị hư hỏng sẽ khó thay thế và gây ra thiệt hại lớn về kinh tế.

Những công trình có mật độ máy móc bằng kim loại lớn, là những công trình có hệ số choán (Kc) lớn hơn 0, Hệ số choán là tỷ số giữa diện tích đặt máy móc và diện tích toàn bộ của ngôi nhà.

3. Những công trình sau đây không cần phải bảo vệ chống sét đánh thẳng:

a). Những công trình quan trọng của xí nghiệp mà hoàn toàn đã được bảo vệ bởi các công trình khác hoặc cây xanh chung quanh; các công trình xây dựng giữa thôn xóm, trong rừng cây với quy mô nhỏ và không cao hơn nhà cửa, cây cối trong vùng đó;

b) Những nhà kho chứa nhiều máy móc, vật liệu bằng kim loại lớn, mà không phải là loại quý, hiếm, đắt tiền;

c) Những ống khói, ống xả hơi… bằng kim loại có độ cao nhỏ hơn 10m, hoặc bằng gạch, bằng bê-tông… với bất kỳ độ cao nào, mà đã được cây xanh cao hơn bao che;

d) Những công trình đã đưa vào các hang động;

e) Tất cả các công trình xây dựng ở những vùng mà 10 năm liên tục trở lại đây không có sét đánh xuống mặt đất hoặc cây cối trong vùng đó.

4. Những trường hợp sau đây cần phải tiến hành bảo vệ chống sét từ đường dây dẫn điện, đường ống bằng kim loại truyền vào nhà:

a) Đường dây dẫn điện trên không và đường ống bằng kim loại đặt trên không đến các bộ tiêu thụ, mà có những chỗ cao đột xuất vượt lên so với nhà cửa và cây cối xung quanh, hoặc có những quãng băng qua đồng trống;

b) Đường dây dẫn điện trên không và đường ống bằng kim loại đặt trên không đến các bộ tiêu thụ mà cao hơn nhà cửa cây cối chung quanh;

c) Đường dây dẫn điện trên không và đường ống bằng kim loại đặt trên không đến các bộ tiêu thụ đặt thấp hơn cây cối, nhưng dây dẫn hoặc đường ống ngoài cùng cách cành cây nhỏ hơn một mét;

d) Đường dây dẫn điện trên không đến các bộ dùng điện mà đặt thấp hơn nhà cửa, cây cối trong vùng, nhưng chiều dài tổng cộng của hệ thống đường dây trên 1000m (không kể số dây dẫn điện trong nhà và chiều dài tổng cộng của hệ thống dây dẫn được tính cho một dây).

II. NHỮNG QUY ĐỊNH VÀ PHƯƠNG PHÁP BẢO VỆ CHỐNG SÉT ĐÁNH THẲNG

1. Công trình mái bằng chỉ cần bảo vệ các góc mái và tường chắn mái mặt mái không cần phải bảo vệ.

2. Các công trình mái dốc, có độ dốc bằng hoặc lớn hơn 27o, chiều cao không quá 16m, chiều rộng không quá 21m, khi tiến hành bảo vệ chống sét phải theo những quy định sau đây:

a) Nếu chiều dài của công trình không quá 30m, thì chỉ cần bảo vệ các góc mái và các góc chân mái;

b) Nếu chiều dài công trình từ 30m đến 60m, thì chỉ cần bảo vệ các góc mái, góc chân mái và bờ nóc.

Trường hợp đặc biệt, nếu công trình mái dốc có độ dốc nhỏ hơn 27o và chiều dài lớn hơn 60m, thì còn phải tăng cường bảo vệ cả chân mái nữa.

3. Các công trình có những kết cấu nhô cao khỏi mặt mái (ống khói, ống thông hơi…) thì ngoài việc bảo vệ chống sét cho công trình như quy định ở mục 1 và 2 (phần II), còn phải tăng cường bảo vệ cục bộ cho những kết cấu đó.

4. Các công trình có mái bằng kim loại, thì chỉ cần nối đất chân mái là đủ. Nếu chiều dài công trình từ 20m trở xuống, thì mỗi góc chân mái phải đặt một dây nối đất. Nếu chiều dài công trình lớn hơn 20m, thì cứ cách 20m đặt một dây nối đất.

