Quay lại

Thông tư 07-TC/CĐTC hướng dẫn trích lập các quỹ xí nghiệp năm 1974 của các xí nghiệp lương thực và công nghiệp chế biến thực phẩm, xây dựng cơ bản, thiết kế thuộc bộ lương thực và thực phẩm

BỘ TÀI CHÍNH
-------

Số: 07-TC/CĐTC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

Trung ương, ngày 20 tháng 04 năm 1976

Hướng dẫn trích lập các quỹ xí nghiệp năm 1974 của các xí nghiệp lương thực và công nghiệp chế biến thực phẩm, xây dựng cơ bản, thiết kế thuộc bộ lương thực và thực phẩm.

______________________________

Căn cứ chỉ thị số 324-TTg ngày 26/12/1974 và chỉ thị bổ sung số 23-Ttg ngày 28/1/1975 của Thủ tướng Chính phủ về việc xét duyệt công nhận và công bố hoàn thành kế hoạch Nhà nước năm 1974, sau khi đã bàn bạc với Bộ chủ quản, Bộ Tài chính hướng dẫn việc trích lập quỹ xí nghiệp năm 1974 của các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc Bộ Lương thực và Thực phẩm như sau:

I. ĐỐI VỚI CÁC XÍ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN THỰC PHẨM, XAY XÁT, KIẾN THIẾT CƠ BẢN, VẬN TẢI, THIẾT KẾ.

a.Đối với các xí nghiệp chế biến công nghiệp:

- Các xí nghiệp công nghiệp chế biến lương thực và thực phẩm: chè, thuốc lá, đường, bánh kẹo, muối và 13 nhà máy xay lớn, xí nghiệp cơ khí sửa chữa, cơ khí chế tạo, và các xí nghiệp chế biến bánh mỳ, mỳ sợi là những đơn vị hạch toán kinh tế độc lập, được trích lập các quỹ theo quy định ở nghị định số 236-CP ngày 10 tháng 12 năm 1970, thông tư bổ sung số 88-CP ngày 2 tháng 5 năm 1972 của Hội đồng Chính phủ và thông tư số 14-TC/CNXD ngày 1 tháng 8 năm 1974 của Bộ Tài chính.

- Đối với xí nghiệp máy xay con, chế biến bánh mỳ mỳ sợi, các địa phương nếu là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập nằm trong Sở, Ty lương thực thì được trích như công ty gia công chế biến của Nội thương theo Thông tư số 10-TC/TNGT ngày 9/4/1975 của Bộ Tài chính.

- Các đơn vị phụ thuộc khác không phải là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập thì Sở, Ty lương thực phải tính thêm cả các cán bộ công nhân viên của tổ chức này, để tính trích quỹ xí nghiệp.

- Chi cục Muối Thanh hoá, Nam Hà, Nghệ An, Hà Tĩnh được trích quỹ xí nghiệp như các Sở, Ty lương thực.

b/Đối với các đoàn xe vận tải, xây lắp, đơn vị khảo sát thiết kế:

- Đối với các đoàn xe vận tải hạch toán kinh tế độc lập thì được trích quỹ xí nghiệp theo Thông tư số 8-TC/TNGT ngày 13/3/1975 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét duyệt khen thưởng trích các quỹ cho các xí nghiệp thuộc ngành vận tải trong năm 1974.

- Đối với các xí nghiệp xây lắp, các Ban kiến thiết hạch toán kinh tế độc lập trích lập các quỹ theo Thông tư số 11-TC/CNXD ngày 31/3/1975 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc khen thưởng trích lập các quỹ xí nghiệp cho các đơn vị xây lắp năm 1974.

- Đối với các đơn vị khảo sát thiết kế là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập trích lập các quỹ xí nghiệp như Thông tư hướng dẫn số 12-TC/CNXD ngày 31/3/1975 của Bộ Tài chính về việc xét duyệt khen thưởng trích lập các quỹ cho đơn vị khảo sát thiết kế ngành xây dựng năm 1974.

- Đối với các đơn vị lái xe, Ban kiến thiết tự làm, các đội xây lắp ... trực thuộc các Sở, Ty và công ty lương thực không phải là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập, thì các Sở, Ty và Công ty lương thực sẽ cộng thêm số cán bộ công nhân viên có mặt đầu năm của tổ chức này để trích lập 2 quỹ của đơn vị mình.

