|
UBND TỈNH LÀO CAI Số: 05/CT-CT |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Lào Cai, ngày 02 tháng 05 năm 1996 |
CHỈ THỊ CỦA CHỦ TỊCH UBND TỈNH LÀO CAI
Về việc đẩy mạnh thực hiện mục tiêu dân số kế hoạch hóa gia đình năm 1996 – 2000
______________________________
Năm năm qua dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, HDND, UBND và sự tham gia tích cực của các ngành, các cấp, các đoàn thể xã hội trong tỉnh, công tác dân số KHH gia đình đã có những chuyển biến tích cực: Nhận thức về công tác dân số KHH gia đình trong đội ngũ các bộ lãnh đạo, công nhân viên chức ở các ngành, các cấp cũng như trong đại bộ phận nhân dân các dân tộc của tỉnh được nâng lên rõ rệt, phong trào thực hiện KHH gia đình được mở rộng từ thành thị đến nông thôn, từ vùng thấp đến vùng cao, tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại tăng nhanh (từ 13% năm 1991 lên 34% năm 1995) tỷ lệ sinh giảm đáng kể, tỷ lệ sinh con thứ 3 đã hạn chế.
Tuy nhiên, phong trào KHH gia đình phát triển chưa đều, chưa vững chắc (phong trào mới phát triển vẫn ở thị xã, thị trấn, khu vực nông thôn vùng thấp là chủ yếu) sự chỉ đạo của các ngành các cấp chưa được thường xuyên, thiếu kiên quyết, trình độ quản lý tổ chức điều hành chương trình dân số KHH gia đình còn nhiều mặt hạn chế. Để thực hiện mục tiêu dân số KHH gia đình mà nghị quyết HĐND tỉnh khóa 2 kỳ họp thứ 3 đã đề ra, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu:
1. UBND các huyện thị xã cần đánh giá nghiêm túc tình hình thực hiện mục tiêu công tác dân số KHH gia đình ở địa phương, ngành mình trong những năm qua, đề ra biện pháp khắc phục những tồn tại, thiếu sót có kế hoạch cụ thể phấn đấu đạt và vượt mục tiêu mà Nghị quyết HĐND đã đề ra cho năm 1996 và thời kỳ 1996 – 2000. UBND các huyện, thị xã phải thực hiện mục tiêu dân số KHH gia đình vào chương trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương, ngành mình, giải quyết và đề xuất những giải pháp, những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện công tác dân số KHH gia đình đến từng ngành, từng cơ sở. Đặc biệt quan tâm, bố trí đội ngũ cán bộ làm công tác dân số KHH gia đình ,kiện toàn và bố trí người có đủ phẩm chất, trình độ và năng lực chuyên môn để đảm nhiệm công tác này từ huyện thị đến xã phường, thôn bản. Kiên quyết xử lý những cán bộ công chức, viên chức cố tình vi phạm chính sách dân số KHH gia đình, không đề bạt giới thiệu vào chính quyền, đoàn thể các cấp những người vi phạm chính sách dân số KHH gia đình.
2. Ủy ban dân số kế hoạch hóa gia đình: Là cơ quant ham mưu giúp UBND tỉnh quản lý Nhà nước về chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình trong phạm vi toàn tỉnh, có trách nhiệm xây dựng chương trình phát triển dân số cho từng vùng, từng địa phương cho phù hợp, trên cơ sở điều phối các lực lượng xã hội tham gia công tác dân số KHH gia đình, tổ chức tốt mạng lưới công tác dân số, đào tạo cán bộ, công thác truyền thông và đưa dịch vụ kế hoạch hóa gia đình đến tận cơ sở. Nguồn kinh phí do Trung ương cấp phải được phân bổ công khai, giành phần lớn cho cơ sở để thực hiện thông qua việc ký hợp đồng trách nhiệm với các huyện thị để quản lý điều hành các chương trình mục tiêu. Các huyện thị xã có trách nhiệm kiểm tra giám sát nguồn kinh phí được phân bổ, kiên quyết xử lý những hiện tượng tiêu cực làm thất thoát tài sản tiền vốn. Ngoài nguồn kinh phí do Nhà nước cấp cần tổ chức huy động thêm nguồn vốn của các cá nhân đơn vị, những nhà hảo tâm trong việc đóng góp cho chương trình dân số KHH gia đình.
3. Ngành y tế tập trung chỉ đạo và kiện toàn đội ngũ cán bộ thực hiện các biện pháp kỹ thuật dịch vụ sinh đẻ có kế hoạch, có đủ trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ để làm nhiệm vụ này. Tổ chức tốt các chương trình y tế quốc gia trên địa bàn như chương trình tiêm chủng mở rộng, thanh toán bại liệt, loại trừ uốn ván sơ sinh, chương trình bướu cổ để bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em ngày một tốt hơn.
4. Đối với các ngành thành viên, các tổ chức xã hội: phối hợp chặt chẽ trong việc thông tin, tuyên truyền, vận động, giáo dục tới mọi đối tượng bằng nhiều hình thức phù hợp với từng vùng, từng dân tộc, làm cho mọi người tự nguyện chấp nhận quy mô gia đình ít con. Công tác dân số KHHGĐ cần phải được xã hội hóa để mọi người mọi ngành có trách nhiệm tham gia, thực hiện tốt.
Nhằm thực hiện công tác dân số KHH gia đình như mục tiêu mà tỉnh Đảng bộ và nghị quyết HĐND tỉnh đã đề ra trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 1996 – 2000, yêu cầu các ngành, các địa phương có kế hoạch cụ thể cho hoạt động của ngành và địa phương mình, phấn đấu đến năm 2000 toàn tỉnh hạ tỉ lệ phát triển dân số xuống dưới 2%, UBND tỉnh phát động phong trào thi đua giữa các ngành các cấp trong việc gia đình về mục tiêu cụ thể để các ngành, địa phương triển khai tổ chức thực hiện.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
K/T. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Đức Thăng