5. Những công trình có mái làm bằng tranh, tre, nứa, lá… hoặc làm bằng vật liệu xây dựng dễ cháy, thì phải đảm bảo khoảng cách giữa các bộ phận dẫn điện của hệ thống chống sét, với công trình không được nhỏ hơn 40cm, nếu khoảng cách đó không bảo đảm được, thì hệ thống chống sét bắt buộc phải đặt độc lập.

6. Ống khói bằng kim loại có chiều dày lớn hơn 3mm, thì chỉ cần nối chân ống khói với bộ phận nối đất.

Nếu chiều cao của ống khói nhỏ hơn 10m, thì chỉ cần một dây nối đất; nếu lớn hơn 10m thì phải có ít nhất là hai dây.

Ống khói bằng gạch thì phải bảo vệ bằng kim loại thu sét. Nếu đường kính miệng ống khói lớn hơn 1m, thì phải bảo vệ ít nhất bằng 2 kim thu sét. Số dây nối đất cũng quy định như trường hợp ống khói bằng kim loại.

7. Các dây dẫn sét phải đặt theo những đường ngắn nhất kể từ bộ phận thu sét đến bộ phận nối đất; các chỗ uốn cong không được nhỏ hơn 90o.

Đối với các công trình có chiều cao nhỏ hơn 10m, thì một kim thu sét cho phép đặt một dây nối đất; nếu số kim thu sét lớn hơn 2, thì cho phép dùng một dây dẫn nối liền giữa các kim, và cứ 20m theo chiều dài của công trình, phải có một dây dẫn nối xuống dây nối đất.

8. Trị số điện trở nối đất của hệ thống chống sét đánh thẳng không được lớn hơn 20 ôm. Trường hợp điện trở suất của đất (tại khu vực xây dựng công trỉnh) có trị số lớn, thì phải dùng phương pháp cải tạo đất, hoặc đặt bộ phận nối đất ra xa (nơi có điện trở suất của đất nhỏ) để đảm bảo trị số điện trở nối đất nằm trong giới hạn. Khi đã thực hiện các biện pháp trên mà vẫn không đạt được giá trị số điện trở nối đất quy định, hoặc có thể thực hiện được nhưng quá tốn kém, thì trị số điện trở nối đất được phép tăng lên, nhưng không được quá 50 ôm.

9. Trị số điện trở suất của đất được xác định bằng cách dùng đồng hồ đo trực tiếp. Để tính đến ảnh hưởng của thời tiết, trị số điện trở suất của đất đo được phải nhân với hệ số Km = 1,4 khi do vào mùa khô, Km = 1,8 khi đo vào mùa mưa nếu nối đất theo kiểu bề mặt; và Km = 1,1 đến 1,3 nếu nối đất theo kiểu chôn sâu.

Khi không có điều kiện đo trực tiếp bằng đồng hồ, thì trị số điện trở suất của đất dùng trong tính toán được xác định một cách gần đúng theo bảng sau đây:


Loại đất

Trị số điện trở suất của đất (ôm/cm)

- Đất sét, đất vườn, đất ruộng, đất có pha cát, đất bùn, đất có lẫn quặng sắt, đất đen và đất có mạch nước ngầm.

- Đất thịt khô, đất pha cát ẩm, đất pha cát ướt, nước sông hồ.

- Đất cát thường, đất cát đen khô, đất cát lẫn sỏi.

- Đất cát khô, đất cát lẫn sỏi và đá dăm, đất lẫn đá vụn và cát từng vữa

0,5.104

1.104

5.104

10.104

10. Cho phép sử dụng cả đường ống kim loại chôn dưới đất (trừ các ống dẫn các chất dễ cháy nổ) làm cực nối đất tự nhiên để giảm bớt số cực nối đất nhân tạo của hệ thống bảo vệ chống sét.

Cho phép sử dụng bộ phận nối đất của hệ thống chống sét của đường dây dẫn điện truyền vào nhà làm bộ phận nối đất của hệ thống chống sét đánh thẳng, nhưng điện trở nối đất của nó, về trị số không được quá 20 ôm.

