|
TỔNG CỤC BƯU ĐIỆN VÀ TRUYỀN THANH ******* Số: 75-TT-BH |
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ******* Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 1964 |
THÔNG TƯ
QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ TRANG BỊ PHÒNG HỘ LAO ĐỘNG CHO CÁN BỘ, CÔNG NHÂN VIÊN NGÀNH BƯU ĐIỆN VÀ TRUYỀN THANH
Kính gửi: Các Sở, Ty Bưu điện và truyền thanh,
Các Cục, Vụ, Phòng, Ban và đơn vị trực thuộc Tổng cục,
Các trường chuyên nghiệp và nghiệp vụ,
Thời gian qua, việc thi hành các thông tư và quy định của Tổng cục về trang bị dụng cụ phòng hộ lao động đã có tác dụng hạn chế được một phần tai nạn lao động xẩy ra và bảo vệ sức khỏe cho cán bộ, công nhân viên trong ngành. Nhưng hiện nay nhiệm vụ sản xuất của nhà máy, công trường và các đơn vị ngày càng phát triển, với điều kiện làm việc của mỗi nghề lại khác nhau. Chế độ trang bị trước đây ban hành chưa đầy đủ và sát với từng công việc theo yêu cầu của sản xuất.
- Điều chỉnh và bổ sung thêm trang bị dụng cụ phòng hộ lao động cho thích hợp với điều kiện sản xuất của các nghề hiện nay.
- Quy định trách nhiệm cụ thể của các đơn vị trong việc mua sắm, cấp phát, theo dõi, bảo quản sử dụng, của tập thể và cá nhân được trang bị.
- Làm cho dụng cụ phòng hộ lao động ngày càng có tác dụng tích cực hơn nữa trong việc bảo đảm an toàn và sức khỏe cho cán bộ, công nhân viên trong sản xuất.
I. ĐIỀU KIỆN VÀ ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC TRANG BỊ DỤNG CỤ PHÒNG HỘ.
a) Điều kiện được trang bị phòng hộ:
Những cán bộ, công nhân viên làm việc trong một hay nhiều điều kiện sau đây, thì được trang bị cá nhân, tập thể, hoặc cho mượn tuỳ theo công việc thường xuyên hay không thường xuyên:
1. Làm việc trực tiếp ở những nơi có chất độc, hơi độc, khí độc; hôi thối, bụi bặm quá tiêu chuẩn.
2. Làm việc, tiếp xúc với nơi nóng, vật nóng quá tiêu chuẩn.
3. Làm việc nơi ánh sáng chói mắt hại đến mắt.
4. Làm việc trong hầm kín, buồng kín thiếu không khí.
5. Làm việc tiếp xúc với vật sắc cạnh, nhọn, nặng, ráp có thể làm xây xát da thịt.
6. Làm việc thường xuyên nơi có tiếng động quá mạnh hại thính giác.
7. Làm việc tiếp xúc với thiết bị có điện hoặc gần điện có thể gây tai nạn điện giật.
8. Làm việc trên cao từ 3m trở lên.
9. Làm việc thường xuyên trong rừng rậm, leo núi, đi biển, qua sông, suối.
10. Thường xuyên lưu động làm việc ngoài trời chịu ảnh hưởng của mưa nắng, gió rét mà công việc không thể trì hoãn được.
11. Làm việc nơi lầy lội, dơ bẩn có thể bị ăn lở loét chân tay.
12. Những công việc ở đơn vị không thường xuyên với chất độc và nguy hiểm, chỉ làm một thời gian ngắn sau đó lại đi làm việc khác thì không nhất thiết phải trang bị đầy đủ theo tiêu chuẩn quy định, mà chỉ mua sắm một số dự phòng cần thiết cho công việc đó khi cần thì dùng.
b) Đối tượng được trang bị phòng hộ:
1. Cán bộ, công nhân viên trong biên chế chính thức.
2. Công nhân viên tạm tuyển, hợp đồng (lực lượng cố định)
3. Công nhân viên học nghề.
4. Công nhân viên làm khoán do cơ quan xí nghiệp quản lý về tổ chức nhân lực và kỹ thuật sản xuất, hưởng theo giá công chỉ đạo. Nếu hưởng theo giá khoán tự do thì sẽ tính khấu hao và trừ dần vào giá khoán.
5. Sinh viên, học sinh hết hạn học ở trường về tập sự tại xí nghiệp, công trường và các Sở, Ty.
6. Cán bộ kiểm tra, nghiệm thu, đội trưởng, đội phó thi công, cán bộ, công nhân kỹ thuật, nghiệp vụ hướng dẫn công tác tại hiện trường, cán bộ lãnh đạo quản lý xí nghiệp nếu phải làm việc trong những điều kiện nói trên cũng được trang bị cá nhân (nếu làm việc thường xuyên) hoặc cho mượn (nếu làm việc không thường xuyên).