- Đối với Toà soạn báo lương thực, hệ dự trữ thóc vật tư Nhà nước, sẽ trích theo Thông tư số 20-TC/TNGT ngày 12/5/1975 của Bộ Tài chính hướng dẫn khen thưởng các cán bộ công nhân viên làm nhiệm vụ quản lý kho dự trữ vật tư Nhà nước năm 1974. Cục cung ứng vật tư thì trích theo thông tư số 04/TC/TNGT ngày 3/3/1975 của Bộ Tài chính hướng dẫn khen thưởng trích lập các quỹ cho các đơn vị thuộc ngành Cung ứng vật tư kỹ thuật năm 1974.

II. PHẦN KINH DOANH THƯƠNG THỰC

Các Sở, Ty và Công ty lương thực là những đơn vị hạch toán kinh tế độc lập đều được xét duyệt và trích lập 2 quỹ (phúc lợi - khen thưởng) trong năm 1974 theo những quy định sau đây:

1/ Điều kiện trích lập 2 quỹ phúc lợi và khen thưởng dưới đây (gọi tắt là 2 quỹ):

a/ Phải có kế hoạch kinh tế - tài chính, xây dựng từ cơ sở lên, được Nhà nước duyệt chính thức.

b/ Đã chấp hành nghiêm chỉnh chế độ hợp đồng kinh tế.

c/ Có báo cáo quyết toán chính xác, trung thực, đầy đủ các mẫu biểu và đúng kỳ nộp báo cáo quyết toán như chế độ Nhà nước quy định. Riêng các đơn vị trọng điểm ngoài báo cáo quyết toán năm, còn phải gửi quyết toán quý cho Bộ Tài chính, cũng phải theo đúng tinh thần quy định trên. Mặt khác phải hoàn thành kế hoạch nộp ngân sách theo đúng chế độ Nhà nước quy định.

Đơn vị nào không đủ các điều kiện trên, thì không được trích 2 quỹ, mà chỉ được hưởng một khoản trợ cấp về phúc lợi và thi đua nói ở điểm “4” dưới đây.

2/ Mức trích 2 quỹ:

a/ Mức tính chung cho 2 quỹ tính theo một tỷ lệ (%) trên tổng số quỹ lương cấp bậc thực tế cả năm, của số cán bộ công nhân viên chức thuộc quỹ lương kinh doanh, sản xuất của đơn vị theo đúng thành phần quy định ở Thông tư số 88/CP ngày 5/1972.

b/ Mức trích quy định chung cho cả cấp I và cấp II được trích 8%.

3/ Tiêu chuẩn:

Các đơn vị có đủ điều kiện như nói ở điểm (1) và điểm (2 ) trên đây, có đủ các tiêu chuẩn sau đây mới được xét duyệt trích 2 quỹ:

a/ Hoàn thành chỉ tiêu (hiện vật) mua vào; còn bán ra thì bằng hoặc ít hơn chỉ tiêu (hiện vật) do Nhà nước quy định nhưng phải đảm bảo mọi chủ trương, chính sách và nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân.

b/ Hoàn thành kế hoạch nộp ngân sách Nhà nước theo đúng chế độ Nhà nước quy định.

c/ Thực hiện chỉ tiêu phí lưu thông thấp hơn hoặc bằng chỉ tiêu phí Nhà nước duyệt chính thức.

D/ Thực hiện chỉ tiêu về số lượng lao động, bằng hoặc thấp hơn quy định của Nhà nước; nhưng vẫn thực hiện bằng hoặc vượt năng suất lao động.


đ/ Không phạm khuyết điểm trong việc chấp hành các chính sách, chế độ phân phối, thu mua, giá cả của Nhà nước.


Khi xét duyệt trích lập 2 quỹ đơn vị nào không đạt 100% tiêu chuẩn trên thì xử lý như sau:


- Đối tiêu chuẩn (a) cứ (1%) không hoàn thành kế hoạch thì trừ từ (2%) đến (3%) số tiền được tính. Tiêu chuẩn (b) cũng xử lý như tiêu chuẩn (a).