11. Bộ phận thu sét, có thể dùng kim thu sét, đai thu sét, hoặc cột thu sét độc lập:

a) Nếu dùng kim thu sét thì chiều cao có ích của kim không được quá 1m; với sắt tròn đường kính không được nhỏ hơn 12mm, với sắt dẹt hoặc sắt góc thì tiết diện không được nhỏ hơn 100mm2, trong đó bề dày không được nhỏ hơn 3mm;

b) Nếu dùng đai thu sét, thì tiết diện của đai không được nhỏ hơn 50mm2; có thể dùng sắt tròn, với đường kính tối thiểu là 8mm, hoặc sắt dẹt hay sắt góc với bề dày không được nhỏ hơn 3mm;

c) Nếu dùng dây thu sét thì nên sử dụng sắt tròn đường kính 8mm. Khoảng cách tối thiểu từ dây thu sét đến công trình là 60cm;

d) Nếu dùng kim thu sét độc lập, thì giá đỡ của kim có thể làm bằng tre, gỗ… nhưng không được cao hơn bờ nóc của công trình quá 0m5. Các điều kiện về chiều cao và kích thước của kim được như ở phần a.

Để chống gỉ, tất cả các chi tiết của bộ phận thu sét phải được mạ kẽm hoặc sơn bột nhôm đỏ (sơn dẫn điện).

12. Dây dẫn sét; phần đi trên không, tiết diện không được nhỏ hơn 28mm2; với sắt tròn đường kính không được nhỏ hơn 6mm, với sắt dẹt và sắt góc thì bề dày không được nhỏ hơn 3mm.

Phần đi dưới đất, tiết diện không được nhỏ hơn 50mm2, với sắt tròn đường kính không được nhỏ hơn 8mm, với sắt dẹt và sắt góc thì bề dày không được nhỏ hơn 3mm.

Dây dẫn sét nối giữa các bộ phận thu sét với nhau phải sơn bột nhôm, còn phần dẫn xuống bộ phận nối đất thì chỉ cần sơn chống gỉ.

Cấm dùng các loại dây nhiều sợi vặn xoắn làm dây dẫn sét.

13. Hình thức nối đất có thể dùng cọc, tia hoặc vừa cọc vừa tia. Khi dùng cọc, thì chiều dài của cọc không không được nhỏ hơn 2m và phải đóng xuống đất sao cho đầu trên của cọc ngập sâu từ 0,8 đến 1m; với sắt tròn đường kính không được nhỏ hơn 25mm, sắt ống thì đường kính ngoài không được nhỏ hơn 35mm và chiều dày thành ống không được nhỏ hơn 3,5mm, với sắt góc thì kích thước tối thiểu là 60x60x6 (mm); khoảng cách giữa các cọc (a) không được nhỏ hơn 2m; thanh nối giữa các cọc với nhau có thể dùng sắt tròn hoặc sắt dẹt, với sắt tròn đường kính không được nhỏ hơn 8mm, sắt dẹt thì kích thước tối thiểu phải là 12x4(mm). Cấm dùng dây dẫn nhiều sợi vặn xoắn làm thanh nối đất.

Khi dùng tia, có thể dùng sắt tròn, sắt dẹt hoặc sắt góc; với sắt tròn đường kính không được nhỏ hơn 8mm, với sắt dẹt thì kích thước tối thiểu là 12x4 (mm), với sắt góc thì kích thước tối thiểu là 60x60x6 (mm); chiều dài của tia không được quá 100m, khi kéo dài đến 100m mà không đạt được trị số điện trở nối đất quy định thì phải tăng thêm số tia hoặc cọc; tia phải chôn sâu dưới mặt đất từ 0m5 đến 0m8.

Toàn bộ bộ phận nối đất có thể mạ kẽm, mạ thiếc, hoặc sơn dẫn điện; nếu không có điều kiện mạ hoặc sơn thì chỉ được để trần; không được sơn các chất cách điện như các loại sơn thường, hắc-ín, nhựa đường…

14. Lắp đặt hệ thống chống sét phải bảo đảm chắc chắn và an toàn. Cách lắp đặt kim thu sét, đai thu sét, dây thu sét được trình bày ở mục III của phần hướng dẫn kèm theo.

Nếu dùng cột thu sét độc lập giá đỡ kim phải bảo đảm gió cấp VI không làm đỗ gãy.

Khoảng cách giữa các chân đỡ dây dẫn sét đi trên mái không được quá 1m5; đi dọc theo tường thì không được quá 2m (xem hình vẽ ở phần hướng dẫn).