7. Sinh viên, học sinh các trường chuyên nghiệp, nghiệp vụ hay phổ thông về thực tập ở xí nghiệp, công trường và Sở, Ty nếu làm việc trong những điều kiện nói ở điều A, thì cũng được trang bị phòng hộ, nhưng các trường có học sinh cử đi phải chịu trách nhiệm mua sắm dụng cụ trang bị phòng hộ cho anh chị em đó.
II. CHẾ ĐỘ SỬ DỤNG VÀ BẢO QUẢN DỤNG CỤ PHÒNG HỘ.
a) Chế độ sử dụng:
1. Tổ, cá nhân được cấp phát hoặc được mượn dụng cụ phòng hộ chỉ được sử dụng những dụng cụ đó trong sản xuất, không được dùng vào việc riêng.
2. Người được trang bị cá nhân hay được mượn dụng cụ phòng hộ khi làm việc nhất thiết phải sử dụng.
3. Dụng cụ phòng hộ cấp cho tổ hoặc cá nhân đều không được tự ý thay đổi sửa chữa, nếu có gì bất hợp lý thì đề nghị với Ban bảo hộ lao động của đơn vị nghiên cứu giải quyết.
4. Khi giao dụng cụ phòng hộ lao động cho công nhân viên sử dụng phải hướng dẫn cách sử dụng, bảo quản thật chu đáo, dụng cụ phòng hộ cấp cho công việc nào chỉ dùng cho công việc ấy.
5. Người được trang bị dụng cụ phòng hộ nếu đổi đi làm việc khác không có tiêu chuẩn trang bị thì phải trả lại đơn vị nếu chuyển sang làm việc mới cùng đơn vị xét cần trang bị thêm hoặc rút bớt sẽ được điều chỉnh dụng cụ trang bị theo tiêu chuẩn của công việc mới.
6. Dụng cụ phòng hộ hết thời gian sử dụng và những thứ không quy định thời gian sử dụng nếu không dùng được nữa đều phải nộp thứ cũ thì mới được lĩnh thứ mới. Trường hợp làm mất, hỏng vì lý do nào đó, trong khi chờ đợi xử lý của cấp có thẩm quyền thì tạm thời được cấp thứ mới làm việc để bảo đảm an toàn và sức khỏe.
b) Chế độ bảo quản:
1. Dụng cụ trang bị phòng hộ lao động là tài sản của công cấp phát cho tổ, cá nhân hay cho mượn tạm thời, mọi người đều phải có trách nhiệm giữ gìn, bảo quản cẩn thận và sử dụng đúng chế độ quy định. Các đơn vị phải có sổ cấp phát ghi chép đầy đủ và theo dõi thời gian sử dụng chặt chẽ.
2. Trước khi giao cho công nhân sử dụng phải kiểm tra thử lại dụng cụ trang bị phòng hộ lao động bảo đảm chất lượng, nhất là các thứ dây an toàn, dụng cụ cách điện, phòng nhiễm độc, phao bơi …
3. Những dụng cụ trang bị phòng hộ dự phòng và dùng chung phải quy định chỗ để như giá tủ, phải chọn nơi khô ráo, thoáng khí, tránh ẩm ướt, mối, mục hoặc han gỉ và phải phân công người bảo quản trông nom rõ ràng.
4. Để tiện cho việc bảo quản sử dụng, trên các dụng cụ trang bị phòng hộ cần có dấu riêng “B.H.L.Đ” của đơn vị bằng sơn màu hoặc mực không phai, nếu là bằng vải như quần áo, mũ yếm thì nên đính chữ bằng chỉ khác màu với vải.
5. Người được cấp phát phải thường xuyên giặt giũ, lau chùi, tu sửa, nếu hư hỏng nhỏ thì tự sửa chữa lấy, nếu không sửa được mà phải thuê thì được thanh toán theo hoá đơn, nếu hư hỏng nặng và nhiều thì đơn vị phải tổ chức việc sửa chữa lại để bảo đảm chất lượng những dụng cụ đó.
Khi thay đổi công tác nếu phải nộp lại dụng cụ phòng hộ lao động cho đơn vị thì phải giặt giũ, lau chùi sạch sẽ.
III. KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT
Để khuyến khích những người có thành tích trong việc bảo quản, sử dụng dụng cụ phòng hộ lao động, căn cứ theo tiêu chuẩn thời gian đã quy định, nếu cá nhân hoặc tập thể nào giữ gìn được tốt, kéo dài thêm được thời gian sử dụng mà vẫn bảo đảm chất lượng thì được tính vào thành tích thi đua và được xét thưởng bằng vật chất tuỳ theo thành tích lớn nhỏ (hình thức thưởng bằng vật chất sẽ có quy định và hướng dẫn sau). Tuy nhiên phải hết sức coi trọng việc bảo đảm an toàn không được vì tiết kiệm mà không hoặc ít sử dụng dụng cụ phòng hộ, hay dụng cụ không còn bảo đảm an toàn củng cố sử dụng thêm.
Đối với những người thiếu ý thức trách nhiệm, không giữ gìn bảo quản dụng cụ phòng hộ cẩn thận để hư hỏng hoặc mất mát không có lý do chính đáng thì các đơn vị tuỳ theo lỗi nặng nhẹ mà xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc bắt bồi thường theo giá trị còn lại (trước khi hư hỏng hoặc mất mát). Việc xử lý bồi thường do cấp phụ trách đơn vị (sở, ty, công ty, nhà máy…) xét và quyết định với sự tham gia của công đoàn cùng cấp. Số tiền bồi thường sẽ trừ dần vào lương hàng tháng, nhưng để khỏi ảnh hưởng đến sinh hoạt của người đó mỗi tháng không nên trừ quá 20% tiền lương và phụ cấp bản thân. Đối với những người lợi dụng đem bán với giá cao hơn thì khi phát hiện phải hoàn trả toàn bộ số tiền đã bán được và còn phải thi hành kỷ luật nặng hơn.
IV. TRÁCH NHIỆM THI HÀNH
Các đơn vị quản lý sản xuất, sự nghiệp, doanh nghiệp, các trường căn cứ vào những quy định trong thông tư này, đề ra nội quy sử dụng, bảo quản, cấp phát, kiểm tra, thu hồi dụng cụ phòng hộ lao động cụ thể của đơn vị mình.
Hàng năm khi lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch lao động tiền lương, các đơn vị và các sở, ty đồng thời phải lập kế hoạch bảo hộ lao động. Vào đầu quý IV hàng năm phải lập kế hoạch dự trù mua sắm dụng cụ trang bị phòng hộ lao động với cơ quan thương nghiệp địa phương (đối với những hàng có thể mua sắm ở đia phương), hoặc với Cục Cung cấp Tổng cục (đối với những hàng cần mua sắm ở trung ương) để sử dụng cho năm sau.
Cục Cung cấp có trách nhiệm mua sắm các hàng ngoại và hàng ở địa phương không có về dụng cụ trang bị phòng hộ lao động theo dự trù yêu cầu của các đơn vị và các sở, ty.
Khi mua sắm dụng cụ trang bị phòng hộ lao động, các đơn vị và sở, ty phải theo đúng quy cách phẩm chất của từng loại dụng cụ phòng hộ lao động do Nhà nước và Tổng cục đã quy định.
Vụ Tổ chức cán bộ phối hợp với Phòng Kỹ thuật, Ban Y tế Tổng cục nghiên cứu quy cách, phẩm chất các loại dụng cụ trang bị phòng hộ lao động cho thích hợp với từng nghề nghiệp trong ngành, đồng thời hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các đơn vị nghiêm chỉnh chấp hành những quy định của Tổng cục đã ban hành.
V. PHẠM VI ÁP DỤNG
Thông tư này thi hành áp dụng trong toàn ngành bưu điện và truyền thanh bao gồm các xí nghiệp, công trường, trường học, điện đài, bệnh xá và các đơn vị kinh doanh, sự nghiệp nghiên cứu … có cán bộ, công nhân viên làm việc trong những điều kiện nói ở mục I.
Thông tư này thay thế cho Thông tư 21-TT-BH ngày 31-3-1963. Các quy định trước trái với thông tư này đều bãi bỏ.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Kèm theo thông tư này có bản quy định tiêu chuẩn trang bị phòng hộ lao động và thời gian sử dụng cho các loại cán bộ, công nhân viên trong ngành.
Để việc thi hành chế độ này được tốt. Tổng cục yêu cầu các Sở, Ty, các đơn vị tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền giáo dục ý thức sử dụng và đặc biệt đề cao ý thức bảo quản trang bị phòng hộ lao động trong cán bộ, công nhân viên để mọi người tự giác chấp hành nghiêm chỉnh, tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện ở các cơ sở, đồng thời thu thập những kinh nghiệm, những đề xuất bổ sung phản ảnh về Tổng cục để nghiên cứu bổ sung cho chế độ ngày càng được đầy đủ và thích hợp.
KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC BƯU ĐIỆN VÀ TRUYỀN THANH TỔNG CỤC PHÓ Ngô Huy Văn |