- Đối tiêu chuẩn (c) , cứ (1%) không hoàn thành kế hoạch thì sẽ phải trừ từ (1%) đến (2%) số tiền được trích.


- Đối tiêu chuẩn (d) và (đ) thì căn cứ vào mức độ thực hiện mà giam mức trích từ 1 đến (1.5%) của số tiền được tính.

4/ Mức khống chế, mức trích và trợ cấp:

Tổng số tiền 2 quỹ được trích theo các quy định trên đây được phân ra:

- 50% cho quỹ phúc lợi

- 50% cho quỹ khen thưởng.

- Nếu quỹ khen thưởng tính bình quân đầu người lớn hơn 1 tháng lương bình quân cấp bậc thực tế, thì chuyển số chênh lệch lớn hơn sang quỹ phúc lợi.

Đối với các đơn vị không đủ điều kiện trích lập 2 quỹ hoặc do bị phạt vì không hoàn thành các chỉ tiêu mà số tiền được trích quả ít, dưới 10 đồng bình quân đầu người, thì được trợ cấp đủ 10 đồng bình quân đầu người, và lấy 7 đồng chi cho quỹ phúc lợi và 3 đồng chi cho quỹ khen thưởng.

Nguồn tiền trích lập 2 quỹ (phúc lợi và khen thưởng) tính vào lỗ - lãi của đơn vị. Đối với đơ vị được phép lỗ, Ngân sách sẽ cấp bù như hiện nay đối với đơn vị có lãi thì sẽ trừ vào lãi nộp.

III. MỘT SỐ ĐIỂM CẦN CHÚ Ý: Khi trích lập 2 quỹ (phúc lợi và khen thưởng).

1/ Việc trích lập và sử dụng 2 quỹ (phúc lợi và khen thưởng) phải theo đúng quy định tại các Nghị định số 235/CP ngày 4/12/1969, Nghị định số 236/CP ngày 10/12/1970 và Thông tư số 88/CP ngày 2/5/1972 của Hội đồng Chính phủ.

2/ Các Sở, Ty và Công ty lương thực khi báo cáo xét duyệt hoàn thành kế hoạch phải mời các Sở, Ty tài chính địa phương mình đến dự, để xem xét và tham gia ý kiến.

Báo cáo gửi Bộ lương thực và thực phẩm, nhất thiết phải có xác nhận của các Sở, Ty tài chính để Bộ Lương thực và thực phẩm có cơ sở kiểm tra xét duyệt và báo cáo với Nhà nước.

3/ Trong khi chưa được xét duyệt chính thức, các Sở, Ty và Công ty Lương thực được tạm trích 75% số tiền các quỹ xí nghiệp đã ghi trong năm kế hoạch, và khi duyệt chính thức sẽ được trích thêm số còn lại. Trường hợp trích quá số được duyệt chính thức, hoặc không đủ tiêu chuẩn được xét duyệt các quỹ thì phải trả lại phần đã trích qúa.

Đề nghị, Bộ Lương thực và thực phẩm chỉ thị cho các Sở, Ty và Công ty lương thực trực tiếp làm việc với các cơ quan tài chính các cấp, cùng kiểm tra và phân tích số liệu báo cáo hoàn thành kế hoạch; đảm bảo số liệu thật chính xác, trước khi tổ chức xét duyệt cho các Sở, Ty và Công ty lương thực trích các quỹ theo đúng Thông tư này.

4/ Việc trích các quỹ xí nghiệp toàn ngành lương thực và thực phẩm năm 1975, cũng áp dụng theo Thông tư này.


Tổng quan văn bản

Số ký hiệu07-TC/CĐTC
Ngày ban hành20/04/1976
Loại văn bảnThông tư
Ngày có hiệu lực20/04/1976
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýBộ Tài chính / Trịnh Văn Bính
Phạm viTrung ương, Bộ Tài chính
Trích yếuHướng dẫn trích lập các quỹ xí nghiệp năm 1974 của các xí nghiệp lương thực và công nghiệp chế biến thực phẩm, xây dựng cơ bản, thiết kế thuộc bộ lương thực và thực phẩm
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.