Khoảng cách từ dây dẫn sét đến cửa sổ, cửa ra vào không được nhỏ hơn 1m5. Không được đặt dây dẫn sét nơi có nhiều người thường xuyên qua lại.

Bộ phận nối đất phải đặt chôn cách móng nhà và các lối đi lại ít nhất là 5m nếu là nối đất kiểu tập trung, và 0m5 nếu là nối đất kiểu tia. Khi chôn bộ phận nối đất phải lấp đất và đầm thật chặt.

Các mối nối của hệ thống chống sét tốt hơn hết là hàn điện hoặc hàn hơi. Nếu không có điều kiện để hàn, thì các mối nối được phép nối bằng bu-lông, đinh tán hoặc kẹp nối, nhưng mỗi mối nối phải có ít nhất là 2 đinh nối. Diện tích tiếp xúc của mối nối không được nhỏ hơn 100mm2; nếu hàn thì chiều dài của mối hàn không được nhỏ hơn 6 lần đường kính của dây nối lớn hơn (với sắt tròn) và 2 lần chiều rộng của dây nối (với sắt dẹt). Các mối nối phải bảo đảm chắc chắn về mọi mặt cơ giới và dẫn điện.

Các mối nối dưới đất, nếu dùng bu-lông hoặc đinh tán, thì nên bọc mặt nạ ngoài của mối nối bằng một lớp vữa xi-mang để chống gỉ.

III. NHỮNG QUY ĐỊNH VÀ PHƯƠNG PHÁP BẢO VỆ CHỐNG SÉT TỪ ĐƯỜNG DÂY, ĐƯỜNG ỐNG KIM LOẠI TRUYỀN VÀO CÔNG TRÌNH

1. Các đường dây dẫn điện trên không đến các bộ tiêu thụ cần phải nối đất các chân sứ ít nhất là hai cột trước khi dẫn vào công trình. Điện trở nối đất ở cột gần công trình nhất, về trị số, không được quá 20 ôm; cột thứ hai, không được quá 30 ôm.

Nếu cột bằng sắt và giá đỡ các chân sứ cũng bằng sắt, thì chỉ cần nối đất hai chân cột gần công trình, mà không phải nối đất từ các chân sứ, nhưng phải bảo đảm giữa xà và cột tiếp xúc tốt về điện; trị số điện trở nối đất quy định như trên.

Ngoài ra, để chống sét từ đường dây dẫn điện truyền vào nhà, còn dùng dây cáp ngầm chôn dưới đất. Đoạn cáp này phải có đủ độ dài ít nhất là 50m (tính từ công trình trở ra), và phải nối đất chân sứ và vỏ cáp tại cột mà đường dây dẫn điện trên không nối xuống đoạn cáp đó; trị số điện trở nối đất không được quá 20 ôm.

2. Các đường ống dẫn bằng kim loại đi trên không (ống dẫn hơi, ống dẫn nước…) phải được nối đất trước khi dẫn vào công trình. Trị số điện trở nối đất không được quá 20 ôm.

IV. NGHIỆM THU VÀ BẢO QUẢN

1. Hệ thống chống sét sau khi xây dựng xong phải được tổ chức nghiệm thu. Ban nghiệm thu gồm có đại diện đơn vị quản lý và sử dụng, đại diện đơn vị thi công, và đại diện đơn vị thiết kế.

Trước khi tiến hành kiểm tra nghiệm thu ở hiện trường, phải kiểm tra lại các bản vẽ thiết kế và thi công, bản vẽ sửa đổi (nếu có) trong quá trình thi công; biên bản đo điện trở nối đất của hệ thống chống sét.

Nội dung kiểm tra nghiệm thu:

a) Kiểm tra toàn bộ hệ thống dẫn điện chung; tiết diện, kích thước các bộ phận phải phù hợp với bản thiết kế, khoảng cách giữa hệ thống chống sét với công trình kiến trúc.

b) Sự đảm bảo ở các mối nối về chế độ bền cơ học và độ dẫn điện; quy cách các chỗ uốn cong;

c) Sự chống dột ở chân kim thu sét và chân đỡ dây thu sét;

d) Tình hình đất chung quanh vị trí đặt bộ phận nối đất.

2. Công tác kiểm tra bảo quản, tu sửa hệ thống chống sét do cơ quan quản lý sử dụng chịu trách nhiệm.

a) Hệ thống chống sét, nói chung cứ 2-3 năm phải được kiểm tra định kỳ một lần vào trước mùa mưa bão. Nội dung kiểm tra bao gồm:

- Các bộ phận dẫn điện có bị nóng chảy, cháy đứt hoặc bị mòn gỉ không? Các mối nối còn tốt không?

- Các khoảng cách quy định còn bảo đảm không?

- Chỗ chôn bộ phận nối đất, đất có bị lún không? Đo lại điện trở nối đất, nếu thấy trị số tăng quá 20% so với trị số cho phép thì phải có biện pháp tu bổ.

Tất cả các bộ phận của hệ thống chống sét nếu bị ăn mòn quá 30% tiết điện thì phải được thay thế.

b) Sau những lần sửa chữa nhà cửa, công trình, hoặc đào bới để đặt các thiết bị khác hay trồng cây… thì phải kiểm tra hệ thống chống sét xem có bị hư hỏng hoặc bị ảnh hưởng không? Ngoài ra, cần phải kiểm tra lại hệ thống chống sét sau những lần có giông bão, sấm sét.

V. TRÁCH NHIỆM THI HÀNH

A. Ủy ban hành chính các khu, tỉnh, thành có trách nhiệm:

1. Tổ chức phổ biến thông tư này đến các ty, sở, các ban, phòng và các ngành có liên quan trong tỉnh, thành.

2. Giao trách nhiệm cho các ban, phòng kiến thiết, ty, sở lao động và ty, sở kiến trúc phối hợp tiến hành các công việc sau đây:

a) Kiểm tra lại việc bảo vệ chống sét ở tất cả các cơ sở công nghiệp sơ tán trong tỉnh, thành và yêu cầu các cơ sở đó thực hiện theo đúng những điều quy định trong thông tư này.

b) Quyết định việc đặt hay không đặt hệ thống bảo vệ chống sét cho các xí nghiệp phân tán hay sơ tán ngay khi lập nhiệm vụ thiết kế hoặc xét duyệt thiết kế.

c) Ngoài ra, theo chức năng của mình, trong các cuộc kiểm tra, các ty, sở lao động cần kiểm tra đôn đốc việc thực hiện và quản lý công tác bảo vệ chống sét ở tất cả các cơ sở trong tỉnh, thành thuộc đối tượng thi hành thông tư này.

3. Giao trách nhiệm cho các ty, sở công nghiệp và các ngành có liên quan nghiên cứu và có kế hoạch cụ thể tổ chức cho các cơ sở thuộc ngành mình tiến hành công tác bảo vệ chống sét theo đúng tinh thần của thông tư này, sau đó báo cáo kết quả cho Ủy ban hành chính tỉnh, thành.

B. Các Bộ, Tổng cục và các ngành quản lý sản xuất tổ chức phổ biến thông tư này đến các cơ sở thuộc ngành mình, có kế hoạch theo dõi, kiểm tra, đôn đốc công tác bảo vệ chống sét ở các cơ sở trong ngành.

Công tác bảo vệ chống sét cho các xí nghiệp công nghiệp sơ tán, phân tán trong thời chiến là rất cần thiết và phải được quan tâm đầy đủ; yêu cầu các Bộ, Tổng cục, các ngành và các địa phương lưu ý theo dõi, rút kinh nghiệm thực tế, phản ánh cho Ủy ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước và Bộ Lao động để tiếp tục nghiên cứu, ban hành bổ sung cho thông tư này được hoàn chỉnh hơn.


KT. BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG
THỨ TRƯỞNG


Bùi Quỳ

KT. CHỦ NHIỆM ỦY BAN KIẾN THIẾT NHÀ NƯỚC
ỦY VIÊN




Bùi Văn Các

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu09-TT/LB
Ngày ban hành04/07/1968
Loại văn bảnThông tư liên tịch
Ngày có hiệu lực19/07/1968
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo31/07/1968
Cơ quan ban hành / Người kýBộ Lao động / Bùi Quỳ, Bùi Văn Các
Phạm viTrung ương, Bộ Lao động
Trích yếuThông tư liên bộ 09-TT/LB năm 1968 hướng dẫn về bảo vệ chống sét cho các xí nghiệp sơ tán trong thời chiến do Bộ Lao động - Ủy ban kiến thiết cơ bản Nhà nước ban hành
Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.